trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
9.8.2004
Phan Huyền Thư
Tiếng Việt có phải là chữ Quốc Ngữ không?
 

Tôi đọc bài ông Trần Mạnh Hảo trao đổi lại với ông Phạm Xuân Nguyên: Các nhà phê bình “ở ta là anh mù cầm gậy” trên talawas ngày 2.8.2004. Tôi xin trích lại nguyên văn:

Trong bài Một trăm năm văn học Quốc Ngữ in trên báo “Lao động” số Tết Tân Tỵ đầu năm 2001, Phạm Xuân Nguyên đã làm hết hồn ngành ngôn ngữ học khi ông đưa ra một kết luận ghê người rằng: “Tiếng Việt so với các thứ tiếng khác trong khu vực, đã được Latinh hóa triệt để”. Bằng “khám phá” tùy hứng này, Phạm Xuân Nguyên đã đưa tiếng Việt có từ mấy nghìn năm nay, vốn nằm trong ngữ hệ Môn–Khơme để sát nhập vào ngữ hệ Ấn-Âu của tiếng Latinh. Có lẽ trong chuyện này, Phạm Xuân Nguyên đã không phân biệt được hai khái niệm đơn giản là “tiếng Việt” và “chữ Quốc Ngữ”, nên ông mới dám hô lên chuyện động trời là “Tiếng Việt đã được Latinh hóa triệt để” như thế?

Chỉ sau vài dòng đầu tiên, khi tôi thấy ông Trần Mạnh Hảo có ý “trách móc” ông Phạm Xuân Nguyên không phân biệt được hai khái niệm đơn giản: “Tiếng việt” và “chữ Quốc Ngữ” thì tôi dừng lại không đọc tiếp nữa. Tuy chỉ là một chi tiết rất nhỏ nhưng chúng ta cũng nên biết cho tỏ tường vì chính ông Hảo làm tôi hoang mang nếu không tự trả lời được hai câu hỏi: Tiếng Việt có phải là chữ Quốc Ngữ hay không? Và Tiếng Việt có được La-tinh hoá triệt để hay không?

Khi còn là sinh viên Văn khoa, có học qua đại cương về ngôn ngữ, tôi chỉ dám trình bày lại những gì tôi đọc được và được dạy trong giáo trình Ðại học của Khoa ngôn ngữ-Trường Ðại học Khoa học XH&NV để cùng các bạn suy nghĩ thêm về tiến trình phát triển ngôn ngữ của chúng ta. Nhân đây, tôi có hàm ý giới thiệu cùng bạn đọc cuốn sách đã được tái bản năm 2003: Tìm hiểu Tiếng Việt lịch sử của tác giả Nguyễn Ngọc San, NXB Ðại Học Sư Phạm.

Một số người châu Âu và người Việt, từ khoảng đầu thế kỷ XX đã bắt đầu nghiên cứu về lịch sử hình thành và phát triển của tiếng Việt. Tiếc thay, cho đến tận bây giờ chúng ta vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào được coi là toàn diện về Lịch sử phát triển tiếng Việt. Công trình này chắc vẫn cần phải được tiến hành trong nhiều năm sau nữa, với sự cống hiến, đóng góp của nhiều nhà nghiên cứu, học thuật trong nước và quốc tế về ngôn ngữ.

Trước đây, các học giả phương Tây vẫn thường chia sự hình thành và phát triển của tiếng Việt thành 5 giai đoạn: Proto Việt (trước thế kỷ thứ X)-Việt Tiền cổ: Hình thành tiếng Hán-Việt (Thế kỷ X), Việt Cổ: An Nam dịch ngữ (thế kỷ XV), Việt Trung Ðại: Từ điển Việt ngữ 1651 của A.de Rhodes (thế kỷ XVII) và Việt Hiện Ðại từ thế kỷ XIX đến nay.

Tuy nhiên, với sự tương tác và biến hoá do các tình thế ngôn ngữ của nhiều giai đoạn lịch sử khác nhau, tiến trình phân kỳ của Tiếng Việt hiện nay được tạm thời chia làm sáu giai đoạn có so sánh giữa ngôn ngữ nói và viết.

