Thành phố Hồ Chí Minh ngày 07 tháng 06 năm 2005
Kính gởi:
- Ban Văn hóa – Tư tưởng Trung ương
- Ban nghiên cứu của Thủ tướng
- Hội đồng Lý luận Trung ương
- Các nhà khoa học tại các viện, học viện, trường đại học thuộc các ngành khoa học xã hội và nhân văn.
- Cùng tất cả các cá nhân khác có liên quan và quan tâm đến đến các ngành khoa học này.
Kính thưa quý cấp và quý vị,
Nguyên vào ngày 29.03.2005, tôi đến Bưu cục Giao dịch Quốc tế Sài Gòn để nhận bưu phẩm gởi từ Mỹ. Đó là hai cuốn sách, một viết bằng Anh ngữ, một bằng Việt ngữ. Tại đây, tôi không được cho nhận cuốn Dân chủ pháp trị của Nguyễn Hữu Liêm với lý do “vi phạm NĐ88/2002/NĐ-CP”. Tôi đã gởi đơn đề ngày 30.03.2005 đến các cơ quan có liên quan xin xem xét lại quyết định này. Sau đó tôi nhận được công văn trả lời của Sở Văn hóa và Thông tin thành phố Hồ Chí Minh đề ngày 27.04.2005, khẳng định không thay đổi quan điểm. Lại một thư khác của tôi đề ngày 05.05.2005 được gởi đi để trình bày ý kiến của mình về công văn vừa nói. Xin quý cấp và quý vị cảm phiền xem phần phụ lục bên dưới, đó là nguyên văn các văn bản giữa hai bên, để hiểu rõ hơn về sự việc này [1] .
Kính thưa quý cấp và quý vị, có thể sẽ có người cho rằng tôi đang làm một việc không đáng, vì cuốn sách dù gì cũng đã mất, đơn giản là chấp nhận điều đó và rồi sự việc sẽ lẳng lặng trôi qua bình yên. Nhưng, như quý cấp và quý vị đọc ở đơn và thư của tôi, vấn đề mà tôi thấy cần thiết phải đặt ra qua sự việc này vượt ngoài khuôn khổ của một cuốn sách cụ thể. Thật sự, nó liên quan đến cả một vấn đề không nhỏ: một phần của cơ chế quản lý nghiên cứu đối với khoa học lý luận nói riêng và các ngành thuộc khoa học xã hội và nhân văn nói chung, trong bối cảnh dân chủ hóa và giao lưu thông tin thuật, trên nền của những chuyển biến rộng lớn hơn. Thư ngỏ này là sự trình bày mở rộng cho những gì đã được nói đến trong đơn và thư mà tôi đã gởi đến các cơ quan hữu quan quanh sự việc này.
1. Vấn đề giao lưu thông tin học thuật
Mở rộng giao lưu thông tin, giao lưu học thuật là điều không thể tránh khỏi trong bối cảnh chung của việc mở rộng giao lưu văn hóa. Điều này đang dần diễn ra ở mức độ phổ biến và độc lập ở từng người có liên quan, chứ không còn chỉ là những giao lưu được xúc tiến và phân công về mặt nhà nước. “Kế hoạch hóa tập trung” trong giao lưu thông tin thật sự đã lỗi thời, không chỉ do bối cảnh đó mà còn do tính bất khả thi và vô hiệu lực, bất hiệu năng của nó.
Sự giao lưu đó diễn ra giữa người trong nước với nhau và giữa người trong với ngoài nước, giữa người Việt với nhau và giữa người Việt với người nước ngoài. Không tránh khỏi trong bối cảnh này, là việc tiếp xúc với những luồng thông tin học thuật khác nhau, giữa những người có quan niệm học thuật và chính kiến khác nhau, trái với “truyền thống” trước nay trong sinh hoạt lý luận, vốn chỉ quen “giao lưu” đơn chiều và nhanh chóng loại trừ, thậm chí là quy chụp, các quan điểm khác chiều.
Nguồn lực tri thức Việt kiều, trong đó có các mảng thuộc khoa học xã hội và nhân văn, thông qua kênh giao lưu mà có sự chuyển giao đáng kể. Với họ, trong bối cảnh đa chiều đến độ hoàn toàn tự nhiên, trong điều kiện “chung sống” tự do không thể tránh được với các lực lượng chống cộng (như bản thân sự tự do của các lực lượng này), ta không thể đòi hỏi ở họ sự tuân thủ bắt buộc đối với tác phong học thuật đơn chiều và không có những phê bình từ góc nhìn của họ. Điều đáng ghi nhận nơi mỗi người họ không phải là ở chỗ họ đương nhiên không nhất nhất theo những gì như trong nước đã nói, mà là ở tấm lòng hướng về tổ quốc trên tinh thần hòa hợp, mong muốn cùng đóng góp xây dựng một nước Việt Nam đang trên đà đổi mới.
Những năm gần đây, việc mở rộng dần đối với sinh hoạt học thuật đã cho phép có nhiều sách tham khảo về lý luận từ các nhà nghiên cứu nước ngoài được dịch và xuất bản trong nước. Trong số này, dù xuất phát từ Phương Tây hay từ Trung Quốc xã hội chủ nghĩa, nếu muốn trích ra những câu phê phán chủ nghĩa xã hội ngay từ gốc lý luận thì sẽ không thiếu. Nhưng nếu chỉ quyết liệt căn cứ vào những câu trích đó, thì sẽ phải vất bỏ toàn bộ những tác phẩm này, bất chấp những nội dung học thuật và tích cực khác của chúng.
