trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
3.4.2007
Trần Độc Tú
Thư luân lưu gửi toàn thể đồng chí thuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc
 

Lời người dịch: Hai tài liệu lịch sử hiếm hoi từng xuất hiện trên mặt báo, nói về chính sách phá sản của Stalin rất trực tiếp: “Sự thật về Stalin” của Khrushchev, và “Thư luân lưu” của Trần Độc Tú (“Gửi toàn thể đồng chí thuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc” sau khi tác giả, người sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc, bị Quốc tế Cộng sản cách chức và khai trừ khỏi Đảng.

“Sự thật…” đã được công bố trên tờ New York Times, ngày 16 tháng Ba, 1956. (Ấn bản Việt ngữ, đã được Tủ sách Nghiên cứu dịch 1982, tái bản, 1994). “Thư luân lưu” được đăng trên tờ Militant (New York), ngày 15 tháng (Mười) Một, 1930. Tài liệu sau, tuy lừng lẫy trong thế giới chính trị tả đối lập, nhưng ít được công chúng biết như tài liệu trước, vì lúc ấy Stalin còn thống trị; đã thế, khi đăng tải, ấn bản của Militant lại rất giới hạn – nên ngoài những ai bỏ công truy cập từ thư viện, dư luận nói chung ít người biết đến. Tuy thế, tầm quan trọng của nó để cảnh báo về đường lối Staliniêng từ 1930 không thua sút tài liệu của Khrushchev công bố về sau, năm 1956.

May mắn cho người sưu tầm là, 66 năm sau, nguyên bản dịch Anh ngữ “Thư luân lưu” lại được thấy in lại (với nhiều bổ túc, chú thích, sửa chữa) trong Phụ lục cuốn Leon Trotsky On China, Pathfinder Press, từ trang 594-619, ấn bản 1996 (mà chúng tôi phiên dịch sau đây). Xin lưu ý, là hai nhà cách mạng sinh cùng năm (1879), và cùng năm (1929), người thì bị áp tải khỏi Nga (Trotsky), người thì bị trục xuất khỏi ĐCSTQ (Trần Độc Tú). Năm 1932, Bí thư đầu tiên của ĐCSTQ, Trần Độc Tú bị Quốc dân Đảng bắt bỏ tù. Năm 1940, nguyên Tư lệnh Hồng quân Nga, Dân uỷ Quốc phòng… là Trotsky qua đời ở Mexico vì bị tổ chức của Stalin mưu sát. Năm 1942 Trần Độc Tú qua đời vì bệnh. Hai lãnh tụ cách mạng này – đã và còn – bị quấy hôi bôi nhọ: Người bị vu cáo tội cộng tác với phát xít Đức, người hợp tác với đế quốc Nhật; vừa “phản quốc” vừa “chống Đảng”; cùng “phản cách mạng”, “làm gián điệp”… Cả hai cùng là nạn nhân của các âm mưu trong một thời gian dài… Nhưng, chính họ cho hậu thế rõ hơn, thế nào là vừa theo chủ nghĩa xã hội, vừa theo chủ nghĩa yêu nuớc… kiểu Stalin, là “xã hội chủ nghĩa trong một xứ”.

Vũ Huy Quang

*

Ngày 10 tháng Chạp, 1929

Các đồng chí,

Kể từ 1920 (năm thứ chín cộng hoà), tôi đã hoạt động cùng các đồng chí, thành lập Đảng Cộng sản, thực thi chính sách cơ hội của những lãnh tụ quốc tế, Stalin, Zinoviev, Bukharin và những người khác, đem đến cho cách mạng Trung Quốc sự nhục nhã kèm với nhiều thất bại đáng buồn. Dù tôi đã nỗ lực đêm ngày, sự đáng trách của tôi nhiều hơn sự đáng khen.

Tất nhiên, tôi không bắt chước cái lối nhận tội giả dối của vài ông vua ngày xưa, “Ta, chỉ mình ta, nhận hết lỗi cho dân”; tôi không nhận mọi tội, đem gánh trên vai mình, nhưng rất xấu hổ khi nghe có những người đổ thừa toàn bộ trách nhiệm cho các đồng chí khác – những người sau khi thừa nhận có các sai lầm, gán tất cả lỗi cho những ai theo chủ nghĩa cơ hội, trừ họ. Mỗi khi tôi bị những đồng chí phê bình, rằng có quá khứ đã ngả theo chủ nghĩa cơ hội, tôi mau mắn ghi nhận. Tôi tuyệt đối không chịu bỏ qua cái kinh nghiệm phải trả giá đau đớn nhất, mà vô sản Trung Quốc đã chịu. (Từ Hội nghị tháng Tám 1927 đến nay, tôi không hề lên tiếng phản bác trước những phê bình đúng đắn, gia dĩ, những cáo buộc cường điệu về tôi, tôi cũng chưa hề đáp lại.)

Tôi không chỉ muốn hiểu ra lẽ những lỗi lầm của tôi, nếu đã như kẻ cơ hội trong quá khứ, mà hiện tại cũng như trong tương lai, tôi cũng như thế, nếu như tôi phạm bất cứ sai lầm nào của một kẻ cơ hội. Trong ý nghĩ cũng như trong hành động, tôi còn mong các đồng chí phê bình tôi không khoan nhượng, bằng lý luận từ lý thuyết kèm dẫn chứng. Tôi sẽ khiêm tốn nhận, hoặc lắng nghe đủ lời phê bình, nhưng không nhận nghe những đồn đãi và cáo buộc bịa đặt. Tôi không thể tự mãn như Chử Khiết Bài và Lý Lập Tam. Tôi công khai nhận rằng, xưa nay, chưa hề có người nào hay đảng nào tránh được lỗi lầm sa vào cơ hội bao giờ. Ngay cả những người mácxít kì cựu như Kautsky hay Plekanov khi lớn tuổi còn phạm vào chủ nghĩa cơ hội một cách không thể tha thứ; cả những người theo Lenin đã lâu như Stalin và Bukharin còn đang có hành vi xấu xa của những kẻ cơ hội chủ nghĩa. Làm sao những kẻ nông cạn như chúng ta có thể tự mãn được? Kẻ nào tự mãn, kẻ đó không có tiến bộ.

Ngay dưới tấm bảng Đối Lập cũng không có lá bùa “Thày Trời” của Trang tử (được coi là Giáo hoàng đạo Lão) để che chắn được. Nếi ai chưa thanh toán xong gốc rễ căn bản duy tâm của tiểu tư sản, chưa hiểu đơn giản một cách hệ thống, thế nào là chủ nghĩa cơ hội, và chưa tham gia đấu tranh, chỉ đứng dưới chiêu bài của Stalin và Lý Lập Tam, rồi tự cho là sự xấu xa của chủ nghĩa cơ hội không thể chạm vào mình, thì họ chỉ là những người sống trong ảo tưởng. Cách duy nhất để tránh sai lầm của chủ nghĩa cơ hội là khiêm tốn, đều đặn học tập Marx, Lenin cho sự nghiệp tranh đấu của quần chúng vô sản, và chăm nghe phê bình của đồng chí.

Tôi quyết nhìn nhận rằng điều kiện khách quan là điều quan trọng thứ nhì trong thất bại của cách mạng vừa qua. Nhưng nguyên do chính vẫn là sai quấy của chủ nghĩa cơ hội, cái sai lầm của đường lối mà chúng ta đã thoả hiệp với bọn tư sản Quốc dân Đảng. (Stalin nói, ”Phải chăng chính sách Bolshevik năm 1905 là đúng? Phải, đúng như thế. Tại sao cách mạng 1905 phải chịu thất bại, dù đã có các Xô-viết, dù có chính sách đúng của Bolshevik? Vì tàn dư phong kiến và chế độ bấy giờ còn mạnh hơn phong trào cách mạng công nhân… Có thể đoan chắc, rằng chính sách cộng sản ở Trung Quốc chưa tăng khả năng làm hưng phấn giai cấp vô sản, chưa tăng gia bắt rễ được với khối đông quần chúng, và phải chăng, chưa tạo đủ uy tín trong quần chúng? Điều ấy đã rõ.” (Stalin, “Về đối lập”, Bắc Kinh: Báo chí ngoại ngữ, 1974, tr. 747-48]. Chính sách đúng, kiểu Stalin, dĩ nhiên, không phải bảo đảm sự thắng lợi mà bảo đảm sự sai lầm sẽ đưa đến thất bại. Nếu chúng ta đổ thừa, tại vì sức mạnh kẻ thù lớn hơn, khi thi hành đường lối đúng kiểu ấy, thì cách mạng Nga 1905 và Trung Quốc 1927, cùng các thất bại khác của lao động khắp nơi là tiền định. (Tôi không muốn Stalin bênh vực Đảng Cộng sản Trung Quốc kiểu ấy, và bản thân tôi cũng không muốn được Stalin bào chữa cho kiểu ấy.) Những đồng chí có trách nhiệm trong Trung ương khi ấy, nhất là tôi, nên công khai, can đảm nhận rằng chính sách này là sai. Nhưng nhận sai cũng chưa đủ. Chúng ta phải chân thành, và với hiểu biết nhận rằng, thất bại quá khứ bởi sai lầm từ nội dung của chính sách, và phanh phui ra hết. Như thế ta mới tránh được những lỗi lầm tái phát trong tương lai, cùng không cho sự hồi sinh chính sách cơ hội chen vào cuộc cách mạng tới. Khi đảng ta thành lập, dù non trẻ, thế mà, dưới sự hướng dẫn của phong trào quốc tế Lêninít, chúng ta chưa phạm lỗi nghiêm trọng nào. Thí dụ, ta quyết tâm huớng dẫn cuộc tranh đấu của công nhân, nhận chân được bản chất giai cấp của Quốc dân Đảng. Năm 1921, đảng ta thu nhận đại biểu Quốc dân Đảng cùng đại biểu các tổ chức khác tham dự nghị Hội Lao động Viễn đông của chúng ta, lúc ấy gọi là Comintern, (Phòng Thông tin phương Đông). Hội nghị thông qua về đường lối tranh đấu tại các nuớc thuộc địa Đông phương, cho nên cuộc tranh đấu cho cuộc cách mạng dân chủ phải tiến hành, vì thế mà các Xô-viết nông dân đã được tổ chức.