  1. Giai đoạn Proto Việt: Khoảng từ thế kỷ VIII, IX chúng ta bắt đầu có hai ngôn ngữ chính thống: Tiếng Hán là khẩu ngữ của người cầm quyền và Tiếng Việt, chữ viết (văn tự) là chữ Hán.
  2. Giai đoạn tiếng Việt Tiền cổ: Từ thế kỷ X đến XII, chúng ta có hai ngôn ngữ chính thống: Tiếng Việt là khẩu ngữ của người cầm quyền và văn ngôn Hán, chữ viết là chữ Hán.
  3. Giai đoạn tiếng Việt cổ: Từ thế kỷ XIII đến XVI, chúng ta có hai ngôn ngữ: tiếng Việt và văn ngôn Hán, hai chữ viết (văn tự) chữ Hán và chữ Nôm.
  4. Giai đoạn tiếng Việt Trung đại: Từ thế kỷ XVII đến nửa đầu thế kỷ XIX, chúng ta có hai ngôn ngữ: Tiếng Việt và văn ngôn Hán, đồng thời có đến 3 chữ viết: chữ Hán, chữ Nôm và chữ Quốc Ngữ.
  5. Giai đoạn tiếng Việt Cận đại: Từ giữa thế kỷ XIX đến 1945, chúng ta sử dụng ba ngôn ngữ: tiếng Pháp, tiếng Việt và văn ngôn Hán, có bốn chữ viết: Pháp, Hán, Nôm, Quốc Ngữ.
  6. Giai đoạn tiếng Việt Hiện đại: Từ 1945 đến nay: chúng ta thống nhất dùng một loại ngôn ngữ là tiếng Việt, một loại chữ viết là chữ Quốc Ngữ.

Tiếng Việt được xếp vào nhóm ngôn ngữ Việt Mường, tiểu chi Việt Chứt, nằm trong khối Việt Katu, khu vực phía Ðông ngành Môn Khmer, họ Nam Á. Ngôn ngữ gần nhất, nằm cùng nhóm với tiếng Việt là tiếng Mường. Tiếng Nguồn được coi là tiếng thứ ba gần gũi với nhóm này là tiếng Pọng, tiếng Chứt.

Về nguồn gốc, sự hình thành của tiếng Việt là kết quả của hai bước lưỡng phân. Bước đầu là việc chia ngôn ngữ mẹ: Proto Việt Chứt thành hai nhánh: Việt-Mường ở phía Bắc và Pọng Chứt ở phía Nam.

Mặc dù đã tiếp xúc gián tiếp với văn hoá Hán và tiếng Hán thông qua trung gian, cư dân biên giới, hoà huyết… từ trước công nguyên khá lâu nhưng sự tiếp xúc trực tiếp và kéo dài của hơn 1000 năm đô hộ Bắc thuộc là một ảnh hưởng quá lớn và sâu sắc đến sự phát triển của tiếng Việt. Ðời Tây Hán, Triệu Ðà mang quân sang chinh phạt Âu Lạc năm 178 trước Công nguyên, đặc biệt là việc vùng đất Giao Châu bị sát nhập, bị chia làm các quận, huyện từ năm 111 trước CN thì quá trình tiếp xúc trực tiếp với văn hoá Hán và ngôn ngữ Hán bắt đầu. Có thể coi đây như một bước ngoặt lớn đánh dấu sự tách rời dần một tiểu chi Việt Chứt ra khỏi dòng Môn Khmer là một trong những gốc chính của ngữ hệ thuộc vùng Ðông Nam Á.

Thế kỷ thứ II, Phật giáo du nhập từ Ấn Độ sang Việt Nam ở trung tâm Luy Lâu-Bắc Ninh. Thái Thú Sĩ Nhiếp (người được phong là Nam Giao học tổ) mang chữ Hán sang Việt Nam đào tạo các quan cai trị theo chế độ học tập và thể chế chính trị của Trung Hoa.