Như vậy, dường như đang có một nghịch cảnh: trong khi các sách có những quan điểm phê phán chủ nghĩa xã hội do người nước ngoài viết thì được tiếp nhận, còn những nhận định thuộc loại như vậy nhưng xuất phát từ nguồn người Việt hải ngoại thì bị cho là chống phá chủ nghĩa xã hội. Và điều đó, vô tình, chính là sự phân biệt đối xử về học thuật nhắm vào “người mình” so với “người ngoài”.
Thiển nghĩ rằng, trong bối cảnh mới, cùng với chủ trương hòa hợp và thu hút nguồn lực người Việt hải ngoại, đấy là nếp nghĩ – và cùng với nó là những quy định trên cơ sở đó – cần được thay đổi [2] .
2. Về việc quản lý thông tin tiếp cận, trong tương quan nghiên cứu khoa học
Đối với nghiên cứu khoa học, đặc biệt là khoa học xã hội và nhân văn, cho rằng một lượng tài liệu, thông tin đã được in ấn nào đó trong nước là đã đủ, là một nhận định không mang tính thuyết phục. Đối với khoa học lý luận, trong tiến trình hiện nay của đất nước, tính không thuyết phục đó càng tăng thêm nhiều lần. Và sẽ không chỉ là không thuyết phục, mà là hoàn toàn không đúng khi áp nó lên một lĩnh vực xem rất mới mẻ (như vấn đề nhà nước pháp quyền) đối với giới nghiên cứu trong nước; hơn nữa, lại còn là một nhận định từ một tác nhân bên ngoài lực lượng trực tiếp nghiên cứu này.
Đối với giới nghiên cứu khoa học, nếu cho là cần thiết giám định tài liệu học thuật mà họ tiếp cận, thì nên có quan niệm và hành xử như thế nào? Và, rốt ráo hơn, việc giám định như vậy đối với họ có cần thiết và khả dĩ không?
Nếu cần đến giám định, thiển nghĩ rằng phương pháp giám định và đưa ra quyết định có lẽ cần khác với kiểu giám định “phổ thông”. Với những người có trình độ chuyên môn sâu, không thể đặt chung trên một mặt bằng duy nhất để cho rằng họ cũng chỉ được đọc các tài liệu “giới thiệu chủ nghĩa Mác” như công chúng phổ thông. Quan niệm và cách thức giám định như thế sẽ phần nào hạn chế và ngăn cản các nhà nghiên cứu tiếp cận đến thông tin học thuật, vốn cần thiết và chính đáng của họ.
Nếu đối xử với những người nghiên cứu đúng với tư cách là người nghiên cứu, thì chính họ, tự mỗi người đã là một tác nhân giám định cho mỗi tài liệu mà họ tiếp cận, tự họ sẽ biết là tiếp nhận những gì và phê phán những gì, tự họ mới là người nhận định chính xác cho mình loại tài liệu nào là cần hay phù hợp với mục đích gì. Nếu những người này chỉ biết ngồi đó và đợi chờ những gì được viết sẵn hay “giám định” sẵn, thì không cần gì phải có chuyện nghiên cứu triết học nữa, không cần gì phải nói đến chuyện phát triển mới cho lý luận về chủ nghĩa xã hội, về nhà nước pháp quyền nữa, vì bản thân triết học, khoa học lý luận nói chung và lý luận trong tình hình hiện nay nói riêng, là (có khả năng và được) nhìn vào những vấn đề “có vấn đề” để nhận ra và giải quyết vấn đề đó về mặt lý luận. Nếu họ cũng chỉ được đọc những gì không “có vấn đề” dành chung cho toàn thể công chúng – nếu như có sự quy thành “khuôn phép” như vậy – thì không cần đến và cũng không tồn tại cái gọi là các nhà nghiên cứu, vì chỉ khi tự mình tiếp cận đến nguồn thông tin đa chiều và sinh động – chứ không phải là chờ sẵn nguồn thông tin đơn chiều và bất biến – khi đó mới có hành động được gọi là “nghiên cứu” và mới sản sinh ra tri thức mới, lý luận mới, vốn là một chức năng của hoạt động nghiên cứu triết học.
Câu hỏi của tôi, rằng “những tài liệu học thuật như vậy, người nghiên cứu có chuyên môn không được phép đọc, vậy còn ai được phép đọc đây?” đã được cơ quan có thẩm quyền gián tiếp trả lời, bằng việc trưng ra Điều 4 Nghị định 88/2002/NĐ-CP, chỉ cho phép các cơ quan cấp bộ liên hệ đến việc nghiên cứu các tài liệu được xem là “cấm nhập khẩu”. Các nhà làm chính sách khi đưa ra quy định này, họ có lý do chính đáng riêng; tuy nhiên, cách hiểu về những tài liệu được cho là cấm nhập khẩu đó và việc vận dụng quy định này, nếu không được chi tiết hóa hơn nữa (chẳng hạn đối với sách, không có danh mục tác giả hay tác phẩm cụ thể, thông tin học thuật hay tư liệu liên quan trực tiếp đến an ninh, bí mật quốc gia, những đối tượng cụ thể được hay không được tiếp cận…), thì sẽ có thể dễ nảy sinh những bất cập.
