|
31.12.2004
Trần Trí Dõi
Tiếp xúc văn hoá Tày – Thái và Việt – Mường ở Việt Nam
(qua phân tích một vài từ liên quan đến văn minh lúa nước)
- Khi bàn về vấn đề nguồn gốc tiếng Việt, H. Maspero (1912;118) đã viết rằng: “Tiếng tiền Annam đã sinh ra từ sự hỗn hoà của một phương ngữ Môn – Khmer, một phương ngữ Thái và có thể của cả một ngôn ngữ thứ ba còn chưa biết; rồi sau đó tiếng Annam đã vay mượn một số lượng rất lớn từ Hán. Nhưng cái ngôn ngữ mà ảnh hưởng quyết định đã tạo ra tiếng Annam trong trạng thái hiện đại của nó, theo ý tôi, chắc chắn là một ngôn ngữ Thái, và tôi nghĩ rằng tiếng Annam phải được quy vào họ Thái”. Thế nhưng khẳng định này đã được A. G. Haudricourt (1953) đính chính lại, theo đó tiếng Việt là một ngôn ngữ thuộc họ Nam Á. Vào những năm cuối của thế kỷ XX nhiều nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã tán thành với cách nhìn nhận của ông (Nguyễn Tài Cẩn, 1995).
Khẳng định của H. Maspero tuy đã không được thừa nhận nhưng nó chứng tỏ đã có sự vay mượn lẫn nhau giữa tiếng Việt và ngôn ngữ các dân tộc láng giềng khác, đặc biệt là các ngôn ngữ Tày – Thái, trong suốt quá trình lịch sử của chúng. Sự vay mượn này, do tính chất lâu dài của thời gian và do sự tiếp xúc bền chặt, đã có những ảnh hưởng lẫn nhau rất sâu sắc. Nhiều tác giả khi nghiên cứu văn hoá Việt Nam dưới góc độ ngôn ngữ đã từng khẳng định rằng chính yếu tố Tày – Thái đã góp phần làm thay đổi sâu sắc diện mạo văn hoá của người Việt vào thời tiền sử và sơ sử. Sự thay đổi ấy, theo họ, là việc người Việt tiếp nhận được nền văn hoá lúa nước của cư dân Tày – Thái.
Tiêu biểu cho ý kiến của những nhà ngôn ngữ học có khuynh hướng nói trên và đã được nhiều người, cả nghiên cứu ngôn ngữ lẫn nghiên cứu văn hoá, đồng tình là ý kiến Phạm Ðức Dương. Ông viết: “Một điều hết sức quan trọng cần nhấn mạnh là nếu nhìn vào lớp từ vựng cơ bản ngoài hệ thống từ chỉ các hoạt động tự nhiên, cơ thể và hoạt động của con người, số đếm… thì trong các ngôn ngữ tiền Việt – Mường chỉ có từ chỉ văn hoá săn bắt, hái lượm và hệ thống canh tác nương rẫy, còn lớp từ vựng về văn minh nông nghiệp lúa nước hoàn toàn không có. Trong khi đó hệ thống từ này trong ngôn ngữ Việt – Mường lại có chung một gốc với các ngôn ngữ Tày – Thái ” (1983;129 – 130).
- Trong tình hình nghiên cứu hiện nay hình như vấn đề không hoàn toàn đơn giản như cách nhìn nhận của Phạm Ðức Dương. Hay nói một cách khác, nếu đứng ở bình diện lịch sử ngôn ngữ, mà cụ thể xét theo lịch sử tiếng Việt, điều khẳng định nói trên còn cần phải được chứng minh lại một cách đầy đủ hơn. Bởi vì, dường như trong vốn từ cơ bản của nhóm Việt – Mường, tình hình chưa hoàn toàn ủng hộ ý kiến mà ông nêu ra ở trên.
Chúng tôi nghĩ rằng nếu muốn khẳng định rằng lớp từ vựng về văn minh nông nghiệp lúa nước hoàn toàn không có ở tiếng tiền Việt – Mường thì rõ ràng cần phải giải thích rõ hoặc phải chứng minh một vài hiện tượng sẽ được nêu ra dưới đây.