Ảnh hưởng của tiếng Hán mạnh ở Bắc hơn Nam, ở đồng bằng sông Hồng hơn miền núi. Ðiều đó dẫn đến bước lưỡng phân thứ hai: Từ khoảng thế kỷ thứ VIII, tiếng Việt chia làm hai ngôn ngữ mới, đối lập nhau: Proto Việt và Proto Mường. Sự lưỡng phân lần thứ hai này có sự cách tân mạnh mẽ làm cho tiếng Việt cách xa Mường. Tuy nhiên, tình hình tác động lẫn nhau giữa ngôn ngữ nói và viết không phải là hiện tượng cô lập. Sự bắt đầu của mỗi tình thế ngôn ngữ đều có dấu ấn rõ nét của một nhân tố chính trị hay xã hội hoặc một biến cố lịch sử nào đó. Chẳng hạn, chuyển từ giai đoạn Proto Việt, thế kỷ VIII (chúng ta vẫn bị đô hộ, việc truyền bá chữ án Hán HhHhHhhHán ở Giao Châu vẫn phải tuân theo mẫu mực của chính quốc) sang giai đoạn tiếng Việt tiền cổ là sự chấm dứt của giai đoạn cai trị nhà Ðường. Nhà họ Khúc (Khúc Thừa Ân, Khúc Thừa Dụ) dấy nghiệp tự chủ năm 906. Ngô Quyền lấy lại độc lập cho nước nhà năm 939. Trong giai đoạn này, hình thành một cách đọc chữ Hán riêng của người Việt, rút gọn số lượng thanh mẫu từ 36 thanh xuống còn khoảng 20, rút gọn số lượng vận bộ từ 61 xuống còn khoảng 30.

Nhưng vào cuối giai đoạn này, do chính sách của nhà Lý chủ trương đi theo mẫu mực của Trung Quốc, coi văn ngôn và chữ Hán là ngôn ngữ và văn tự chính thống của nhà nước nên số lượng từ ngữ Hán Việt tăng lên rất nhiều, làm cho tiếng Việt đã cách xa Mường lại càng cách xa hơn.

Phong trào văn thơ Nôm và sự trưởng thành của chữ Nôm thế kỷ XIII đã thức đầy sự chuyển tiếp của giai đoạn Tiền Việt cổ sang giai đoạn Việt cổ. Giai đoạn này, tiếng Việt có hai đặc điểm mới: Trở thành ngôn ngữ có văn học và văn tự: do nhu cầu sáng tạo văn chương của giới thiền sư, nho sĩ có tinh thần dân tộc và cảm xúc với tiếng mẹ đẻ. Nếu ở các thế kỷ trước, chữ Nôm mới manh nha xuất hiện để ghi tên ngời, tên địa danh… thì khi được gắn với chức năng văn học, chữ Nôm đã được ghi ở những văn bản song ngữ với một lối văn xuôi có nhiều hiện tượng giao thoa về mặt ngữ pháp, từ vựng (Truyền kỳ mạn lục).

Việc bành trướng vào vương quốc Chămpa thế kỷ XV tạo nên một sự kiện ngôn ngữ mới. Chấm dứt giai đoạn tiếng Việt chung, tiếp xúc với một bộ phận người dân tộc thiểu số, bị Việt hoá, một số ngôn ngữ thiểu số bị Việt hoá. Tiếng Việt trở thành ngôn ngữ không thuần nhất đã có hai vùng phương ngữ.

Giai đoạn tiếng Việt Trung đại là sự tiếp xúc với các giáo sĩ Bồ Ðào Nha, Ý, Pháp, Tây Ban Nha. Tiếng Việt đã được tiếp xúc với ngôn ngữ phương Tây, kết quả là sự ra đời của Từ điển Việt Bồ La và sự sáng tạo ra chữ Quốc Ngữ và sự xuất hiện của văn bản văn xuôi thực sự. Thời gian này, các chúa Nguyễn hình thành nhà nước riêng rồi Nam tiến không ngừng, khiến cho địa bàn phát triển tiếng Việt vào tới tận Cà Mau và có những sự tiếp xúc mới với Chămpa, Khmer, Hoa kiều… Cuối giai đoạn này, bên cạnh sự tồn tại của thể thơ Nôm khuyết danh, văn chương bình dân, để đáp ứng nhu cầu của quần chúng, thể thơ của dân tộc ra đời, không tuân theo niêm luật của Trung Quốc nữa (Cung oán ngâm khúc, Chinh phụ ngâm, Kiều, Ca trù…)