Trên thực tế, đối với triết học và các ngành lý luận khác, việc chỉ cho phép các cơ quan cấp bộ tiếp cận những loại tài liệu nào đó gần như đồng nghĩa với việc có sự phân chia rõ ràng giữa những nhà lý luận có đặc quyền tiếp cận thông tin với số “đại trà” còn lại không có quyền này. Các nhà lý luận hàng đầu hiện nay trên các lĩnh vực lý luận xã hội và nhân văn thật sự là những bậc thầy khoa học, đã có những đóng góp lớn lao trong sự phát triển sự nghiệp lý luận của nước nhà, đặc biệt là kể từ đổi mới; nếu họ ở trong số có đặc quyền này thì cũng là điều hợp lý. Tuy nhiên, việc giới hạn tiếp cận tư liệu như vậy chưa chắc đã bao gộp được tất cả các nhà lý luận này, vì cơ quan cấp bộ có liên quan đến hoạt động lý luận thì rất ít, còn lại phần nhiều là hệ thống học viện, viện, trung tâm, những nơi dù thuộc trung ương hay cấp quốc gia nhưng không là cấp bộ. Ngoài ra là những người giảng dạy và nghiên cứu, các nhà khoa học lý luận bình thường khác thuộc hệ thống các trường đại học và cao đẳng…
Việc dành đặc quyền tiếp cận mốt số thông tin cho một bộ phận, trong khi đa số các nhà lý luận, nhà nghiên cứu khác cũng chỉ được phép đọc những gì dành cho toàn thể công chúng, cũng chính là thực tế đã loại các nhà khoa học, nhà nghiên cứu (và cả đối với sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh) có tâm huyết, có năng lực tại các viện, trường trên cả nước khỏi việc nghiên cứu những vấn đề nóng bỏng, cấp thiết – mà thường là rất “nhạy cảm” – của đất nước, của lý luận. Đây gần như là sự phân biệt đối xử trong hoạt động học thuật chính ngay bên trong đội ngũ này. Đây cũng chính là sự lãng phí trước một nguồn lực tư duy to lớn còn tiềm tàng trên khắp đất nước. Nhân tài thì trên lĩnh vực nào cũng vậy, lúc nào và ở đâu cũng vậy, thường không nhiều. Nhưng một cơ chế tiếp cận thông tin và nghiên cứu hạn hẹp như vậy, cùng với những yếu tố khác, sẽ góp phần làm mất đi cơ hội cho những tài năng tiềm ẩn thường hiếm hoi trên lĩnh vực này.
3. Quan niệm và thái độ đối với nhà khoa học lý luận
Có tình hình như trên, tôi xin mạo muội nghĩ rằng chính là do lối tư duy cũ vẫn chưa gột bỏ được đối với đội ngũ lý luận. Cho đến hiện nay, quan niệm về họ như những “chiến sĩ tư tưởng” – được hiểu một cách cứng nhắc – vẫn hầu như chưa có thay đổi trong thực tế. Điều đó, cùng với các điều kiện xã hội khác cũng như năng lực bản thân, khiến họ tồn tại cốt yếu như một lực lượng thuần tuý truyền đạt quan điểm chính trị và lý luận có sẵn, được “rót” từ trên xuống như những quy định có tính pháp lệnh; trong khi đáng ra họ trước hết, và chủ yếu, cần phải là một lực lượng học thuật.
Triết học và lý luận – không thể chậm trễ hơn nữa – cần có những chuyển mình mạnh mẽ góp phần vào và hòa cùng sự chuyển mình của xã hội Việt Nam. Trong bối cảnh hội nhập, triết học và lý luận không thể cứ mãi nằm ngoài toàn bộ tiến trình hội nhập chung của đất nước. Nay thật sự đã đến lúc cần loại bỏ hình mẫu của một người nghiên cứu thụ động, thuần túy làm công việc truyền giảng lại, diễn giải lại, có gì sẵn thì dùng nấy, thiếu sự xông xáo và dũng cảm học thuật, “khép nép” và luôn tự kiểm soát mình và kiểm soát người trước sự “chệch choạc” nào đó, “giao lưu” khép kín và thiếu vắng sự phê phán đa chiều…
Thay cho hình mẫu của một nhà nghiên cứu, một nhà lý luận đã hoàn toàn lạc hậu của thời kế hoạch hóa tập trung về nghiên cứu và trình bày lý luận, cần khuyến khích và tạo điều kiện cho một hình mẫu mới: những nhà nghiên cứu, nhà lý luận năng động và chủ động, tự tin và mạnh dạn xông vào những lĩnh vực, đề tài mới; tự mình biết tiếp cận thông tin, tự mình có những liên hệ học thuật, tự chủ tạo dựng các quan hệ đối tác học thuật [3] ; sử dụng được những phương tiện phục vụ cho việc nghiên cứu không thể thiếu được trong đời sống hiện đại; tiếp nhận và xử lý thông tin nhanh chóng, nhạy bén trước các vấn đề của lý luận và thực tiễn, vốn sinh động và chuyển biến nhanh chóng trong thời đại ngày nay; đồng thời có khả năng giải quyết về mặt lý luận các vấn đề đặt ra đó một cách hiện thực và phi giáo điều…
Xây dựng một hình mẫu các nhà nghiên cứu và lý luận mới như thế đồng thời cũng có nghĩa là đã căn bản thay đổi quan niệm và thái độ hành xử đối với lực lượng này. Nhưng đồng thời bản thân đội ngũ lý luận, từng cá nhân trong đó cũng cần phải tự xác định thái độ và quan niệm đối với chính mình. Một khi chính sâu trong thâm tâm vẫn tự “tâm niệm”, tự hiểu với nhau về một vai trò truyền giảng thuần túy, vẫn chỉ “yên phận” nói, viết lại – dưới hình thức khác đi, diễn đạt khác đi – những gì được nói, viết ra từ bộ phận lý luận cấp cao, từ văn kiện và lãnh đạo, có thay đổi hay có cái mới thì cũng chỉ “yên phận” đợi chờ từ trên cao ban xuống…, thì khi đó, dù có sự thay đổi trong quan niệm và thái độ đối với họ, vẫn sẽ không có được sự thay đổi cần thiết và cấp bách này trên thực tế.
