Lỗ Ðen chính xác là gì, chắc nhiều bạn đọc không biết, và thật tình tôi cũng thế, chỉ có thể mường tượng nó như một cái quầng sáng ‘Yellow Submarine’ [1] , ngốn hết mọi vật chung quanh, và cuối cùng thì ngốn luôn chính nó. Nhưng để hiểu tại sao cái mẩu tin liên quan đến nó đã tác động tôi, thì chỉ cần biết, đây là một trong những vấn đề gây bàn cãi nhiều nhất và thú vị nhất của khoa vật lí thiên thể đương đại. Giờ thì qua báo chí mà người ta biết nhà khoa học nổi tiếng Stephen Hawking đã đưa ra lời thông báo có phần làm xôn xao dư luận. (Ông được công chúng biết đến không chỉ qua những khám phá mà còn qua sức mạnh và lòng quyết tâm lao động bền bỉ của mình, bất chấp một căn bệnh nghiệt ngã, cái có lẽ đã buộc một người nào đó ở cùng trường hợp, đành phải chấp nhận một đời sống thuần sinh dưỡng). Hawking tuyên bố rằng, ở những năm 70 mình đã sai lầm khi đưa ra lí thuyết về Lỗ Ðen và bây giờ ông sẵn sàng ra trước một hội nghị khoa học để đưa ra những sửa đổi cần thiết.
Ðây là do danh tiếng của Hawking, chứ nếu không, đối với các nhà khoa học, thái độ này không có gì khác thường. Song tôi cho rằng sự kiện này chắc sẽ khiến những người trẻ, không thuộc các khuynh hướng toàn thống hoặc các niềm tin khép kín, suy nghĩ về những nguyên tắc của khoa học hiện đại. Có những dư luận thường lên án khoa học, cho rằng nó là nguyên nhân của cái tính cách ngạo mạn quỉ vương, đang dắt nhân loại về một sự hủy diệt có thể xảy ra. Rõ ràng khi bày tỏ như vậy, các dư luận ấy đã lẫn lộn giữa khoa học và công nghệ. Khoa học không chịu trách nhiệm về các loại vũ khí nguyên tử, về lỗ ôzôn, về sự tan băng v.v. Họa chăng, trường hợp chúng ta đã phó thác số phận của chúng ta cho những ngành công nghiệp vô trách nhiệm, thì khoa học vẫn là cái có khả năng báo cho chúng ta biết những hiểm họa sẽ phải đương đầu, có thể trong lúc tận dụng những nguyên tắc của nó. Nhưng trong những lời buộc tội các hệ tư tưởng về sự tiến bộ (hoặc cái gọi là tinh thần khai sáng), người ta thường đồng nhất tinh thần khoa học với tinh thần của một số tư tưởng triết học duy tâm ở thế kỉ 19, theo đó, Lịch Sử luôn luôn tiến về cái tốt hơn và về một sự thực hiện khải hoàn tự thân, về một sự khải hoàn của Tinh Thần hoặc của một động lực phát động nào đó hằng tiến về cái Cứu Cánh Tối Hảo. Thế thì, có bao nhiêu người (ít ra trong thế hệ tôi) còn duy trì niềm hồ nghi khi đọc các bộ sách triết học duy tâm, trong đó lúc nào cũng nẩy ra một nhà tư tưởng đến sau, người thông hiểu hơn, (hoặc inverato/dành được tính xác thực [2] ) hơn cho cái phần nho nhỏ mà người trước đã khám phá (như thể bảo rằng Aristotle thì thông minh hơn Plato). Chính [Giacomo] Leopardi đã tấn công cách nhìn lịch sử theo kiểu này khi ông mỉa mai “những vận mệnh và những sự tiến bộ huy hoàng”.