Giai đoạn tiếng Việt Cận đại, với sự tiếp xúc sâu đậm về ngôn ngữ, văn học văn hoá Pháp nên tiếng Việt đạt đến một sự hiện đại hoá rõ rệt. Sự cách tân, hiện đại hoá này là kết quả từ hai phía: Một là chế độ thực dân làm cho Hán ngữ lùi dần trước tiếng Pháp, Nôm lùi lại trước chữ Quốc Ngữ, một mặt khác còn ở phía các chí sĩ yêu nước Việt Nam hô hào muốn canh tân để chống ách thực dân. Sự hiện đại hoá được thể hiện trong việc du nhập một khối lượng lớn các từ, ngữ, du nhập các phong cách, thể loại văn chương mới, đặc biệt là việc đổi mới truyền thống cổ điển của thi ca, điển hình là phong trào Thơ Mới.

Ðến giai đoạn tiếng Việt Hiện đại, được đánh dấu một bước nhảy vọt từ sau Cách Mạng Tháng Tám. Lần đầu tiên trong suốt tiến trình lịch sử ngôn ngữ Việt, tiếng Việt trở thành Quốc Ngữ, trở thành ngôn ngữ chính thống, không bị chèn ép bởi một ngôn ngữ nào khác. Tiếng Việt hay còn gọi là Quốc Ngữ được công nhận là cương vị chính thức của dân tộc, của quốc gia, được sử dụng trong mọi lĩnh vực, mọi hoạt động của xã hội chính vì vậy mà chỉ trong một thời gian rất ngắn (50 năm) kho từ vựng, ngữ âm của tiếng Việt đã phong phú hẳn lên với những thuật ngữ khoa học, kỹ thuật, một hệ thống phong cách đang hình thành, đa dạng hoá và đi đến hoà nhập giữa các vùng phương ngữ khác nhau.

Chữ Quốc Ngữ, từ khi ra đời còn được ghi nhận bằng nhiều nhân vật có quyết tâm cải tiến để ngày một hoàn thiện hơn. Trong đó phải kể đến: Aymonier, một người Pháp đã cải tiến chữ Quốc Ngữ năm 1886, Chéon năm 1902, Nordemann năm 1906, DuBois năm 1910, sau đó là Tản Ðà 1920, Nguyễn Văn Vĩnh năm 1928, Nguyễn Triệu Luật năm 1939 và Hồ Chí Minh từ sau năm 1945. Ngay từ khi còn trẻ, là thầy giáo ở Phan Thiết đến trước khi mất, một trong những cuốn sách đầu tay luôn được Hồ Chí Minh để trên bàn làm việc là cuốn: Vấn đề cải tiến chữ Quốc Ngữ. Với chính quyền Cách mạng Việt Nam, các phong trào từ Hội truyền bá Quốc Ngữ đến xoá nạn mù chữ, bình dân học vụ… đều thể hiện một chính sách mang tính chiến lược về nâng cao văn hoá quốc dân.

Nhìn lại ba thế kỷ gần đây nhất, sự hình thành và phát triển của chữ Quốc Ngữ đánh dấu một bước vô cùng quan trọng với tiến trình văn minh của dân tộc. Và, ba sự kiện lớn đã ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của Quốc Ngữ Việt Nam phải nhấn mạnh là: Sự truyền giáo của các giáo sĩ phương Tây bắt đầu từ thế kỷ XVII; Sự áp đặt chế độ thuộc địa của người Pháp trong vòng hơn 60 năm và sự thắng lợi của Cách Mạng Tháng Tám.

Sau cùng tôi thấy: Nếu Tiếng Việt đã từng được ghi lại bằng ký tự Hán-Nôm và La-Tinh thì nhận định của ông Phạm Xuân Nguyên: “Tiếng Việt đã được La-tinh hoá triệt để” khi nói về thành tựu của chữ Quốc Ngữ không có gì sai, và tôi không hiểu sao cả giới ngôn ngữ của Việt Nam phải hết hồn…? Vậy thì “Tiếng Việt có phải là chữ Quốc Ngữ hay không?” Chắc các bạn đã biết sau khi đi ngược lại lịch sử phát triển của Tiếng Việt.

© 2004 talawas

 
© talawas 2026