Được biết, trong đời sống học thuật của nhiều xã hội, luôn tồn tại một thành phần học giả trực tiếp đóng góp, tác động theo những hướng khác nhau vào việc hoạch định chính sách của quốc gia trên mọi bình diện, vào tình hình trong nước và quốc tế. Họ gắn liền với hiện thực và dấn thân vào đó. Họ nhận định, khái quát, phê phán hay hậu thuẫn tức thì trước các vấn đề của đời sống thực tế và đời sống hàn lâm, trước các sự kiện, hiện tượng và biến động của tình hình xã hội trong và ngoài nước… Họ chủ động tạo mọi liên hệ, liên kết học thuật trên nhiều phạm vi, vượt khỏi khuôn khổ “nội bộ” với nhau…
Trong khi đó, ở nước ta, những vấn đề nóng bỏng của cuộc sống đặt ra ngồn ngộn hơn bao giờ hết, nhưng các nhà lý luận – ít ra là đại đa số, thường là ở bên dưới – thì vẫn mãi mê với những gì đã nói từ đã rất nhiều (chục) năm nay, vẫn loay hoay quanh những bản chất cố định nào đó, răm rắp như nhau trong nhận thức và kiến giải mà không đem lại nhiều giá trị ứng dụng thực tế như đòi hỏi của cuộc sống. Những vấn đề cấp thiết từ chuyển biến của một thời kỳ đầy những biến động nhanh chóng và bất ngờ cũng nằm ngoài tầm ngắm của giới học thuật Việt Nam [4] . Có lẽ là không ngoa khi cho rằng giới lý luận Việt Nam tách rời hoàn toàn với phần còn lại của thế giới, cả trong sinh hoạt học thuật lẫn quan hệ cộng đồng [5] … Những ai nhìn vào bối cảnh đó mà không tự vấn và nhức nhối về vai trò và hoạt động lý luận của riêng cá nhân mình cũng như của toàn bộ đội ngũ, thì thật là một sự vô cảm học thuật.
4. “Quy chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học”
Mẩu tin trên Tuổi Trẻ ngày 13.12.2004 với tựa đề “Sẽ ban hành qui chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học” khiến tôi đặc biệt chú ý và vui mừng. Theo đó, quy chế này sẽ nhằm phát huy tự do sáng tạo để khai thác mọi tiềm năng nghiên cứu lý luận; nhằm bảo vệ quyền tự do, dân chủ của cá nhân và tập thể nhà khoa học. Tin đưa rằng ý kiến của các nhà khoa học là dự thảo quy chế vẫn còn những điểm “trói”, “có phần dè dặt so với xu thế và không khí đổi mới chung của đất nước”. Tuy nhiên, dù không được tiếp xúc với dự thảo này, theo tôi, nó đã có những thay đổi rất đáng kể trong quan niệm và thái độ đối với các nhà nghiên cứu, nhà khoa học lý luận.
Những điều mà hoàn toàn trước nay chưa có trong sinh hoạt học thuật, sinh hoạt lý luận ở Việt Nam đã được dự thảo này nêu ra, như có những quy định về trường phái khoa học, quyền của nhà khoa học được trả lời công khai những ý kiến phê bình đối với ý kiến, công trình của mình trên chính cơ quan ngôn luận đã làm việc đó, quy định về ý kiến và quan điểm khác với quan điểm của Đảng, Nhà nước… Những điều này cho thấy đã có sự thừa nhận sự tồn tại các quan điểm lý luận đa chiều và cho phép phổ biến công khai chúng; cho thấy quan niệm về chủ thể lý luận như những con người sáng tạo, độc lập và tự do, lý luận của họ có địa vị xã hội bình đẳng như địa vị của lý luận của Đảng hay của hệ thống quan điểm chính thống, và họ không còn là những công cụ truyền giảng thuần túy; cho thấy việc không đặt đặc quyền lý luận duy chỉ vào đội ngũ lý luận cao cấp…
Có địa vị lý luận bình đẳng, tự do và dân chủ trong việc đưa ra quan điểm và xây dựng công trình khoa học không thể thiếu quyền tự do và dân chủ trong tiếp cận tài liệu và việc tự chủ có những liên hệ đối tác học thuật, mà việc “giám định” và ách giữ tài liệu nghiên cứu của người nghiên cứu là một biểu hiện không thích hợp. Mong rằng trong khi dự thảo tiếp tục được hoàn thiện, vấn đề này sẽ được lưu tâm đến.
Cũng xin được bày tỏ ý kiến rằng phải chăng tiến trình công bố chính thức một quy chế như vậy đã được thực hiện quá chậm? Khi lên tin trên mặt báo, ít nhất nó đã định hình về căn bản, nhưng đã nửa năm trôi qua từ đó, vẫn chưa biết khi nào nó sẽ chuyển từ câu chữ trên giấy để đi vào đời sống học thuật. Những diễn tiến mọi mặt trong và ngoài nước ngày càng diễn ra nhanh chóng, mãnh liệt và mang những tầm sâu khác nhau, thách thức nhận thức triết học và lý luận về chúng. Hiện thực không đợi chờ bất kỳ một quy chế nào, mọi sự chậm trễ chỉ khiến sinh hoạt học thuật càng xa rời thêm cuộc sống, càng mất đi vai trò mà có lẽ hơn lúc nào hết nền lý luận Việt Nam cần phải có được trước những thôi thúc cấp bách của thực tiễn.