- Trước hết, đó là câu chuyện từ nà chỉ “nơi canh tác” lúa nước, một từ thể hiện nền văn minh nông nghiệp lúa nước gốc Tày – Thái không có tương ứng trong những tiếng thuộc nhóm ngôn ngữ Việt – Mường.
- Sau đó, chúng ta sẽ phân tích tình trạng một số từ liên quan đến khái niệm “lúa gạo” có trong nhóm Việt – Mường lại gần như khác biệt với một vài ngôn ngữ Tày – Thái ở Việt Nam.
- Nếu cho rằng “ngôn ngữ tiền Việt – Mường chỉ có từ chỉ văn hoá săn bắt, hái lượm và hệ thống canh tác nương rẫy, còn lớp từ vựng về văn minh nông nghiệp lúa nước hoàn toàn không có” thì tại sao chỉ trong một vài thổ ngữ phía Bắc của tiếng Mường mới có từ nà, còn trong tiếng Việt và những thổ ngữ Mường ở phía Nam lại không có từ nà lẽ ra nó phải có. Thay vào đó trong tiếng Việt là từ ruộng vốn có gốc gác từ thời tiền Việt – Mường. Trong một tài liệu khác chúng tôi đã có dịp chỉ ra hiện tượng này [1999;22]. Ở đây chỉ xin nêu lên thêm một vài ví dụ để chứng minh điều đó. Ví dụ:
| Việt: |
ruộng |
| Mường (ở Hoà Bình): |
nà |
| Mường (ở Thanh Hoá): |
rọng |
| Nguồn: |
róng |
| Rục: |
roọng |
| Arem: |
rọng |
| hái (đăm) |
nà |
| Tày : |
nà v.v. |
Trong số những ngôn ngữ Việt Mường rõ ràng chỉ có những thổ ngữ Mường ở Hoà Bình là có sự tương ứng với các ngôn ngữ Tày – Thái láng giềng. Chính vì chỉ có người Mường ở Hoà Bình là vay mượn từ chỉ nơi canh tác lúa nước của Tày – Thái, chúng ta có quyền nghĩ rằng từ chỉ khái niệm “nơi canh tác lúa nước” này đã có từ thời tiền Việt – Mường và nó là dạng thức roọng được lưu giữ trong hầu hết các ngôn ngữ hay các thổ ngữ Việt – Mường trong vùng.
Vấn đề sẽ thêm sáng tỏ khi chúng ta sẽ xem xét một số từ liên quan đến khái niệm “lúa gạo” có trong nhóm Việt – Mường để qua đó thấy sự đa dạng của chúng. Trước hết, trong những tiếng Thái ở Việt Nam, người ta thấy chỉ có duy nhất một từ khảw dùng để chỉ “lúa gạo” tương đương với bốn khái niệm khác nhau trong tiếng Việt là lúa (gặt lúa), thóc (gánh thóc), gạo (giã gạo), cơm (ăn cơm). Nếu như ở tiếng Thái có phân biệt khảw ón “lúa nếp, gạo nếp” với khảw chăm “lúa tẻ, gạo tẻ” thì tiếng Việt lại phân biệt gạo nếp/đếp, lúa nếp/đếp với gạo lòn “gạo tẻ, lúa tẻ“. Hơn nữa, sự phân biệt này có đều đặn trong nhiều ngôn ngữ tiền Việt – Mường hiện nay (ví dụ, Việt: gạo nếp, Arem: ngko? dip, Rục: takố dếp, Sách: tàkố dếp, Pakatan: akó dép, Nguồn: kấw dếp ; Việt: gạo tẻ, Arem: ngko? lon, Rục: takố luònh, Sách: tàkố luồnh, Nguồn: kấw lònh). Do đó chúng ta có quyền cho rằng nó dường như phải có mặt từ thời tiền Việt – Mường. Sự đa dạng về từ chỉ “lúa gạo” ở đây cho thấy tình hình phân biệt lúa nước và lúa khô thể hiện khá rõ ở toàn bộ nhóm Việt – Mường chứ không chỉ ở riêng tiểu nhóm Việt – Mường chung sau này. Trong khi đó cách nói khảw chăm để chỉ gạo tẻ, hình như đã được tiếng Thái vay mượn ở ngôn ngữ láng giềng phương Nam về sau này. Bởi vì, dạng ngữ âm chăm mà nó sử dụng trong ngôn ngữ của mình là một từ có được vốn dùng để phân biệt chiêm – mùa mà thôi.