Năm 1922, sau Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ Hai thì chính sách lập mặt trận kết hợp trong cuộc đấu tranh cách mạng dân chủ được chấp thuận; căn cứ điều ấy, ta có thái độ về vị thế chính trị của ta. Cùng lúc, đại biểu Thanh niên Quốc tế Cộng sản, Dalin, đến Trung Quốc, đề nghị Quốc dân Đảng chính sách lập Mặt trận Thống nhất với các phong trào cách mạng khác. Đảng trưởng Quốc dân Đảng là Tôn Dật Tiên, khăng khăng chống lại, chỉ đồng ý cho các thành viên của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Thanh niên Cộng sản gia nhập Quốc dân Đảng với tư cách từng cá nhân một, tùng phục hoàn toàn kỷ luật Quốc dân Đảng, từ bỏ mọi kết hợp nào khác, trừ Quốc dân Đảng.

Vừa hết thời đình hoãn họp đại hội Đảng ta, Quốc tế Cộng sản gửi đại diện Maring tới Trung Quốc. Ông ta mời toàn thể đại biểu Đảng tới họp ở Hàng Châu, tỉnh Triết Giang, rồi đề nghị Đảng Cộng sản Trung Quốc gia nhập Quốc dân Đảng. Ông ta cam kết với chúng ta, rằng Quốc dân Đảng không phải chỉ là đảng của tư sản, mà là đảng cộng tác các giai cấp, do đó đảng của vô sản nên tham gia, vừa để cải tiến đảng, vừa tiến hành cách mạng.

Lúc ấy, năm đại biểu là Lí Thu Chương (Lý Đại Chiêu), Trương Đức Lí (Trương Quốc Đào), Thái Hồ Sơn, Cao Quân Vũ và tôi – nhất tề phản đối đề nghị ấy. Lí do chính là: Gia nhập Quốc dân Đảng sẽ lộn xộn cách tổ chức giai cấp, bẻ cong chính sách độc lập của Đảng. Sau cùng, đại diện Quốc tế Ba, hỏi chúng tôi là có chịu tùng phục quyết định của Quốc tế Cộng sản?

Từ đó, tôn trọng kỷ luật quốc tế có nghĩa là Ban Chấp hành Trung ương ĐCSTQ chỉ còn chấp nhận mọi đề nghị của QTCS, và gia nhập Quốc dân Đảng. Rồi đại biểu quốc tế và đại biểu Trung Quốc mất gần một năm để thích nghi với sự tái phối trí của Quốc dân Đảng. Nhưng bề mặt thì Quốc dân Đảng hoàn toàn lờ đi, bề trong còn chống lại việc (tái phối trí) ấy. Tôn Dật Tiên tuyên bố nhiều lần với đại diện QTCS là: ”Một khi ĐCSTQ đã gia nhập QDĐ, họ phải tuân kỷ luật QDĐ, không được công khai phê bình. Nếu cán bộ cộng sản không chịu, chúng tôi trục xuất khỏi Đảng; Nếu Nga-xô về phe với ĐCSTQ, tôi tức khắc chống Nga-xô.” Kết quả Maring bị triệu về Mạc Tư Khoa, Borodin sang thay, mang theo nhiều viện trợ vật tư cho QDĐ. Sau đó mới tới thời kì QDĐ tái phối trí, tăng gia liên minh với Nga-xô.

Thời kì này ĐCSTQ chưa bị lấm lem bởi chủ nghĩa cơ hội. Chúng ta còn tổ chức được cuộc đình công của công nhân xe lửa ngày 2 tháng Hai, 1923, và ngày Ngũ Tam thập (Ngày 30 tháng Năm) năm 1925, khi chúng ta chưa bị gò bó bởi QDĐ và còn phê bình nghiêm khắc đường lối thoả hiệp của họ. Nhưng khi vô sản ló đầu ra trong biến động Ngũ Tam thập, tư sản cũng nổi theo. Để ra mặt, Thái Kỷ Đạo tung ra truyền đơn chống cộng vào tháng Bảy. (Truyền đơn có tựa ”Cách mạng Quốc gia và Cách mạng Cộng sản.”)

Trong phiên họp khoáng đại của Ban Chấp hành Trưng ương ĐCSTQ tại Bắc Kinh vào tháng Mười 1925, tôi đưa ra đề nghị sau, trước Ban Giải pháp Chính trị:

Truyền đơn của Thái Kỷ Đạo không do ngẫu nhiên, mà là chủ ý của tư sản muốn tăng cường sức mạnh nhằm mục đích kiểm soát giai cấp vô sản, và sẽ đi đến phản cách mạng. Chúng ta phải lập tức rút khỏi QDĐ. Chúng ta phải duy trì thể diện chính trị của Đảng, là dẫn dắt quần chúng, cùng không để cho chính sách QDĐ kềm chế chúng ta.”

Lúc đó cả đại biểu Comintern cùng các đồng chí trách nhiệm trong Trung ương Đảng nhất tề chống đề nghị của tôi, nói rằng đã tôi đòi các đồng chí cùng quần chúng vào con đường chống QDĐ. Tôi, người thiếu tính cương quyết, không bền bỉ giữ quan điểm mình. Tôi lại đã tôn trọng kỷ luật quốc tế cùng ý kiến đa số trong Ban Chấp hành Trung ương.

Tưởng Giới Thạch làm đảo chính vào tháng Ba 1926, với chủ trương của Thái Kỷ Đạo. Họ lùng bắt được số lớn các đảng viên cộng sản, giải giới các bảo vệ trong Ban Đình công Quảng Đông-Hương Cảng của nhóm Xô-viết (hầu hết là thành viên của Trung ương AUCP – All-Union Communist Party – B.T) thuộc Liên đoàn Cộng sản. Rồi với các cố vấn Xô-viết, Ban Chấp hành Trung ương QDĐ quyết định là mọi phần tử cộng sản phải bị tống xuất ra khỏi ban đầu não QDĐ; mọi phê bình chủ nghĩa Tôn Dật Tiên từ phía cộng sản phải bị cấm chỉ; phải nộp danh sách cán bộ thuộc Đảng Cộng sản cùng Đoàn Thanh niên Quốc tế Cộng sản. Những bắt ép trên đã được thi hành.

Đúng lúc ấy chúng ta có giải pháp, là nên chuẩn bị thành lập lực lượng độc lập của chúng ta hòng cân bằng với lực lượng Tưởng Giới Thạch. Đồng chí Bành Thuật Chi được gửi đi Quảng Đông làm đại diện cho Trung ương ĐCSTQ, giải quyết việc ấy với đại biểu Quốc tế Cộng sản. Nhưng đại biểu không thuận, chỉ ủng hộ Tưởng. Ông ta còn cho rằng phải củng cố sự chuyên chính quân sự của Tưởng, ủng hộ chính quyền Quảng Đông, và chúng ta phải tham gia việc Bắc chinh. Khi chúng ta đòi tăng viện 5 ngàn khẩu súng lấy trong phần viện trợ quân Tưởng và Lí Chí Sơn, để trang bị riêng cho nông dân Quảng Đông. Đại diện QTCS, từ chối, nói:

Nông dân vũ trang cũng không thể chống được Trần Quýnh Minh, họ cũng không tham dự được việc Bắc chinh. Trao vũ khí cho nông dân, chỉ làm tăng sự nghi ngờ của Quốc dân Đảng, còn làm cho nông dân thêm chống đối.”