Bản thân tôi có một công trình đang trông đợi một quy chế như vậy. Công trình này đã tiếp cận đến một số nhà lãnh đạo và các cơ quan khoa học, cơ quan tư vấn cấp cao. Với tư cách một người nghiên cứu độc lập, không thuộc một tổ chức chính trị hay cơ quan nào, tôi không bị ràng buộc bởi những quy định về việc trình bày quan điểm “khác với quan điểm của tổ chức”. Tuy nhiên, với thiện chí và sự chân thành, tôi đã hoàn toàn không phổ biến công trình này đến bất kỳ ai khác ngoài những nơi vừa nói và trước đó là các thành viên của một hội đồng, để tránh bị hiểu lầm là “phát tán” những quan điểm không chính thống…
Nhưng có lẽ sự e ngại đó là không thích hợp, và chính tôi sẽ là người có lỗi khi tiếp tục giữ công trình này trong ngăn bàn. Khi mà công cuộc cải cách toàn diện của đất nước đang ngày một thúc bách, tiếng gọi của lương tâm học thuật chính là tự vượt qua rào cản của sự e sợ nơi bản thân mỗi con người, vượt qua rào cản của những quy định hạn hẹp và sự trì trệ trong tác phong tư duy và làm việc chung, để thực thi trách nhiệm không thể tránh khỏi của người nghiên cứu, nhà lý luận, là đưa những kiến giải cần thiết đến với các nhà chính trị, đến cộng đồng học thuật và toàn thể công chúng.
Kính thưa quý cấp và quý vị,
Đó là suy nghĩ đã đưa tôi đến quyết định rằng vào dịp này sẽ công bố công trình vừa được nói đến, cùng với hai bài tôi viết đã lâu, một thời gian ngắn ngay khi vừa tốt nghiệp đại học (một trong số đó liên hệ trực tiếp đến vấn đề được đề cập trong thư ngỏ này), với tư cách những tài liệu nghiên cứu nhằm đóng góp ý kiến với Đại hội X sắp tới. Mong rằng qua đó, với tư cách những ví dụ điển hình, quý cấp và quý vị sẽ suy nghĩ thêm về những gì đã được đề cập trong thư này.
Xin chân thành cám ơn quý cấp và quý vị đã dành thời gian quý báu của mình quan tâm đến thư ngỏ. Xin được có lời kính chúc sức khỏe, hạnh phúc và thắng lợi.
Kính thư
Lê Tuấn Huy (đã ký)
© 2005 talawas
Phụ lục 1: Đơn ngày 30.03.2005 của Lê Tuấn Huy
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Đơn xin xem xét lại việc giám định sách
Kính gởi:
- Thành uỷ tp. Hồ Chí Minh, Ban Văn hóa Tư tưởng
- Sở Văn hóa Thông tin tp. Hồ Chí Minh
- Cục Hải quan tp. Hồ Chí Minh
Về việc: Xem xét lại giám định và quyết định tạm giữ sách chuyên môn
Tôi tên là: Lê Tuấn Huy
Chứng minh nhân dân số: …
cấp ngày: …, tại TP. Hồ Chí Minh
Hiện cư ngụ tại: …
Nguyên vào ngày 29.03.2005, tôi đến Bưu cục Giao dịch Quốc tế Sài Gòn để nhận bưu phẩm gởi từ Mỹ. Đó là hai cuốn sách, một viết bằng Anh ngữ, một bằng Việt ngữ. Qua ý kiến của Phòng kiểm tra Văn hóa phẩm xuất nhập khẩu thuộc Sở Văn hóa Thông tin TP. HCM, mà Hải quan bưu điện đã trưng cầu giám định, tôi chỉ nhận được cuốn Anh ngữ. Lý do cho từng cuốn:
- Được nhập khẩu:
- “sách giới thiệu chủ nghĩa Mác.
- Không vi phạm NĐ88/2002/NĐ-CP”.
- Không được nhập:
- “sách có nội dung chính trị, không được phép lưu hành tại Việt Nam (Dân chủ pháp trị)
- Vi phạm NĐ88/2002/NĐ-CP.
–
- BNTG số 0000648 ngày 01/03/2005”.
Trước hết, như đã ghi ý kiến của mình trong biên bản do hải quan lập, tôi không xem ở đây có bất cứ vi phạm gì. Tôi không được thấy “mặt mũi” cuốn sách bị giữ, nhưng người bạn đã gởi nó báo rằng đó là cuốn Dân chủ pháp trị của Nguyễn Hữu Liêm (trong ý kiến tại biên bản tôi đã ghi đó là cuốn Law, Legislation and Liberty của Hayek, do nhầm với lần gửi sau, chưa đến). Nó không thể có nội dung chống chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nó không phải là sách chính trị, mà là sách lý luận pháp quyền. Cuốn sách nhiều chỗ ca ngợi cuộc cách mạng của dân tộc ta và triển vọng hướng đến nền dân chủ pháp trị. Nguyễn Hữu Liêm là một luật sư tại Mỹ, mà một số người Việt tại đó thậm chí xem là trong số “nằm vùng của cộng sản Việt Nam”. Thực tế, không hẳn nội dung của cuốn sách sẽ đem lại cho tôi thông tin học thuật “đột phá”, nhưng đó là một nguồn tiêu biểu để hiểu về cách nhìn của kiều bào đối với triển vọng của nhà nước pháp quyền Việt Nam.
