Tất cả là chuyện thương mại nghệ thuật, thị trường nghệ thụât pha trộn vừa bao cấp vừa tư nhân, vừa từ thiện vừa kiếm lời, vừa tự phát, lũng đoạn vừa leo lắt manh mún và “bị trói tay trói chân”. Sau “cất cánh kinh tế”, mức sống tăng dần thì nhu cầu văn nghệ cũng tăng, và công nghiệp kinh doanh văn hoá văn nghệ, giải trí cũng chiếm tỉ trọng ngày càng cao trong GDP.
Khi kinh tế thị trường chưa phát triển, nông thôn nông nghiệp vẫn là chính thì nghệ thuật chủ yếu theo hợp đồng, đặt hàng của cung đình, giáo đoàn, quý tộc, nhà giàu bên cạnh các hoạt động văn nghệ cộng đồng và buôn bán vặt ở chợ phiên (chèo sân đình, tuồng hát rong, xiếc rong, tranh đồ chơi ở chợ…). Khi nền công nghiệp thủ công, thương mại phát triển thì mọi thứ đều thông qua thị trường, theo các quy luật cung cầu rất phóng túng và bí ẩn của nó. Tú Xương than cho cô bán sách ngồi ngủ gật; Tản Đà điên lên vì văn chương ế ẩm, thơ tuyệt như thơ ông – giời cũng phải khen – mà không bán được. Thị trường lao động tự do hình thành cũng tạo thành lớp văn nghệ sỹ tự do. Tản Đà chỉ viết văn làm văn, thơ để chơi và để bán chứ không phải để tải đạo chung chung khi vừa làm chính trị, làm quan, làm tướng, làm thầy thuốc vừa làm thơ như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến nữa. Các món nghệ thuật gắn với hợp đồng vẫn tồn tại nhưng do quy luật của thị trường chứ không phải do cung đình hay gia tộc ràng buộc cả hình thức lẫn nội dung nữa.
Sự dân chủ hoá, tự do hoá, tư nhân hoá sản xuất và tiêu dùng, sử dụng nghệ thuật dẫn tới hình thành một thị truờng đặc biệt, thị truờng nghệ thuật nói riêng và các sản phẩm tinh thần, trí tuệ nói chung. Những khác biệt này nảy sinh từ đặc điểm riêng của từng loại sản phẩm tinh thần ở “khâu sản xuất và khâu tiêu dùng” mà đặc điểm lớn nhất là tính cá nhân ở cả hai đầu vào – ra! Người làm nhạc, làm thơ, làm phim, kịch, vẽ tranh… chỉ lấy mình làm trung tâm, chỉ biết đến mình bất chấp người mua, họ sáng tác cho mình, thoả mãn mình mà thôi! Nói cách khác họ sáng tác cho mọi người theo cách riêng của mình, yêu mọi người theo cách yêu của mình, họ là những kẻ chuyên quyền độc đoán và cô đơn. Người mua cũng ích kỷ không kém, họ bất chấp tác giả. Dù anh nghèo tới đâu mặc kệ, anh giàu và nổi tiếng tới đâu mặc kệ, anh là thiên tài hay đoạt giải Nobel hay cô là thần đồng cũng mặc kệ. Tôi mua cái tôi thích, thế thôi. Một hoạ sỹ hỏi một khách hàng: “Tôi là…tranh của tôi mà ông trả giá thế à!”. Ông khách trả lời: “Vâng, tranh của quý ông, nhưng tiền của tôi!”. Thế nên cùng là thiên tài mà tranh Picasso bán ầm ầm còn Van Gogh thì cả đời bán có một bức. Có bao nhiêu người bán được tranh và nổi tiếng mà cũng là kẻ bất tài. Lại có bao nhiêu kẻ không bán được cũng là kẻ bất tài. Sách bán chạy không nhất thiết là sách hay, cũng không nhất thiết là dở.