Đó là thời kỳ ngặt nghèo nhất. Nói cụ thể ra thì đó là thời kỳ QDĐ tư sản công khai thúc ép vô sản theo sự chỉ đạo của họ, còn chúng ta thì phải kêu gọi – trên nguyên tắc – vô sản đóng vai trò phụ, nhường tư sản lãnh đạo. (Đại diện QTCS công khai hô hào: “Thời nay là thời người cộng sản nên làm cu-li cho Quốc dân Đảng”). Lúc đó, Đảng không là Đảng của vô sản nữa, đã trở thành cực tả của tư sản, bắt đầu sa vào hố sâu của chủ nghĩa cơ hội.

Sau biến cố 20 tháng Ba, tôi có phúc trình riêng lên Comintern, rằng “Hợp tác với QDĐ bằng phương cách nội bộ, nên chuyển thành hợp tác ngoại vi. Còn không, chúng ta không thể có chính sách độc lập, hoặc chiếm được lòng quần chúng”. Sau phúc trình ấy, QTCS đăng một bài do Bukharin trả lời trên tờ Pravda, kịch liệt chống lại việc ĐCSTQ đòi tách khỏi QDĐ, như sau:

Có hai sai lầm ở đây: Đòi rút khỏi Liên công Vàng rồi Ủy ban Liên công Hợp nhất Anh-Nga, rồi còn sai lầm thứ ba được tạo ra: Đảng Cộng sản Trung Quốc còn đòi rút khỏi Quốc dân Đảng.” Cùng lúc đó, lãnh tụ Phòng Thông tin Viễn đông, Voitinsky, đến Trung Quốc để chỉnh khuynh hướng tách rời của chúng ta khỏi QDĐ. Lúc ấy tôi lại thất bại trong việc duy trì ý kiến mình quyết liệt, nhường cho việc tôn trọng kỷ luật (QTCS) và thuận theo ý kiến đa số các đồng chí trong BCHTƯ.

Sau đó, nỗ lực quân sự cho cuộc Bắc chinh được phát động. Rất nhiều đồng chí chúng ta bị hành quyết bởi QDĐ, vì trên tờ Hướng đạo chúng ta cất tiếng phê bình là, “Hậu phương thì lực lựợng lao động bị bức ép, thêm sự cưỡng bách lấy quỹ của nông dân dùng vào việc quân sự”. Lúc ấy công nhân Thượng Hải lăm le nổi dậy chống cánh quân Tấn Lương-Quảng Đông. Nếu cuộc nổi dậy xảy ra, chuyện rắc rối hẳn sẽ đến với bọn cầm đầu. Lúc ấy, trong cuộc hội luận về biện pháp chính trị tại phiên họp khoáng đại của BCHTƯ, tôi phát biểu:

Cuộc cách mạng Trung Quốc nay chỉ còn hai đường: Một, là được vô sản hướng dẫn, nếu thế, chúng ta sẽ đạt mục đích cho cách mạng; Đường kia dưới sự lãnh đạo của tư sản, nếu thế, sẽ phản lại cuộc tranh đấu cách mạng. Và, dù cho chúng ta có hợp tác với tư sản, chúng ta cũng phải nắm quyền lãnh đạo.” Thế mà, tất cả thành viên Comintern ở Thượng Hải nhất trí chống lại tôi, nói rằng tư tưởng ấy sẽ gây ảnh hưởng đến chính sách đòi ra mặt chống tư sản quá sớm. Thêm nữa, họ bảo, nếu Thượng Hải nổi dậy có thành công, quyền lãnh đạo vẫn thuộc về tư sản. Nên việc tham dự của các đại biểu công nhân chẳng cần thiết. Rồi tôi lại không duy trì nổi ý kiến riêng, trước bài bác của họ.

Vào lúc quân Bắc chinh chiếm Thượng Hải năm 1927, Chử Khiết Bài rất để ý đến việc chọn đại biểu của chính quyền Thượng Hải trong việc hợp nhất tiểu tư sản (trung lưu và tiểu thương) để đối phó với đại tư sản. Bành Thuật Chi và Lã Di Nông đã đồng ý với tôi rằng cấp thời không nên chú ý chuyện bầu cử thành phố. Cốt yếu là, nếu vô sản không đủ mạnh để thắng lực lượng quân sự của Tưởng, thì tiểu tư sản cũng không ủng hộ chúng ta. Tưởng Giới Thạch, dưới sự thúc giục của các đế quốc, chắc chắn sẽ tàn sát quần chúng. Rồi không chỉ chuyện bầu cử thành thị trở nên chuyện rỗng tuyếch. Chúng ta còn phải chứng kiến sự khởi đầu cho sự thất bại mọi mặt trên toàn quốc. Khi Tưởng công khai tỏ sự phản bội cách mạng thì không phải chuyện cá nhân, mà là biểu tượng của giai cấp tư sản toàn quốc chuyển hẳn vào phong trào phản động.

Khi Bành Thuật Chi đến Hán Khẩu để trình bày ý kiến của chúng tôi với đại biểu quốc tế cùng đa số thành viên của ban Trung ương Đảng, và mở cuộc hội luận để đối phó với lực lượng Tưởng, nhưng không ai cảnh giác về sự cố Thượng Hải đang lăm le ập đến. (Biến cố Thượng Hải 12 tháng Tư 1927, Tưởng tàn sát công nhân –B.T). Người ta gửi điện tín vài lần đòi tôi đi Vũ Hán. Họ cho là bọn chính quyền quốc gia đã đến Vũ Hán cả, thì mọi chuyện sẽ được giải quyết ở đấy. Ngay đó, Ban Quốc tế gửi điện tín cho tôi, bảo phải giấu hay chôn tất cả vũ khí của công nhân, hầu tránh cuộc xung đột giữa công nhân và quân Tưởng, chớ làm căng thẳng cuộc tiến chiếm Thượng Hải của Tưởng. Cầm bức điện này, Lã Di Nông giận quá, quăng xuống đất. Khi ấy, tôi lại tuân theo QTCS, không giữ ý mình. Rồi, căn cứ theo chính sách của QTCS đối với QDĐ và các đế quốc, tôi cho công bố bản tuyên ngôn đáng hổ thẹn cùng Uông Tinh Vệ.

Đầu tháng Tư tôi đi Vũ Hán. Khi mới gặp Uông Tinh Vệ, tôi đã nghe những chuyện phản cách mạng của y, và những lời Uông tuyên bố ở Thượng Hải. Thuật lại cho Borodin, anh ta nhìn nhận những lo lắng của tôi là phải, nhưng trấn an tôi, rằng khi Uông đến Vũ Hán, thế nào cũng bị vây hãm bởi Từ Kiên, Cù Mộng Nghi, Trần Củng Bạch, Đặng Yên Khải cùng nhiều người nữa, chắc sẽ nguội đi. [1] Sau khi Tưởng Giới Thạch và Lý Kỷ Siêu (Li Chi-shen) tàn sát công nhân và nông dân, rồi chính quyền QDĐ Vũ Hán càng thêm căm thù lực lượng vô sản, thái độ phản cách mạng của Uông và BCHTƯ QDĐ ngày càng lộ. Trong cuộc họp chính trị của BCHTƯ Đảng, tôi báo cáo về tình hình giữa BCHTƯ và QDĐ:

Mối hiểm nguy liên hệ đến sự hợp tác giữa Đảng ta và QDĐ ngày một nghiêm trọng. Cái họ đòi lấn mỗi chốc một ít là chuyện nhỏ; Cái chính họ muốn là quyền lực toàn diện. Chúng ta chỉ còn hai chọn lựa: Hoặc hi sinh quyền cùng lãnh đạo, hoặc phải tách khỏi họ.”

Những người hiện diện hôm đó đáp lời tôi bằng sự im lặng.

Sau biến cố Tràng Sa (tháng Năm 21) ở Hồ Nam, tôi nêu hai lần đề nghị tách khỏi QDĐ. Sau cùng tôi nói, “Chính quyền Quốc dân Đảng Vũ Hán đang theo vết của Tưởng Giới Thạch! Nếu không đổi hướng, chúng ta sẽ lâm đường cùng.”

Lúc ấy Nhân Bình Tịnh chỉ nói “Thế ư?”. Chu Ân Lai thì nói: “Sau khi chúng ta rút khỏi QDĐ, phong trào lao động và nông dân sẽ dễ thở, nhưng lực lượng quân sự của ta sẽ chịu nhiều áp lực.” Những người còn lại khác, lại chỉ đáp lời kêu gọi của tôi bằng sự im lặng. Tôi hỏi Chử Khiết Bài. Anh ta bảo, “Ta nên để Quốc dân Đảng trục xuất; ta không nên tự ý rút.” Tôi hỏi Borodin. Anh ta bảo, “Đồng ý. Nhưng tôi biết chắc Mặc Tư Khoa không bao giờ thuận.”

Đó cũng là lúc tôi đang lưu tâm đến kỷ luật của Ban Quốc tế cùng ý kiến đa số trong BCHTƯ. nên tôi không thể nói về đề nghị của mình mãi được. Từ đầu tôi cũng đã thế; nhưng lần này tôi hết chịu nổi. Tôi đành đưa lên Trung ương thư từ nhiệm của tôi. Lý do chính như sau:

Quốc tế đòi chúng tôi phải có chương trình riêng, mặt khác, lại không cho chúng tôi rút lui khỏi Quốc dân Đảng. Như thế là bế tắc, tôi cảm thấy tôi không thể tiếp tục làm việc.”