- Từ những điều vừa nói ở trên, chúng tôi nghĩ rằng tiếng Việt ở giai đoạn tiền Việt – Mường dường như đã có lớp từ vựng về văn minh nông nghiệp lúa nước. Do đó không thể chờ mãi đến thời kỳ Việt – Muờng chung cộng đồng cư dân Việt mới biết đến kỹ thuật canh tác này. Nói một cách khác, cư dân sử dụng tiếng tiền Việt – Mường là một cộng đồng cư dân đã sinh sống và canh tác ở miền đồng bằng chứ không bó hẹp trong canh tác thuần tuý nương rẫy.
Tuy nhiên, khi suy nghĩ như vậy, chúng tôi không hoàn toàn nghĩ rằng cư dân nói tiếng tiền Việt – Mường không có sự tiếp cận với văn minh lúa nước thuộc kiểu của cộng đồng nói tiếng Tày – Thái. Sự tiếp xúc này có thể là rất sâu sắc, tới mức khiến cho H. Maspero và vài người đồng ý với ông coi đó là tương ứng cội nguồn. Nhưng rõ ràng đây chỉ là cơ hội góp phần làm phong phú thêm những gì về văn minh lúa nước mà người Việt đã có từ thời kỳ văn hoá Ðông Sơn, chứ không đơn thuần là sự vay mượn ở những giai đoạn lịch sử về sau này do trước đó người Việt chưa có.
Tài liệu tham khảo chính
- Nguyễn Tài Cẩn (2001), Một số chứng tích về ngôn ngữ, văn tự và văn hoá, Nxb Ðại học quốc gia Hà Nội, 439 tr.
- Trần Trí Dõi (1999), Nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Nxb Ðại học Quốc gia Hà Nội, 301 tr.
- (2001), Ngôn ngữ và sự phát triển văn hoá xã hội, Nxb Văn hoá thông tin, Hà Nội, 266 tr.
- (2004), Lịch sử tiếng Việt (Tập bài giảng), Ðại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Ðại học Quốc gia Hà Nội, 145 tr.
- Phạm Ðức Dương (2002), Từ văn hoá đến văn hoá học, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 279 tr.
- Haudricourt A.G (1953), Vị trí của tiếng Việt trong các ngôn ngữ Nam Á, Ngôn ngữ, số 1-1991, tr. 19 – 22.
- Ferlus M. (1994), Quelques particularités du cuôi cham, une langue Viet – Muong du Nghe An (Vietnam), Neuviemes journées de LAO, ORLAO (CNRS-EHESS), 4 p.
- Maspéro H. (1912), Etude sur la phonétique historique de la langue annamite: Les initiales, BEFEO, XII, N 0 1, pp. 1-127.
- Parkin R. (1991), A Guide to Austroasiatic Speakers and Their Languages, University of Hawaii Press, Honululu, 198 tr.
- Phan Ngọc và Phạm Ðức Dương (1983), Tiếp xúc ngôn ngữ ở Ðông Nam Á, Viện Ðông Nam Á xuất bản, Hà Nội, 352 tr.
- Hà Văn Tấn (1981), Giao lưu văn hoá ở người Việt cổ, trong “Văn hoá học đại cương và cơ sở văn hoá Việt Nam”, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1996, tr. 163 – 190.
Tác giả:
Phó Giáo sư Tiến sĩ Trần Trí Dõi, Chủ nhiệm Khoa Ngôn ngữ học, Trường đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Ðại học Quốc gia Hà Nội, email: doihanh@hotmail.com. Bài viết là báo cáo khoa học của tác giả tại Hội nghị quốc tế nghiên cứu văn hoá Thái – Tày (The international conference on THAI – DAI cultural studies) do Viện Khoa hoc xã hội Vân Nam (Yunnan Academy of Social Sciences) và Đại học Dân tộc Vân Nam (Yunnan University of the Nationalities) cùng tổ chức tại Côn Minh từ 9-11/12/2004
© 2004 talawas
|