Kế đến, tôi xin được phép có những ý kiến liên quan đến sự việc này:
- Vấn đề về năng lực của bộ phận giám định đối với các tài liệu có chuyên môn cao và sâu. Chắc chắn rằng những người giữ trách nhiệm này cũng có trình độ và chuyên môn nhất định. Tuy nhiên, với các tài liệu có tính học thuật chuyên biệt, tôi e rằng điều đó chưa đủ để có thể đưa ra những ý kiến “sinh sát” như vậy. Trong trường hợp này, tôi xin được mạn phép hỏi bộ phận giám định có hiểu biết về nhân thân tác giả cuốn sách và nội dung chuyên sâu của nó không, mà đã vội có ý kiến như vậy?
- Phương pháp giám định như thế đối với tài liệu chuyên môn sâu, sẽ là việc hạn chế và ngăn cản các nhà nghiên cứu chuyên môn tiếp cận đến thông tin học thuật.
Bản thân tôi là người đang chuẩn bị bảo vệ luận án Tiến sĩ triết học, và chuyên sâu nghiên cứu triết học chính trị, trong đó tập trung cho vấn đề nhà nước pháp quyền.
Các nhà nghiên cứu, tự mỗi người đã là một tác nhân giám định cho mỗi tài liệu mà họ tiếp cận, tự biết là tiếp nhận và phê phán những gì. Nếu những người này chỉ biết ngồi đó và đợi chờ những gì được viết sẵn hay “giám định” sẵn, thì không cần gì phải có chuyện nghiên cứu triết học nữa, không cần gì phải nói đến chuyện phát triển mới cho lý luận về chủ nghĩa xã hội, về nhà nước pháp quyền nữa. Trong lúc việc nghiên cứu lý luận luôn bị nhận định là không theo kịp sự phát triển của xã hội, rằng các giới khoa học hiện ít chú tâm nghiên cứu; thì với trường hợp của tôi – luôn nhiệt tình tự tìm tòi nghiên cứu, chủ động tìm các nguồn tài liệu học thuật phục vụ cho việc đó, lại gặp phải sự ách tắt này.
Bộ phận giám định cuốn sách, do gánh nặng trách nhiệm, để đơn giản, đã buộc phải hết sức giản đơn và rập khuôn là “có nội dung chính trị” thì “không được phép nhập khẩu” (cơ sở để hải quan “tạm giữ” sách), trong khi cũng ghi rõ rệt cuốn sách là về “dân chủ pháp trị”. Điều này vô hình chung khiến có thể hiểu rằng chúng ta quy định không cho những nội dung học thuật về nhà nước pháp quyền đến với người đọc hay giới nghiên cứu.
Xin được mạn phép hỏi tiếp rằng những tài liệu học thuật như vậy, người nghiên cứu có chuyên môn không được phép đọc, vậy còn ai được phép đọc đây?
Ngoài ra, việc tiếp cận, trao đổi thông tin, công bố bản dịch của các tư tưởng gia thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trên thế giới đã là việc hoàn toàn bình thường trong sinh hoạt tinh thần tại nước ta những năm gần đây. Việc ách lại tài liệu học thuật bằng những nhận định cứng nhắc như vừa trình bày mới chính là điều bất bình thường. Và nếu cách hành xử này cứ thế nhân rộng ra, sẽ dần góp phần đưa hoạt động lý luận và sinh hoạt tinh thần trong nước đi đến chỗ ách tắt, nghèo nàn như trước kia.
- Thiển nghĩ rằng với những đối tượng khác nhau, phương pháp giám định và đưa ra quyết định nên khác nhau. Tài liệu đến với người có trình độ chuyên môn sâu không thể đặt chung mặt bằng với kiểu giám định và quyết định đơn giản, thiếu chuyên sâu, hay quan niệm rằng họ cũng chỉ được đọc các tài liệu “giới thiệu chủ nghĩa Mác” như công chúng “phổ thông”.
Với những trình bày trên, bằng sự công tâm và ủng hộ cho nhiệt tình của một người nghiên cứu, tôi kính mong quý cấp nhanh chóng có ý kiến, giúp giải tỏa nhận định giám định và quyết định không thích hợp đối với cuốn sách hiện đang bị giữ lại. Và tôi cũng hết sức mong mỏi có một cơ chế giám định hợp lý để người nghiên cứu được bảo đảm việc tiếp cận thông tin học thuật hết sức cần thiết và hoàn toàn chính đáng của mình.
Xin chân thành cám ơn và trân trọng kính chào.
Thành phố Hồ Chí Minh ngày 30.03.2005
Người làm đơn
Lê Tuấn Huy (đã ký)
Phụ lục 2: Công văn 1421/CV-SVHTT ngày 27.04.2005 của Sở Văn hóa Thông tin



Phụ lục 3: Thư ngày 05.05.2005 của Lê Tuấn Huy
Người gởi:
Kính gởi:
- Thành uỷ tp. Hồ Chí Minh, Ban Văn hóa Tư tưởng
- Sở Văn hóa Thông tin tp. Hồ Chí Minh
- Cục Hải quan tp. Hồ Chí Minh
V/v: Thư trình bày ý kiến về công văn trả lời đơn số 1421/CV-SVHTT
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 05 năm 2005
Kính thưa quý cấp,
Trước hết, xin được cám ơn vì đã xem xét đơn đề ngày 30/03/2005 của tôi về cuốn sách Dân chủ pháp trị. Tôi đã nhận được công văn trả lời số 1421/CV-SVHTT, ngày 27/04/2005, do Phó giám đốc Sở Văn hóa và Thông tin (Sở VHTT) TP. HCM, Ông Nguyễn Thành Tấn, ký. Qua đó, quan điểm của nơi có quyền quyết định đã rõ, và tôi phải chấp nhận quyết định đó. Tuy nhiên, trên tinh thần xây dựng, tôi thấy mình cần có vài ý kiến làm rõ thêm vấn đề.