Từ đầu đến cuối, Ban Quốc tế nhìn nhận QDĐ là bộ phận chính của cuộc cách mạng dân chủ tại Trung Quốc. Từ miệng Stalin, khẩu hiệu “QDĐ lãnh đạo” lúc nào cũng la to. (Xem “Lỗi lầm của đối lập” trong Vấn đề Cách mạng Trung Quốc của Stalin.) Như thế là đòi chúng ta phải quy hàng QDĐ, và đòi phải hướng dẫn quần chúng đứng dưới biểu ngữ của QDĐ. Điều đó duy trì mãi, cho tới lúc toàn bộ phe Quốc dân Đảng của Phong Ngũ Lương, Uông Tinh Vệ, Đặng Thế Chi, Hồ Kiên vân vân, trở mặt phản động công khai, phá vỡ cái gọi là chính sách ba điểm: Kết hợp Nga-xô, ĐCS gia nhập QDĐ, trợ giúp phong trào lao động và nông dân. Cho nên Quốc tế lại chỉ thị chúng ta qua điện văn, “Chỉ rút khỏi chính phủ Quốc dân Đảng, không rút khỏi Quốc dân Đảng.”

Rồi sau nghị hội ngày 7 tháng Tám, từ khởi nghĩa Nam Xương, cho đến vụ bắt giữ Swatow, ĐCS vẫn phải đứng dưới bảng hiệu xanh-trắng của bọn tả phái QDĐ. Đối với quần chúng thì chỉ là lủng củng nội bộ QDĐ, không hơn không kém. Đảng Cộng sản Trung Quốc chúng ta non trẻ, sản phẩm của đoàn thanh niên vô sản Trung Quốc, chưa từng được huấn luyện đúng đắn về mácxít cùng đấu tranh giai cấp. Ngay sau khi thành lập Đảng, đã lao vào đấu tranh, chỉ mong khỏi sa vào lỗi lầm, bằng cách chờ sự điều chỉnh của QTCS. Nhưng dưới sự chỉ đạo bền chặt của chính sách cơ hội, làm sao Đảng Cộng sản và vô sản Trung Quốc có thể thấy được tương lai? Và làm sao, họ có thể có nổi một chính sách riêng? Đành chỉ biết đầu hàng tư sản từng buớc một, lệ thuộc vào chương trình tư sản. Khi bọn tư sản đột ngột ra tay tàn sát, chúng ta không trở tay kịp. Sau biến cố Tràng Sa, chính sách của Ban Quốc tế chỉ cho chúng ta là:

  1. Tịch thu ruộng đất của địa chủ thuộc tầng lớp dưới, nhưng không được dùng danh nghĩa của chính phủ quốc gia, không được đụng chạm đến đất đai của sĩ quan quân đội. (Không hề có một địa chủ nào thuộc tư sản, địa chủ, tiểu địa chủ và bọn canh phòng quyền thế tại các tỉnh Hồ Nam, Hồ Bắc nào… mà lại không thuộc thành phần cấu kết, họ hàng xa gần, thân hữu với các sĩ quan thời đó. Địa chủ nào cũng có liên hệ, trực tiếp hay gián tiếp, với bọn sĩ quan để được bảo vệ. Tịch thu ruộng đất là một từ ngữ rỗng, khi chủ trương: “Không được đụng đến đất đai của các sĩ quan trong quân đội.”)
  2. Ngăn chặn hành động sự “quá tức tối” của nông dân với quyền uy của Ủy ban Chỉ huy Đảng. (Chúng ta có biện pháp về việc này, sau đó bị Quốc tế chỉ trích ĐCS Trung Quốc là, “thường xuyên trở thành chướng ngại với quần chúng”, lại bảo, “một trong những sai quấy nhất của chủ nghĩa cơ hội”!)
  3. Loại bỏ những tướng bất tài; Trang bị võ khí cho 20 ngàn cán binh cộng sản, lựa lọc ra 50 ngàn công nhân và nông dân của Hồ Nam-Hồ Bắc để lập đội quân mới. (Nếu chúng ta có nhiều súng trường đến thế, sao chúng ta không tự trang bị cho công và nông dân, và tại sao ta cứ tuyển lính giùm QDĐ? Sao ta không thành lập Xô-viết cho công, nông và chiến sĩ? Nếu đã chẳng có lực lượng võ trang của công nông cũng như chẳng có các Xô-viết, làm sao chúng ta có lực để loại bỏ bọn tướng lãnh bất tài?) Tôi cho rằng thế thì ta phải năn nỉ ban chỉ huy QDĐ nhủ lòng xót thương mà cất chức họ giùm vậy. Khi đại diện QTCS là Roy, cho Uông Tinh Vệ đọc những chỉ thị này, ắt hẳn, với cách ấy!
  4. Cắt đặt những phần tử mới của công nhân vào BCHTƯ của QDĐ để thay những phần tử cũ (Nếu ta muốn đủ lực đối phó cả với Ủy ban cũ và ban Tái phối trí QDĐ, sao ta không tự thành lập các Xô-viết? Sao ta lại gửi các lãnh tụ công nông của ta đến với tư sản QDĐ, những người đã tàn sát công nông? Sao chúng ta cứ trang trí cho QDĐ bằng các lãnh tụ của chúng ta?)
  5. Tổ chức toà án cách mạng với một thành viên tiếng tăm trong QDĐ (người không thuộc Đảng Cộng sản) làm chánh án, để xét sử sĩ quan phản cách mạng (Làm sao mà một nhà lãnh tụ QDĐ đã phản cách mạng lại làm chánh án xử sĩ quan phản cách mạng trong phiên toà cách mạng?)

Những ai thực hiện đầy đủ được tất cả ở chính sách trên đây vẫn là kẻ cơ hội, thuộc cánh tả của chúng. Không hề có một đổi thay nào về mặt cơ bản của chính sách; Y như phải tắm trong bồn nước tiểu! Lúc ấy, nếu chúng ta thi hành đưởng lối cực tả, nghĩa là, một cuộc cách mạng, thì chính sách – điều cơ bản nhất – phải thay đổi ngay. Đảng Cộng sản phải rút khỏi QDĐ và thực sự độc lập. Phải trang bị công nông, càng nhiều càng hay, thành lập Xô-viết, tổ chức nông dân, công nhân, chiến sĩ và nắm quyền chủ động với QDĐ. Ngoài ra, dù có chính sách nào khác gọi là tả đến đâu, cũng không thể thay đổi gì được.

Thế là lúc ấy Ban Chính trị Trung ương điện cho QTCS hồi đáp chỉ thị trên, rằng “Chúng tôi chấp thuận, nhưng chưa thể tiến hành ngay.”

Toàn thể thành viên của BCHTƯ nhìn nhận rằng những chỉ dẫn của Quốc tế là phi thực thế. Ngay cả Phan Kế [2] , kẻ tham dự buổi họp (có đồn đãi anh này là đại diện riêng của Stalin) cũng cho là không cách nào thi hành nổi. Anh ta đồng ý nội dung điện hồi đáp, bảo, “Trả lời thế là nhất”.

Sau hội nghị 7 tháng Tám, BCHTƯ đưa tin rằng cách mạng Trung Quốc sở dĩ thất bại vì bọn cơ hội không chấp nhận chỉ dẫn của Quốc tế để đổi chiến thuật. (Dĩ nhiên chỉ dẫn là chỉ dẫn nói ở trên; ngoài ra, làm gì có chỉ dẫn nào!) Chúng ta không biết: Chính sách được đổi thay từ nội bộ QDĐ là gì? Ai mới là kẻ cơ hội đây?

Một khi Đảng đã phạm sai lầm trên bình diện cơ bản, thì một chuỗi các sai lầm nhỏ hơn hoặc phụ thuộc ở dưới sẽ kéo theo, đó là điều không tránh khỏi. Tôi, người nhận thức chưa rõ rệt, ý định bất minh, lại bị dính dấp vào không khí cơ hội và thành tâm thi hành cái chính sách cơ hội của Đệ Tam Quốc tế. Trong vô thức tôi thành dụng cụ cho cái nhúm phe phái của Stalin. Tôi không cứu vãn nổi Đảng và cuộc cách mạng. Tất cả, cả tôi và các đồng chí khác phải nhận trách nhiệm. BCHTƯ hiện tại muốn nói “Ông cố đổ lỗi lầm lên Comintern, cốt để tránh trách nhiệm!”. Nhận định thế là lố bịch. Người ta không thể mất vĩnh viễn quyền phê bình chủ nghĩa cơ hội trong lãnh đạo Đảng, hay không được quay về Mácxít-Lêninít, chỉ vì sơ xuất phạm sai lầm của chủ nghĩa cơ hội.

