trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
5.10.2008
Trần Hùng Nghĩa
thu0510082
 

Bài viết “Nhỏ không học, lớn đi dạy” của thầy giáo Nguyễn Phi Hùng rất hấp dẫn, lôi cuốn, lúc thắt lúc mở, cả bi lẫn hài. Bài viết cũng trả lời được nhiều câu hỏi của tôi. Nhưng dư vị của bài viết lại là một sự bi quan, bất bình cho tình trạng giáo dục trong nước.

Trong bài, tác giả có nhắc đến một câu nói thuộc loại “lời vàng ý ngọc” của Lê Nin: “Học, học nữa, học mãi.”

Tôi dùng chữ “lời vàng ý ngọc” trong ngoặc kép vì chính mình cũng đã nhiều lần nghe, đọc thấy một số người nhắc đến “lời dạy” này một cách trân trọng, trầm trồ, ngưỡng phục. Họ tạo ra một ấn tượng rằng trước khi được nhà cách mạng vô sản kiêm “nhà giáo dục” Lê Nin vĩ đại này khuyên răn, cả thế giới chỉ gồm toàn một bọn dốt đặc, lười học chảy thây.

Trước năm 1975, tuyệt đại đa số học sinh-sinh viên miền Nam, không nghe nói đến câu nói trên của Lê Nin. Có lẽ họ chỉ quen thuộc với các câu được truyền tụng từ mấy ngàn năm trước như “Tiên học lễ hậu học văn,” hay “Nhân bất học bất tri lý,” hoặc “học nhi bất tư tắc võng” (học như vẹt, không suy nghĩ, thì cũng như không học).

Thế nhưng, ý chí tiến thủ qua học vấn, và trình độ của học sinh-sinh viên miền Nam ba mươi mấy năm trước, chắc chắn không thua kém bây giờ. Mà có lẽ còn cao hơn hẳn, theo như những chuyện tác giả Nguyễn Phi Hùng kể lại hoặc từ nhiều bài viết trên báo chí trong nước, cùng qua quan sát và nhận xét của tôi. Chắc phải có những lý do sâu xa.

Tuy rằng chỉ có chút ít kinh nghiệm của một người được giáo dục nơi đó, tôi xin góp một vài nhận xét để so sánh.

Dù đang trong thời chiến tranh, giáo dục quốc dân được các chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đặt nặng. Ngắn gọn thì: nhất quán về triết lý và đường hướng giáo dục (nhân bản và khai phóng là chủ đạo); chặt chẽ về mặt tổ chức và điều hành; kỹ lưỡng về chất lượng đội ngũ giáo chức; trang bị khá đầy đủ về cơ sở trường ốc, thiết bị; chi trả lương bổng tương xứng cho giáo chức, nhân viên trong ngành. Điểm nổi bật nhất: chính trị bị buộc phải đứng bên ngoài hàng rào sân trường.

Kết quả là chất lượng giáo dục của miền Nam ngày ấy không thua kém mấy nước nào trong vùng. Cụ thể là tuyệt đại đa số sinh viên từ miền Nam đi du học ở các nước phương Tây có trình độ không kém học sinh bản địa, và hầu hết đều thành đạt nơi xứ người.

Cũng nên nhắc lại môt điểm quan trọng khác, căn bản của chế độ giáo dục tại miền Nam là miễn phí, từ bậc Tiểu học cho đến hết Đại học. Không như các phụ huynh hiện nay phải đóng quá nhiều loại tiền trường, chưa kể tiền học thêm. Ba mẹ tôi ngày đó không phải đóng cho tôi một đồng học phí nào cho các trường, từ bậc Tiểu học cho đến hết Đại học. Trừ chỉ một lần phải tốn tiền cho một khóa luyện thi hai tháng hè vào Đại học tôi không phải học thêm bao giờ.

Thời đó, chỉ có một tỉ lệ nhỏ trường tư, học phí cũng không quá sức phụ huynh phải cho con theo học vì thi rớt vào trường công. Nếu so sánh với ngày trước về chi tiêu cho học sinh, có thể nói ngày nay không có trường công.

Với một tình trạng giáo dục: xuống cấp về nhiều mặt; chất lượng của hàng ngũ giáo chức giảm xút; tri thức, khả năng của sinh viên tốt nghiệp quá yếu kém (chứng cớ có ở nhiều nơi, tiêu biểu là sự kiện Intel Vietnam tuyển nhân viên năm rồi nhưng không đạt chỉ tiêu vì năng lực của đại đa số ứng viên quá thấp); số lượng trẻ em phải bỏ học hàng năm lên đến cả hơn trăm ngàn, và đang gia tăng, chắc ai cũng nhận ra rằng hy vọng Việt Nam thành rồng thành hổ sẽ còn là một ước mơ xa vời.

 
© talawas 2026