Thứ nhất, kết quả trả lời của Sở VHTT và cách thức mà nơi này thực hiện để đưa ra kết quả như vậy, là điều tôi đã chuẩn bị đón nhận.
Những trích dẫn từ cuốn sách, mà công văn này trưng ra, quả là có lời lẽ không thuận với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Tất nhiên tôi không đồng tình với những nhận định như thế của người viết, thế nhưng cũng xin đưa thêm một ít thông tin về tác giả, dù điều này có lẽ thừa vì không liên quan trực tiếp đến cuốn sách cũng như đến quyết định của Sở VHTT:
Nguyễn Hữu Liêm là một trí thức bị cho là “thân cộng” trên đất Mỹ. Ông thường đóng góp bài vào các hội thảo có tính xây dựng và hòa hợp do nhóm “Viet-Studies” tổ chức. Trong một tham luận tại hội thảo ở Aix-en-Provence, Pháp, tháng 07/2001, Nguyễn Hữu Liêm kết luận rằng: “Với Nhiều Hi Vọng: Những gì tôi nói lên đây phát xuất từ một tấm lòng với quê cha, với dân tộc – và tôi cũng ý thức rõ ràng vị thế của những con dân nước Việt ở hải ngoại như chúng tôi. Tôi mới về Việt Nam suốt một tháng qua (6/01) và đã nhìn ra được nhiều chỉ dấu cho thấy là Việt Nam đang tồn tại như là một quốc gia – dù với nhiều khó khăn và thử thách – vẫn đang vật lộn với chính mình và hoàn cảnh khách quan để vươn lên. Tương lai Việt Nam không đáng để bi quan như một số trí thức hải ngoại đang quan niệm. Tôi nghĩ và tin tưởng rằng các cấp lãnh đạo Việt Nam hiện đang thành thực theo đuổi một số những cải tổ cần thiết và khẩn cấp cho nhu cầu pháp chế quốc gia. Chúng ta hãy hi vọng và cầu chúc cho Việt Nam” [6] .
Tại hội thảo ở Munich, Đức, tháng 07/2003, Nguyễn Hữu Liêm đã có nhận định vinh danh như sau: “Cuộc chiến thắng 1975 là một chiến thắng lịch sử của dân tộc, và đứng trên tình cảm dân tộc và quốc gia, người Việt có quyền hãnh diện” [7] .
Nếu chúng ta phủ nhận hoàn toàn thiện ý của một trí thức bị những người Việt chống cộng ở hải ngoại “đánh” không thương tiếc vì “nằm vùng cộng sản”, thì có lẽ đó là một điều có phần không hợp lý và hợp tình. Và theo tôi, đòi hỏi rằng các tác giả Việt kiều chỉ nói và viết nhất nhất theo những gì chúng ta nói và viết trong nước, thì trong bối cảnh bị “đánh” như vậy của họ, là điều hoàn toàn bất khả thi; đồng thời từ đó mà cũng không thể có bất kỳ tư liệu, ý kiến nào của họ có thể được nghe và đọc, dù có thể họ rất nhiệt tình với sự nghiệp dân giàu nước mạnh của Việt Nam, và dù trong những ý kiến đó sẽ có những điều đáng lưu tâm. Trên thực tế, các sách tham khảo về lý luận từ các nhà nghiên cứu nước ngoài được dịch và xuất bản trong nước, của Phương Tây hay của Trung Quốc xã hội chủ nghĩa, nếu muốn trích ra những câu phê phán chủ nghĩa xã hội ngay từ gốc lý luận thì sẽ không thiếu. Nhưng nếu quyết liệt căn cứ vào những câu trích đó, thì sẽ phải vất bỏ toàn bộ những tác phẩm này, bất chấp những nội dung học thuật và tích cực khác của chúng.
Thứ hai, cuốn sách của Nguyễn Hữu Liêm không phải là tài liệu tôi “nhất thiết phải tra cứu” để phục vụ cho Luận án Tiến sĩ – theo như diễn đạt trong công văn đang được đề cập, vốn có phần hiều nhầm ý của tôi. Như đã nói trong đơn lần trước, không hẳn nội dung của cuốn sách sẽ đem lại cho tôi thông tin học thuật “đột phá”, nhưng đó là một nguồn tiêu biểu để hiểu về cách nhìn của kiều bào đối với triển vọng của nhà nước pháp quyền Việt Nam. Cuốn sách này, mà tôi được một người bạn tặng, xuất phát từ nhã ý dành cho tôi một cái nhìn chung về tư duy lý luận pháp quyền tiêu biểu của người Việt tại Mỹ. Trân trọng tấm lòng của bạn bè, trân trọng những ý kiến muốn đóng góp trên tinh thần xây dựng vào việc xây dựng một xã hội Việt Nam đổi mới, đó là lý do tôi đã đưa đơn đến quý cấp – dù biết rằng cơ may không thành là rất cao – để mong nhận lại được cuốn sách, chứ không phải vì tôi nhất thiết cần có nó.
Hơn nữa, tôi thiển nghĩ rằng chính người nghiên cứu mới là người nhận định chính xác cho mình loại tài liệu nào là cần, hay phù hợp với mục đích gì.