Cũng lúc ấy, không ai tránh được trách nhiệm phải lên án chính sách cơ hội vì nó xuất phát từ cấp cao. Gốc của nó từ Comintern; Nhưng tại sao Đảng Cộng sản Trung Quốc không chống Comintern, lại đi làm nhiệm vụ cho nó? Ai có thể miễn trách cho chúng ta trách nhiệm đó? Nay tôi phải thú thật và với sự khách quan, nhận chân rằng mọi chính sách cơ hội từ quá khứ đến nay, xuất phát từ Quốc tế Cộng sản. Ban Quốc tế phải nhận trách nhiệm. Đoàn Thanh niên Cộng sản còn chưa đủ khả năng để nghĩ ra bất cứ chính sách nào, định đoạt bất cứ đường lối nào; Nhưng ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng phải nhận trách nhiệm, là đã thi hành mù quáng chính sách cơ hội của Comintern, không biết phán đoán, hoặc phản đối.

Nếu chúng ta cứ tha thứ lẫn nhau, để ai nấy đều không có lỗi, thì lầm lỗi này chả nhẽ của quần chúng? Như thế chẳng đã lố bịch mà còn trốn trách nhiệm với cách mạng! Tôi mãnh liệt tin rằng nếu tôi, cũng như các đồng chí có trách nhiệm khác, một khi đã nhìn ra sự sái quấy của chính sách cơ hội, sẽ dùng lý luận phản đối quyết liệt, ngay cả vận động toàn Đảng tham dự cuộc tranh biện nồng nhiệt, như đồng chí Trotsky đã làm, đem kết quả tốt cho cách mạng. Như thế cách mạng không chịu những thất bại nhục nhã, làm tôi bị trục xuất khỏi Quốc tế Cộng sản, làm Đảng ta vỡ đôi. Tôi, người nhận thức không minh bạch, suy nghĩ không ra giải pháp, lại không biết cách giải quyết những vấn đề trên! Nếu Đảng dựa trên những lỗi lầm quá khứ của tôi, hoặc trên dữ kiện mà xét là tôi vẫn ngoan cố tiếp tục theo đường lối sai lầm cũ, lấy lỗi ấy làm cơ sở để thi đành kỷ luật Đảng, tôi xin chịu, không mở miệng nữa.

Sau đây là những lý do của BCHTƯ đưa ra để trục xuất tôi khỏi Đảng:

  1. Họ bảo, “Trên cơ bản, ông ta không thành thực nhìn nhận lỗi đã theo chủ nghĩa cơ hội khi lãnh đạo ở giai đoạn cách mạng vĩ đại, không hề nhận những lỗi mình từ đâu ra, nên sai lầm thêm trong quá khứ sẽ tiếp tục.” Thực ra, tôi bị trục xuất vì tôi thành thực nhìn nhận lỗi lầm từ đường lối lãnh đạo cơ hội làm nền móng, và quyết định chống lại sự tiếp diễn đường lối ấy trong hiện tại cũng như trong tương lai.
  2. Họ bảo, “Ông ta không thỏa mãn với các quyết định của Quốc tế Cộng sản. Ông ta bướng bỉnh không chịu đi Mạc Tư Khoa để học tập Quốc tế.” Tôi đã được học tập Quốc tế Cộng sản đầy đủ. Trước kia tôi phạm sai lầm chỉ vì tôi tuân thủ đường lối Quốc tế Ba. Nay bị trục xuất thì tôi càng thoả mãn với các học tập nhận được.
  3. Tháng Tám vừa rồi, tôi viết thư lên Trung ương với những lời sau, “Ngoài ra, cái gì là cái tiếp diễn sự mâu thuẫn của ‘lợi nhuận kinh tế giai cấp’ giữa hai giai cấp [tư sản và địa chủ ?!]” “Trước và sau khởi nghĩa Quảng Đông… tôi viết vài bức thư cho BCHTƯ, vạch ra rằng giới cai trị QDĐ sẽ không sụp đổ nhanh như ta ước lượng”, và, “Lúc này, dù có vài nổi dậy lẻ tẻ cũng không thể xem đó là điềm báo rằng có làn sóng cách mạng sắp đến.” “Phong trào đấu tranh hợp pháp, tất nhiên phải coi là từ bỏ toan tính làm cách mạng. Nhưng trong vài vụ, có thể coi đó là sự tăng gia sức mạnh cho chúng ta. Nhưng sức mạnh, theo Lenin nói, thì ‘trừ phi đã bỏng rẫy, chúng ta vẫn phải tận dụng mọi khả năng hợp pháp trong giai đoạn của thời kỳ chuyển tiếp’.” BCHTƯ thay đổi lời lẽ của tôi bằng những câu mơ hồ, “Không có mâu thuẫn nào giữa tư sản và lực lượng phong kiến.” Và, “Giai cấp thống trị không sụp đổ và đấu tranh cách mạng không khởi sự một cách linh hoạt, mà còn ngày một lụn bại.” Và, ông ta “bênh vực cho đấu tranh hợp pháp”. Thêm nữa, họ còn vòng khuyên quanh các câu đó ra vẻ trích dẫn đúng nguyên tác của tôi. Họ càng thêm lý do để trục xuất tôi.
  4. Ngày 10 tháng Mười tôi viết lá thư nữa gửi BCHTƯ, “Giai đoạn hiện nay không phải giai đoạn phát động cách mạng, mà là thời kỳ phản cách mạng. Chúng ta phải tung ra những khẩu hiệu đòi dân chủ làm chính. Thí dụ, bên cạnh đòi hỏi làm 8 tiếng một ngày và tịch thu ruộng đất, ta nên ra khẩu hiệu ‘Vô hiệu hoá mọi hiệp ước bất bình đẳng’, ‘Chống độc tài quân sự của Quốc dân Đảng,’ và ‘Triệu tập hội nghị toàn quốc’, vân vân. Để quần chúng tham gia tranh đấu dưới khẩu hiệu đòi dân chủ là tối cần; sau đó chúng ta mới lay chuyển chế độ phản cách mạng hiện nay, phát động làn sóng cách mạng, và tới khẩu hiệu rốt ráo, ‘Đả đảo chính quyền Quốc dân Đảng’, ‘Thành lập các Xô-viết,’ vân vân – những khẩu hiệu hành động cho phong trào quần chúng”. Ngày 26 tháng Mười, đồng chí Bành Thuật Chi và tôi cùng thảo bức thư lên ĐCSTQ, “Chưa phải lúc trong thời kỳ chuyển tiếp để dẫn dắt cách mạng, chúng ta phải có những khẩu hiệu chính trị đại cương thích hợp với tình hình; rồi sẽ tranh thủ quần chúng. Lập các Xô-viết công-nông chỉ thuần là khẩu hiệu lúc này. Nếu ta đòi tranh đấu tổ chức Xô-viết làm hành động chính, giới vô sản sẽ thờ ơ.” Nhưng ĐCSTQ dẫn chứng ngược lại, rằng thay vì kêu gọi “Đả đảo chính phủ Quốc dân Đảng” và “Thành lập Xô-viết” chúng tôi chỉ đòi thay bằng khẩu hiệu “Triệu tập hội nghị toàn quốc”. Đó cũng là lý do họ trục xuất tôi.
  5. Như tôi đã nói trong thư, rằng chúng ta phải chỉ ra cái “Chính sách phản bội hoặc tiêu hủy đất nuớc của QDĐ trong vấn đề Đường xe lửa miền Đông,“ làm cho quảng đại quần chúng còn thấm nhuần sự tin tưởng vào tinh thần quốc gia có thể thông cảm với chúng ta cùng chống lại các đế quốc lăm le tấn công Nga-xô, bọn ấy đang dùng QDĐ và Đường xe lửa miền Đông làm bình phong. Đó, cũng là tinh thần tương trợ Nga-xô cho thấm vào quần chúng. Nhưng ĐCSTQ lại nói rằng tôi muốn trưng khẩu hiệu đòi “Chống sự phá hoại của QDĐ” cốt để thay khẩu hiệu “Ủng hộ Nga-xô”. Đó cũng là lý do họ đòi trục xuất tôi.
  6. Tôi viết lên ĐCSTQ vài bức thư mong giải quyết vài vấn đề nội bộ nghiệm trọng của Đảng. Những thư ấy bị giữ lại rất lâu. ĐCSTQ giữ chúng không cho ai biết. Rồi đại biểu Comintern và ĐCSTQ nói trắng trợn, là theo nguyên tắc, những ý kiến dị biệt không được công bố trong Đảng. Thế là không còn hi vọng gì sửa chữa sai lầm của Trung ương, bằng cách thảo luận trong nội bộ Đảng được nữa. Tôi giữ ý kiến riêng, là tôi không chịu ràng buộc theo kỷ luật nề nếp kiểu đó, cùng không chịu nhận rằng sự phát biểu bị ngăn cản, và thư tôi phải được luân lưu trong Đảng. Đó cũng là một trong những lý do tôi bị trục xuất.
  7. Từ hội nghị ngày 7 tháng Tám, ĐCSTQ không cho phép tôi tham dự cuộc họp nào, cũng không sắp xếp tôi vào việc gì. Rồi ngày 6 tháng Mười (40 ngày sau thì tôi bị trục xuất), họ đột ngột viết thư cho tôi, nói, “Đảng đã quyết định ông phải cam đoan đảm nhiệm việc biên tập trong Ban Chính trị, và phải viết xong một bài với chủ đề ‘Chống đối lập’ trong vòng một tuần.” Nhưng tôi đã tỏ thái độ, hơn một lần, chỉ trích BCHTƯ là đã tiếp tục theo đường cơ hội và manh động, nay họ muốn tạo cơ hội che giấu việc họ trục xuất tôi bằng cách đó (chính mình chống đối lập – N. D.). Giờ tôi mới nhận chân ra rằng quan điểm đồng chí Trotsky cũng tương tự với chủ nghĩa Marx–Lenin. Sao mà tôi có thể viết những lời giả dối, nghịch với mình?
  8. Chúng ta đều biết đồng chí Trotsky quyết chống lại chủ trương cơ hội của Stalin và Bukharin. Chúng ta không thể nghe những lời đồn đãi của bè lũ Stalin, để tin rằng đồng chí Trotsky, người đã từng lãnh đạo sát cánh cùng Lenin trong cách mạng tháng Mười, lại là kẻ phản cách mạng. (Điều đó có thể “được chứng thực” qua những phe cánh Stalin ở Trung Quốc như Lý Lập Tam vân vân). Bởi vì chúng ta nhắc đến đồng chí Trotsky như một đồng chí, BCHTƯ buộc tội ai tin như thế là đã “bỏ cách mạng, rời vô sản, về phe phản cách mạng” và trục xuất những người ấy ra khỏi Đảng.