Phim không ai xem không nhất thiết là dở hay là hay. Cái oái oăm là hai thứ tiền, tiếng (của thị trường, dư luận) chẳng liên quan gì tới tài năng, chất lượng thẩm mỹ (của tác phẩm, nghệ sỹ) cả nhưng lại cứ phải dính lưng vào nhau. Và người mua mua cái tình, cái tài, người bán cũng bán cái tài cái tình. Mà những thứ ấy không dùng tiền đo được nhưng lại phải dùng tiền để mua! Giữa hai kẻ “yêu nhau mà không thấy mặt” là kẻ bán người mua này là một cơ chế thương mại nghệ thuật đặc thù, phức tạp. Đó là người tài trợ vì sản xuất thì phải có vốn, mà thoạt đầu không nghệ sỹ nào có vốn cả ngoài cái tài, cái tình mà chưa ai công nhận. Anh tài trợ này lại phải chịu rủi ro lớn nhất vì không biết chi tiền cho cái thành phẩm gì. Hai là có người đồng tâm, đồng tình, đồng chí với nghệ sỹ và cũng như vậy với đám đông. Anh phê bình và truyền thông này giống như CLB kết bạn, phòng tư vấn hôn nhân, hay bác sỹ tâm lý vậy. Muốn thưởng thức nghệ thuật lại cần phải được giáo dục nghệ thuật. Thương mại nghệ thuật cần kết quả của giáo dục nghệ thuật. Các nhà sư phạm nghệ thuật là người làm đường dẫn tới tương lai. Cần marketing – tiếp thị – biết ai sáng tác gì, ở đâu, tình cảnh ra sao? Ai thích loại thứ nghệ thuật nào, ở đâu, có thể chi bao nhiêu tiền cho cái thích ấy? Cần người mua tác phẩm vào, bán tác phẩm ra. Trước khi bán họ thường phải trưng bày, quảng cáo, giới thiệu và đó là hoạt động văn hoá mang đầy đủ các chức năng nhận thức giáo dục thẩm mỹ. Trong cái thị trường đặc thù mà tất cả các bên tham gia đều phải rất cá nhân, độc đáo này, Nhà nước đóng vai trò khác với các ngành thương mại khác.
Không thể có tiêu chuẩn đo lường, kiểm nghiệm, dán tem chất lượng. Không thể hạn chế quota, đánh thuế xuất khẩu, tính tỉ lệ nội địa hoá… Cũng không thể thu mua tạm trữ. Nhà nước phải tạo môi trường, tạo khung cảnh cho thương mại nghệ thuật và là một trong những nhà tài trợ ngân sách cho các mục tiêu, công năng và ích lợi của bộ máy sống bằng thuế của nhân dân. Thực ra anh chỉ quản lý thương mại nghệ thuật, hoạt động của nghệ thuật chứ không quản lý hoạt động ở hai đầu sản xuất và tiêu dùng, sáng tạo và thưởng thức.
Chính tính đặc thù của thương mại nghệ thuật tạo ra kẻ thù số một của nó là nghệ thuật thương mại. Nghệ thuật thương mại có thể định nghĩa là thương mại nghệ thuật. Nó là thứ nghệ thuật cơ hội chủ nghĩa, lợi dụng, lũng đoạn thị trường để làm tiền, không làm nghệ thuật. Nó là những tác phẩm nghệ thuật không cá tính, a dua, rởm, nhái nhưng bán chạy. Cái kỳ là nghệ thuật thương mại chỉ phục vụ thương mại nghệ thuật, đánh rơi mục đích nguyên thuỷ của nghệ thuật là tạo ra cái đẹp nhân bản.
Nhưng thương mại nghệ thuật lại là của các cá nhân tự do nên về lâu dài nó không chấp nhận kẻ nô lệ tự nguyện đó. Mục đích của nghệ thuật thương mại là lợi nhuận, là mua rẻ bán đắt, bán nhiều, lời lớn nhưng chức năng giáo dục, nhận thức, thẩm mỹ nó cũng không thể chối bỏ mục đích của nghệ thuật lại là làm đẹp cuộc sống, làm sướng con người, xây dựng nhân cách và chức năng của nó cũng như trên. Hai thứ dính lưng vào nhau này có cái chung và cái riêng, cái hoà đồng tương hỗ và cái triệt tiêu đối nghịch nhau. Ở nước nào thương mại nghệ thuật rất phức tạp và rất ư thú vị. Ở ta thì thương mại nghệ thuật mới phôi thai (với ngành nào cũng vậy) vẫn còn bao cấp nặng (bao cấp là cực tốt cho nghệ thuật cung đình, tuyên truyền và giáo dục độc đoán). Chưa có điều tiết Nhà nước cho thị trường này. Và nhất là ta chưa có chuyên gia các loại thương mại nghệ thuật.
Ta thiếu hẳn môn Thương mại nghệ thuật và Quản trị nghệ thuật trong đào tạo. Tính chuyên nghiệp thấp làm thương mại nghệ thuật không phát triển được lại là bà đỡ giỏi cho nghệ thuật thương mại và “Kitsch” (chữ quốc tế chỉ hàng rởm, tưởng là nghệ thuật, là có văn hoá, thời thượng, sản phẩm nghệ thuật thương mại hạ cấp mà vẫn hấp dẫn tức thời!)
Đó là chuyện tức thời ở nước ta.
© 2003 talawas