Thứ ba, với việc trưng ra Khoản 1 và 2 của Điều 4 Nghị định 88/2002/NĐ-CP, chỉ cho phép các cơ quan cấp bộ liên hệ đến việc nghiên cứu các tài liệu được xem là “cấm nhập khẩu”, và được Sở VHTT “nhắc nhở” về “phạm vi nghiên cứu cá nhân” của tôi, tôi thừa nhận rằng mình cần xác định lại tính khả thi hay không về vị trí và thái độ năng động, chủ động, xuất phát từ nhiệt tâm của người nghiên cứu độc lập.
Thứ tư, chính do lượng định kết quả không khả quan khi gởi đơn, trong đơn trước thực tế đã tôi chủ yếu dành cho việc trình bày các ý kiến có liên quan về một cơ chế giám định cho phép các nhà nghiên cứu tiếp cận đến các nguồn học thuật khác nhau. Đó mới chính là mong mỏi của tôi chứ không phải là chỉ nhắm cụ thể vào cuốn sách này. Bản thân tôi, một mặt thừa nhận Sở VHTT đã làm việc theo chức trách được quy định của mình; nhưng mặt khác, một lần nữa rất mong được quý cấp nghiên cứu những vấn đề được nêu tại đơn trước, vì sự phát triển của sinh hoạt học thuật nước nhà.
Chính vì lẽ đó tôi xin được phép sẽ công khai trường hợp này, cùng với nguyên văn văn bản của cả hai bên, nhằm nhận được sự quan tâm của các cấp thẩm quyền và dư luận đối với vấn đề, ngõ hầu có được một giải pháp hợp lý. Được biết Đảng và Nhà nước ta đang chuẩn bị cho một cơ chế dân chủ trong nghiên cứu khoa học, tôi mong rằng các vấn đề liên quan đến tài liệu học thuật cũng sẽ được lưu tâm.
Trân trọng kính chào.
Kính thư
Lê Tuấn Huy (đã ký)
Phụ lục 4: Công văn số 1609/HQTP-XL của Cục Hải quan tp. Hồ Chí Minh

[1]Thư ngỏ này được viết trước khi nhận được công văn (hay thư) số 1609/HQTP/XL, đề ngày 02.06.2005 do Phó cục trưởng Cục hải quan TP. Hồ Chí Minh, ông Lê Kiên Trung ký (thật ra công văn này gần như chỉ có ý nghĩa hình thức, nhưng tôi cũng xin được kèm theo ở phần phụ lục bên dưới). Ở đây, như đã không “phàn nàn” gì về việc làm từ phía Hải quan, một lần nữa tôi xin khẳng định cơ quan này đã thực hiện theo nhiệm vụ được quy định của mình. Tuy nhiên, trong công văn vừa đề cập có nói đến “Quyết định xử phạt số 272/QĐXP-HC9 ngày 06.4.2005 và Quyết định Giải quyết khiếu nại số 08/QĐ-HC26 ngày 19.5.2005” mà trên thực tế tôi không được biết đến.
[2]Còn nếu không được vậy, nên chăng cần đến sự minh bạch, chẳng hạn bằng cách là cấp thẩm quyền nào đó sẽ làm công việc “thanh lọc” rồi công khai sẵn một danh sách các tác giả, tác phẩm hải ngoại mà giới nghiên cứu không được tiếp cận đến (tương tự như trên lĩnh vực văn nghệ đã làm), để tránh cho người trong nước gặp phải tình trạng bất khả kháng là vô tình giao lưu học thuật với những người được cho là “có vấn đề” – điều mà không thể luôn tự giác né tránh được đối với những người ham học hỏi và chủ động giao lưu – để rồi có thể gặp rắc rối ít nhiều về chính trị, mà cũng là để các tác giả hải ngoại nhận diện được mình trong con mắt của nhà nước Việt Nam?
[3]Có một so sánh rất khập khễnh nhưng có lẽ đáng suy ngẫm, là trong kinh tế các chủ thể đã có thể tự chủ, tự quyết, tự chịu trách nhiệm về kết quả đối với đối tượng và đối tác tác nghiệp, thì tại sao các chủ thể lý luận lại không thể tự chủ, tự quyết, và tự chịu trách nhiệm cho việc lựa chọn đối tượng nghiên cứu và đối tác học thuật của mình?
[4]Vấn đề mang tính thời đại nhất hiện diện trong lý luận ở Việt Nam là toàn cầu hóa, còn những vấn đề gần đây hơn, như bối cảnh chuyển biến địa-chính trị, chủ nghĩa khủng bố, nền chính trị và dân chủ mới với con đường thứ ba vượt lên tả-hữu, v.v…, trong đó có những điều ít nhiều có liên quan trực tiếp đến Việt Nam, lại tỏ ra quá xa lạ trong đời sống học thuật của đất nước.
[5]Giới triết học Việt Nam hoàn toàn nằm ngoài các hội, hiệp hội triết học của khu vực và thế giới, mà một nguyên nhân khách quan là bản thân Việt Nam không có hội triết học. Đây là điều hết sức kỳ lạ trong tổng thể đời sống khoa học, khi mà đất nước có một lực lượng hùng hậu các nhà khoa học có học vị, học hàm trên lĩnh vực này, một đội ngũ rất lớn giảng viên triết học, cộng với một số lượng cử nhân triết học được đào tạo hàng năm còn lớn hơn gấp nhiều lần. Tại sao những tổ chức như các hội chim, hoa, cá cảnh lại dễ dàng tồn tại, còn triết học – một trong những lĩnh vực chính yếu của đời sống tinh thần, đời sống lý tính của bất cứ xã hội nào – thì lại không thể tồn tại tổ chức xã hội của mình?
[6]Trích từ:
http://hoithao.viet-studies.org/Aix_NHLiem.pdf[7]Trích từ:
http://hoithao.viet-studies.org/2003_NHLiem.pdf