Các đồng chí!

BCHTƯ đã tìm ra những lý do để khai trừ tôi khỏi Đảng, gán cho tôi danh hiệu “phản cách mạng” không bằng chứng. Nên ngay trong ĐCSTQ, tôi tin rằng rất nhiều đồng chí cũng không hiểu rõ tại sao. Ngay Đảng cũng thừa nhận, “Có thể còn nhiều người không hiểu.” Thế mà tôi bị trục xuất vì tội danh “phản cách mạng”, trong khi còn nhiều đồng chí không biết đâu là nguyên do. Nhưng tôi bắt đầu hiểu tại sao họ gán cho tôi tội phản cách mạng. Đó là vũ khí của họ để tấn công những người Trung Quốc nào thức thời, dám nghĩ khác họ. Chẳng khác gì QDĐ đổ tội “phản cách mạng” cho người cộng sản để che tội ác mình. Tưởng Giới Thạch lừa dối quần chúng với bình phong cách mạng, tạo ra hình ảnh y mới là người cách mạng. Ai không như y, là người “phản cách mạng”, hay “phần tử phản động”.

Rất nhiều đồng chí cũng hiểu rằng những lý do ngụy tạo tôi đã liệt kê, mà ĐCSTQ đưa ra làm lý do trục xuất tôi, chỉ thuần bề ngoài để công bố. Thực ra, là họ mệt mỏi phải nghe tôi phê bình họ trong các cuộc họp Đảng, nói rằng họ đã theo chính sách cơ hội và manh động, và chỉ trích họ cứ theo mãi cái chính sách phá sản đó.

Trong bất cứ nước tư sản nào trên thế giới hiện nay, vẫn có di sót vài phương pháp bóc lột bán phong kiến (người da đen, người nô lệ tại quần đảo Nam bán cầu còn như thời tiền phong kiến, và cũng như còn sót những lực lượng phong kiến). Trung Quốc còn hơn thế. Trong cách mạng, chúng ta không bỏ qua yếu tố đó được; Nhưng Comintern và ĐCS nhất trí cho rằng tại Trung Quốc, di sót phong kiến vẫn chiếm vị trí chính về kinh tế lẫn chính trị, và vẫn là giai cấp thống trị chính. Kết cục, họ coi những di sót đó là mục tiêu chính của cách mạng mà bỏ quên kẻ thù diệt cách mạng – là lực lượng tư sản. Họ đem gộp mọi hành động tội ác của tư sản, gán tất cho phong kiến.

Họ còn đến nhận định rằng tư sản Tàu là cách mạng, không thể là phản cách mạng. Còn ai phản cách mạng không thể là tư sản. Nhưng họ cũng không chịu nhận rằng QDĐ chỉ đại diện cho quyền lợi của tư sản, và chính phủ Quốc gia là chế độ đại diện chỉ cho quyền lợi của tư sản. Cho nên chiến thuật và hành động cụ thể của họ cùng lắm chỉ theo đường lối của nhóm Tái Phối Trí, phát động các hành động quân sự chống Tưởng. (Nhóm Tái Phối Trí, cánh tả trong QDĐ, thành hình tháng Mười, 1928 bởi Uông Tinh Vệ, trước cao trào đòi thanh lọc phản cách mạng trong đảng họ. Nhóm Tái Phối Trí ủng hộ Đường Chánh Trí lật Tưởng, vào mùa đông 1929-30, nhưng thất bại. Sau đó Uông theo phe Phùng Ngọc Tường). Trên căn bản, họ cho rằng tính chất của cuộc cách mạng thứ Ba trong tương lai vẫn phải là cách mạng dân chủ-tư sản, chống bất cứ gì nghịch lại lực lượng tư sản, và càng chống khẩu hiệu chuyên chính vô sản (I). Cái ảo tưởng về tư sản và sự hấp dẫn liên tục của nó được họ tính toán làm sao, không những để cho chủ nghĩa cơ hội trong quá khứ thành vĩnh cửu, mà còn sâu rộng thêm. Như thế, ắt làm cho cuộc cách mạng của Trung Quốc trong tương lai phải thêm nhiều thất bại nhục nhã nữa.

Nếu ta khảo sát khẩu hiệu “Lập Xô-viết” là một khẩu hiệu hành động, ta thấy nó chỉ được áp dụng khi điều kiện khách quan đã chín mùi trong làn sóng cách mạng. Không thể kêu gọi bất cứ lúc nào (II). Trong quá khứ, vào lúc có làn sóng cách mạng, chúng ta bỏ qua, không nêu khẩu hiệu “Tổ chức Xô-viết”, “Lập chế độ Xô-viết”… đã là sai. Tất nhiên là sai trầm trọng nữa. Trong tương lai, khi cách mạng đã xảy ra, ta phải lập tức tập hợp đội ngũ công nhân, nông dân, và chiến sĩ thành các Xô-viết. Rồi ta phải vận động quần chúng đấu tranh dưới khẩu hiệu này. Thêm nữa, đó phải là Xô-viết của vô sản chuyên chính, không phải Xô-viết của dân chủ chuyên chính công-nông.

Giai đoạn hiện nay, khi lực lượng phản cách mạng còn thắng mọi mặt, lại không có làn sóng nổi dậy của quần chúng đòi cách mạng, thì điều kiện khách quan của “khởi nghĩa võ trang” và chuyện “thành lập Xô-viết” lại không phải lẽ. Lúc này, khẩu hiệu “Lập Xô-viết” chỉ dùng vào tuyên truyền, giáo dục mà thôi. Nếu ta đòi thành hành động, vận động quần chúng để lập Xô-viết ngay, ta không thể được sự hưởng ứng của quần chúng.

Hiện thời, ta chỉ phát động được lời kêu gọi đấu tranh cho sự triệu tập hội nghị toàn quốc. Điều kiện khách quan cho phong trào này đã chín, vào lúc này ta nên với quần chúng cùng đấu tranh hợp pháp trong chuyển cơ đấu tranh chính trị, rồi mới tiến tới phong trào cách mạng, với “Khởi nghĩa vũ trang” cùng “Thành lập Xô-viết.”

Đảng Cộng sản hiện nay, còn theo chính sách manh động, không hiểu như thế. Họ coi là sự tái xuất cách mạng đã đến lúc chín mùi (III), còn trách chúng ta đã hiểu khẩu hiệu “Lập các Xô-viết công-nông” là khẩu hiệu dùng để tuyên truyền, trong khi phải khẩu hiệu hành động. Thành ra, họ hô hào đảng viên tập họp, biểu tình trước các khu lao động, kêu gọi phát động lãn công. Để rồi, bất cứ cuộc tranh đấu nhỏ nào cũng trở thành cuộc đụng độ lớn, thành quả là thêm kẻ đào ngũ, làm tai hại cho công nhân, lao động và đảng viên đang có việc làm.

Hơn thế nữa, tại hội nghị Giang Tô mới đây, đưa ra biện pháp “Tổ chức phong trào đại đình công” cùng “Nổi dậy địa phương”. Hè năm ngoái, có dấu hiệu manh nha đấu tranh của công nhân Thượng Hải, nhưng đã bị đường lối manh động của Đảng làm hỏng. Tất nhiên, công nhân đã bị đàn áp; Nếu mà đường lối của hội nghị Giang Tô được thực hiện trọn vẹn, cuộc tranh đấu nào của công nhân cũng sẽ bị dập tắt hết. Đảng ta không còn hướng dẫn, làm cho làn sóng cách mạng dâng trào nữa, mà đã trở thành kẻ hành quyết, phá hủy cuộc tranh đấu của công nhân tận gốc rễ.