Trái lại, nhất là ở thời này, để thế chỗ cho nhiều hệ tư tưởng đang bị khủng hoảng, người ta thường ưu ái với cái gọi là tư tưởng Truyền Thống, theo đó, trong dòng diễn biến lịch sử, con người ngày càng tiến đến gần Chân Lí. Thế nhưng, điều ngược lại đang xảy ra: tất cả những gì cần hiểu thì các nền văn minh cổ xưa, giờ đã biến mất, đã hiểu. Chỉ có cách khiêm tốn quay lại với cái kho báu truyền thống bất di bất dịch ấy, thì chúng ta mới có thể hòa hợp được với chính chúng ta và với số phận của chúng ta. Ở những lối diễn giải đậm các tính cách bí hiểm nhất về tư tưởng truyền thống, Chân Lí được vun đắp bởi cái nền văn minh đã mất tăm hơi; bởi nền văn minh Atlantide ẩn dưới đáy biển; bởi chủng người Bắc Cực thuần Arian sinh sống trên các mỏm đất muôn đời màu mỡ và tràn đầy ánh sáng mặt trời, trên cả ngọn nguồn gió bấc; bởi những hiền giả nơi xa xôi hẻo lánh ở xứ Ấn Ðộ; và bởi những niềm hoan lạc không thể giải thích, đã cho phép một triết gia tàng tàng, một tiểu thuyết gia phụ lục, luôn luôn hâm lại cùng các thứ món bí hiểm, nhằm khuây khỏa các đoàn người đang nghỉ hè và những người thực hành các phương pháp tu tập kiệt lực.
Nhưng khoa học hiện đại không tin rằng cái Mới thì lúc nào cũng chính xác. Ngược lại, nó đặt nền tảng trên nguyên tắc ‘có thể sai lầm’ (do Peirce đề xuất, được Popper và nhiều nhà lí thuyết khác sử dụng, rồi các nhà thực hành áp dụng). Theo quan niệm này, khoa học khai triển trong lúc không ngừng tự chỉnh chính nó, không ngừng phản chứng chính các giả thuyết của nó, ‘thử và lầm’, sẵn sàng thừa nhận sai lầm và sẵn sàng chứng tỏ rằng một thử nghiệm trật vuột không có nghĩa là một thất bại, mà có cùng giá trị như một thử nghiệm trót lọt. Chính điều này cho thấy phương thức đang được sử dụng là nhầm, cần phải thay đổi, hoặc thậm chí cần phải bắt đầu lại từ đầu. Thật ra đây là điều mà Accademia del Cimento [3] đã từng khẳng định từ nhiều thế kỉ, đó là khẩu hiệu ‘thử và lại thử’. Ở đây việc ‘lại thử’ không có nghĩa là thử lại lần nữa, điều nên tránh, mà là sự loại ra (để chứng thực lần nữa) cái điều không thể được soi sáng qua suy luận và kinh nghiệm. Như tôi đã đề cập, phương thức tư duy này đối lập với các thứ chủ nghĩa toàn thống, đối lập với các lối diễn giải theo nghĩa đen về những văn bản có tính cách thiêng liêng (những văn bản này lúc nào cũng có thể được đọc lại), và đối lập với tất cả những thái độ giáo điều, chỉ tin vào ý kiến của chính mình. Ðây là một kiểu ‘triết lí’ lành mạnh, theo cái nghĩa thiết thực và xôcrát của nó, điều mà nhà trường nên giảng dạy.
© 2004 talawas
[1]Tên một bản nhạc của ban Beatles (1966), sau được dùng làm tựa cho một cuốn phim hoạt hình (1968), cũng do bộ “Tứ Quái” này đóng (được họa thành các nhân vật hoạt hình). Ðấy là ở những năm 60 đầy biến động: chiến tranh Việt Nam, những cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, các phong trào sinh viên, các vụ ám sát chính trị… Giai thoại cho rằng bản nhạc được viết trong một trạng thái ảo giác, dưới tác động của ma túy. Và cuốn phim, cũng không gì khác, là một sự phối hợp của hàng loạt các tình huống phiêu diêu đa sắc, họa theo phong cách nghệ thuật Pop, kết hợp với một số bài hát của ban nhạc.
[2]Inverato: 1) Dành được tính cụ thể và xác thực (“Triết học phải trở thành chính trị để dành được tính cụ thể và xác thực.” – Antonio Gramsci); 2) Trong triết học Hegel, việc luận đề và phản đề hòa giải để trở nên xác thực trong trạng thái tổng hợp; 3) Tham dự vào chân lí của Thượng Ðế.
[3]Accademia del Cimento, được Leopoldo de Medici và Ferdinando II sáng lập, hoạt động từ 1657 đến 1667. Viện này xét nghiệm, phân giải hàng loạt nguyên lí triết học tự nhiên, cho đến lúc ấy vẫn hoàn toàn dựa trên thẩm quyền của Aristotle; và đề nghị nên theo mô hình của Galileo, cũng như chỉ nên sử dụng những phương thức thử nghiệm nghiêm túc, cặn kẽ.