BCHTƯ đương nhiệm, nếu thật tâm thấy sự phá sản của Đại hội VI qua sự chỉ đạo trực tiếp của Comintern (IV), mới là nguyên ủy sự chấp hành cái chính sách phá sản kể trên, thế mà lại còn dùng chính sách chụp mũ cơ hội và manh động cho quá khứ để vô hiệu hoá Đảng, vô hiệu hoá cách mạng! Không cần biết Comintern, hay ĐCSTQ, ai đã thỏa hiệp với chủ nghĩa cơ hội để có sai lầm: Khi làm cách mạng thất bại, đó là tội ác. Nay sai lầm ấy được chỉ rõ ra, trắng trợn, bởi các đồng chí đối lập rồi, nhưng các đồng chí kia vẫn chưa nhận chân ra mình cũng sai lầm trong quá khứ và trong ý thức, thì như thế, họ mới tiếp tục đi theo sai lầm quá khứ. Thêm nữa, để che đậy sai lầm cho một vài cá nhân, họ còn tự tung tự tác, vi phạm lề lối tổ chức Bolshevik, lạm dụng quyền lực của cơ quan tối cao, ngăn không cho tự phê trong Đảng, trục xuất hàng loạt cán bộ Đảng, tất cả những ai dám nói lên tư tưởng chính trị riêng, làm Đảng chia rẽ. Đó là tội ác của mọi tội ác, ngu xuẩn nhất, nhục nhã nhất.

Không người Bolshevik nào e sợ việc công khai tự phê bình trước công chúng. Cách độc nhất Đảng có thể tranh thủ được quần chúng là thi hành việc tự phê một cách can đảm, không vì sợ mất quần chúng mà bỏ tự phê. Che đậy sai lầm như BCHT Ư đang làm bây giờ, chắc chắn sẽ mất quần chúng.

Đa số đảng viên đã cảm thấy sai lầm này, và khủng hoảng trong Đảng trên nhiều cấp độ khác nhau. Giản dị là, khi chúng ta không hề muốn kiếm sống bằng cách trong Đảng, khi chúng ta còn cảm thấy có trách nhiệm với Đảng và với cách mạng, bất cứ đồng chí nào cũng phải đứng lên, giải quyết việc tự phê bình Đảng để Đảng qua cơn khủng hoảng. Im lặng mà nhìn, khoanh tay, khi Đảng trên đà tan rã, chắc chắn là một tội ác!

Các đồng chí!

Chúng ta đều biết rằng bất cứ ai mở miệng phê bình lỗi lầm của Đảng là người đó bị khai trừ, trong khi sai lầm cứ y nguyên, không được chỉnh. Chúng ta phải cân bằng lại. Điều gì quan trọng hơn? Cứu vãn Đảng hay cốt giữ tên mình mãi trong danh sách Đảng viên?

Từ Hội nghị 7 tháng Tám, thông qua kế hoạch “Tổng phát động võ trang nổi dậy” và các cuộc nổi dậy sau đó ở vài nơi, tôi đã viết nhiều thư gửi Trung ương, vạch ra rằng cảm tình cách mạng của quần chúng chưa đến cao trào, rằng QDĐ chưa vỡ ngay, rằng nổi dậy mà thiếu điều kiện khách quan chỉ làm suy yếu Đảng trước mắt quần chúng và làm quần chúng xa rời. Tôi đề nghị thay chủ trương nổi dậy bằng chủ trương tranh thủ quần chúng, kết hợp quần chúng bằng những cuộc đấu tranh mỗi ngày. BCHTƯ lại cho rằng phát động Tổng nổi dậy mới là theo chính sách mới, có thể sửa sai chính sách cơ hội, thuận với điều kiện khách quan trước tình hình, mới là đường lối bảo đảm đến thắng lợi, nhưng thế lại chính là tiếp tục đường lối cơ hội chủ nghĩa. Tất nhiên, họ chẳng hề xem xét ý kiến của tôi, coi lời lẽ tôi là trò đùa. Họ còn tuyên truyền khắp nơi, rằng đã có chứng cớ tôi vẫn không chịu nhận sửa lỗi cơ hội của tôi. Lúc ấy tôi bị ràng buộc của kỷ luật Đảng, có thái độ thụ động, không vượt nổi cái đỉnh của tổ chức để phát động sự quyết tâm chống chính sách phá hoại Đảng của BCHTƯ. Điều ấy tôi xin nhận.

Sau hội nghị VI, tôi còn giữ nhận thức sai và còn hi vọng lầm, rằng BCHTƯ mới sẽ nhìn ra những bài học quá khứ, rồi chính họ thức tỉnh, rằng rất không cần thiết phải theo một cách mù quáng đường lối sai lầm của Comintern nữa. Tôi vẫn giữ thái độ thụ động, lại thấy không nên đem những ý kiến mới ra thảo luận trong Đảng làm gì, dù cho tôi hoàn toàn đã không đồng thuận với đường lối của Hội nghị VI. Sau trận chiến giữa Tưởng Giới Thạch và bè lũ Quảng Tây, và “Kỉ niệm phong trào Ngũ Tam thập”, tôi có cảm tưởng BCHTƯ vẫn ngoan cố giữ đường lối cơ hội và manh động chủ nghĩa, và dù với chiêu bài nào khác, họ cũng vẫn không đổi: Trừ phi có cuộc thảo luận công khai, mọi đảng viên các cấp thấp đến cao, đều đứng dậy phê bình, thì sự sai lầm nghiêm trọng của đường lối Trung ương vẫn không sao sửa được. Thế mà, toàn thể đảng viên vẫn bị chế ngự và trói buộc bởi kỷ luật Đảng, “Tức cứ việc tức, nhưng không được nói.”

Lúc ấy tôi không nhịn nổi khi thấy Đảng vẫn cứ chấp hành đường lối sai được nữa (máu vô số đồng chí đổ ra, còn nóng hổi), nên tôi lên tiếng, làm bổn phận mình từ tháng Tám trở đi. Có vài đồng chí can, nói rằng Trung ương xem quyền lực vài lãnh tụ quan trọng hơn quyền lực Đảng và cách mạng, rằng người ta đang nỗ lực che giấu lỗi lầm của một số lãnh tụ, không nhận phê bình của bất cứ ai, rằng càng lên tiếng càng là lý do để bị khai trừ. Nhưng sự lo lắng của tôi đối với Đảng làm tôi phải bỏ sự lo lắng bản thân.

QTCS và BCHTƯ từng chống lại chuyện nghiên cứu những thất bại trước đó rất lâu. Nay tôi cứ lên tiếng chỉ trích, họ công bố nhận định mới, “Ông ta […] không thành thật nhìn nhận lỗi mình về tội lãnh đạo kiểu cơ hội trong thời kì đại cách mạng, vẫn không nhận ra lỗi thật sự của mình ở đâu, cho nên sự sai lầm tiếp tục là điều không tránh khỏi.”

Lời lẽ trên mô tả thật chính xác về chính các tác giả của nó. Thực ra, nếu tôi đã tự mâu thuẫn trong đầu, không đếm xỉa gì đến quyền lợi vô sản, không quyết tâm tìm hiểu sai lầm, vẫn tiếp tục thi hành công việc dơ bẩn cho họ, mặc người khác theo đường lối sai lầm, họ sẽ như trước, với cây bút và cái miệng cơ hội, sử dụng tôi để tấn công những người bị gọi là Tơ-rốt-kít, cốt che giấu sai quấy của họ. Nếu không, sao họ đòi tôi ra khỏi Đảng?

Phải chăng tôi, người đã bỏ phần lớn cuộc đời, đấu tranh chống tệ đoan xã hội, lại đi làm những chuyện – không biết đâu là phải, đâu là trái? Lý Lập Tam nói, “Bọn cơ hội chủ nghĩa Trung Quốc (V) không chịu thấm nhuần đúng đắn bài học thất bại của đại cách mạng trong quá khứ, chỉ nấp dưới danh hiệu Tơ-rốt-kít hầu che dấu tội chúng”. Thực ra, những lời của đồng chí Trotsky phê bình tôi gay gắt hơn StalinBukharin; Tôi không thể không nhìn nhận, rằng những bài học của quá khứ trong cách mạng được đồng chí ấy chỉ ra, trăm phần trăm là đúng, tôi đáng bị phê bình và đã không hề cãi. Tôi càng bằng lòng nhận phê bình của đồng chí, càng không chịu chôn vùi những bài học cùng những kinh nghiệm mà cách mạng đem lại. Tôi thà bị những người như Lý Lập Tam trục xuất khỏi Đảng, hơn là thấy Đảng bị khủng hoảng mà không bênh vực, để sau này bị khối đông đảng viên chê trách.

Tôi mong được bình an tâm trí khi chiụ đựng áp lực của đám phần tử xấu trong cuộc đấu tranh cho quyền lợi của vô sản. Tôi nhất quyết không chịu nhập bọn với bất cứ nhóm độc hại, thối nát nào!

Các đồng chí!

Tôi biết sự trục xuất tôi khỏi Đảng bởi một ít người trong mục đích che giấu sai lầm của những người ấy. Họ không những chỉ muốn khỏi phải nghe những ý kiến tôi “làm phiền” họ, như tôi đã phát biểu trong Đảng, khỏi phải nghe tôi kêu gọi sự ủng hộ quyền phát biểu công khai về chuyện chính trị nội bộ, và họ cũng muốn, rằng chuyện khai trừ tôi làm những đồng chí khác phải im miệng. Tôi biết khối đông đảng viên không hề hào hứng gì trước lệnh trục xuất tôi. Dù lệnh trục xuất tôi chỉ xuất phát bởi thiểu số lãnh đạo cấp cao, nhưng không hề có triệu chứng thù nghịch hay ác ý nào giữa khối đông đảng viên đối với tôi. Tôi vẫn tiếp tục phục vụ vô sản, sát cánh cùng tất cả đồng chí thuộc Quốc tế lẫn Trung Quốc, nếu như họ từ bỏ chính sách cơ hội của Stalin và bè lũ.

Các đồng chí!

Sai lầm của Đảng hiện nay không phải cục bộ, không phải ngẫu nhiên: Y như trong quá khứ, nó tượng trưng cho chính sách cơ hội điều khiển bởi Stalin tại Trung Quốc. Những đầu não trách nhiệm trong Trung ương ĐCSTQ, nhận làm cái máy hát của Stalin, không hề chứng tỏ ý thức chính trị nào mà mỗi ngày một tệ hơn: Không sửa họ được nữa. Trong Đại hội X của Đảng Cộng sản Nga (1921) Lenin nói, “Chỉ khi có sự hiện diện của các ý kiến chính trị khác nhau và không còn đường nào khác giải quyết, việc lập các nhóm khác là thích đáng”. Căn cứ điều ấy, ông lãnh đạo phong trào Bolshevik. [3]

Giờ đây, trong Đảng, không còn cách nào (hợp pháp hay công khai) để vuợt qua cơn khủng hoảng của Đảng. Mỗi đảng viên đều gánh trách nhiệm cứu Đảng. Chúng ta phải quay về tinh thần cùng đường lối căn bản cũ của Bolshevik, đoàn kết chặt chẽ, đứng lên cạnh tả đối lập Quốc tế của đồng chí Trotsky, nghĩa là, dưới biểu ngữ của Marx-Lenin thực sự. Ta phải quyết tâm, bền chí, và hoàn tất cuộc chiến chống chủ nghĩa cơ hội của Comintern cùng BCHTƯ Đảng Cộng sản Trung Quốc. Chúng ta không chỉ chống Stalin và bè lũ, mà cũng phải chống cả đường lối thỏa hiệp của Zinoviev và bè lũ. Chúng ta không sợ cái gọi là tội dám “Vuợt thứ bậc Đảng”, và sẽ hi sinh bất cứ gì để cứu Đảng và cứu cách mạng Trung Quốc!

Gửi lời chào vô sản,

Trần Độc Tú

(Chú thích ghi số La Mã I, II, III… là chú thích từ nguyên bản của “Thư luân lưu”. Các chú thích còn lại có xuất xứ từ các sách nghiên cứu khác.)

(I) Lúc này cách mạng Trung Quốc vào giai đoạn thoái trào. Có thể chỉ trông vào phong trào phòng thủ là đòi dân chủ để có thể làm thành cuộc cách mạng, nhưng như thế không là cách mạng. Xem về cuộc Tái Phối trí chống Tưởng, việc này chỉ là xung đột nội bộ của QDĐ. Phong trào ấy không là cách mạng. Chỉ khi quần chúng dâng cao tiến tới cuộc lật đổ toàn bộ chế độ tư sản Quốc dân Đảng chúng ta mới có thể bảo đó là cuộc cách mạng. Khi Đại hội VI nhận định rằng giai đoạn hiện nay của cách mạng Trung Quốc là giai đoạn cách mạng, chỉ có thể được hiểu là họ nói về cuộc cách mạng thứ ba, trong tương lai. Vì nếu người ta coi giai đoạn hiện nay là giai đoạn cách mạng, người ta sẽ rối mù về “Cương lĩnh chính trị cho cách mạng hiện tại Trung Quốc” tức là về cái gọi là “Mười yêu cầu của cách mạng Trung Quốc”. Lý thuyết ấy, là sản phẩm lai giống của chủ nghĩa cơ hội và chủ nghĩa manh động.

(II) Khi ấy (tháng Tư 1917) vài nguời Bolshevik trong Ủy ban Petrograd đòi trương khẩu hiệu “Tất cả cho Xô-viết”, Lenin trách mắng, nói họ làm thế là thiếu chín chắn, bảo họ theo chủ nghĩa phiêu lưu.

(III) Mới đây, Comintern ra chỉ thị, nói rằng các điều kiện mới làm cách mạng Trung Quốc đã vào giai đoạn chín mùi. Ban đầu, khi đọc lời ấy, đảng viên ĐCSTQ tưởng đã bị dịch sai chữ “chín mùi”. Sau khi bản gốc được Ban Tuyên truyền phối kiểm, xác nhận không có lỗi lầm dịch thuật. Trong phiên họp đảng viên ở Giang Tô, đa số vẫn hoang mang về chữ “chín mùi”, còn cãi nhau. Sau rồi chính những kẻ bướng bỉnh nhất cũng phải chịu nhận, rằng tình trạng chín mùi chỉ có thể hiện hữu trong sự tưởng tượng từ trong đầu họ thôi!

(IV) Sự phá sản của đường lối của Đại hội VI thành rõ rệt như đen với trắng, qua những lời lẽ sau, “Giai đoạn hiện tại của cách mạng Trung Quốc là giai đoạn cách mạng tư sản-dân chủ”, “Để đem lại chuyên chính dân chủ công-nông”; “Phú nông chưa mất tinh thần cách mạng… Đấu tranh, nhưng không nên đụng chạm đến họ”; “Xét về tình trạng hiện nay của chuyển cơ cách mạng và cương lĩnh cơ bản của ĐCSTQ, sự báo hiệu cho cách mạng đã hiển nhiên”,”Có những triệu chứng lớn cho làn sóng cách mạng đang nổi lên tại một vài tỉnh, cho sự thích hợp để thành lập Xô-viết”, “Cuộc cách mạng sắp xảy ra”; Và nhiều nữa. Đó là sự phá sản rõ rệt của Trung ương. Hàng Anh, Lý Phú Chung, Hà Mạnh Hùng cùng các tay thoả hiệp khác cho rằng mọi giải pháp của Đại hội VI là đúng. Thành ra Đại hội VI đúng, Trung ương là sai. Hiển nhiên rằng các kẻ thoả hiệp mới không những đã hiểu sai đường lối chính trị của đối lập, mà còn hiểu sai luôn đường lối chính trị của Đại hội VI dưới quyền chỉ đạo của Comintern. Họ không hề có đường lối nào của riêng họ. (Trotsky coi đường lối 4 Đại hội trước của QTCS (Comintern) do Lenin lập ra, để kế tục Đệ Nhị QTCS, là chính thống, căn cớ cho tả đối lập hoạt động.)

(V) Về thái độ đối với chủ nghĩa cơ hội của Lý Lập Tam và những người khác không bao giờ muốn ai hiểu về các sai lầm của chủ nghĩa cơ hội. Bọn này muốn dùng Ban Tuyên truyền và quyền hành của họ làm ai nấy chú ý đến chuyện cá nhân tiêu biểu cho chủ nghĩa cơ hội mà chúng muốn lên án, hòng tạo ra một tâm lý chung để chúng có thể lẩn tránh lỗi cơ hội của chính chúng. Chúng tuyên truyền để gỡ tội manh động chủ nghĩa của chúng cũng y như thế, cốt làm các đồng chí khác chú ý đến tội manh động tiêu biểu của những người như Chử Khiết Bài, hầu mọi người quên là chúng cũng manh động. Thời kỳ Hán Khẩu (tháng Tư-tháng Tám 1927), Chử Khiết Bài báo cáo đã mắng nông dân “quá đà”, bảo phản ứng của nông dân là hành động của bọn “du thủ du thực”. Hắn kêu gọi Ban Chỉ huy Đảng mọi tầng lớp phải theo đường lối của chính quyền Quốc gia! Tiếp theo biến cố Tràng Sa ngày 21 tháng Năm, đại diện QTCS là M. N. Roy [4] tuyên bố,” Trung Ương QDĐ đã phản cách mạng!” Lập tức, Lý Lập Tam mặt đỏ bừng, la lớn,” Đồng chí Roy nói thế, khác nào gửi cho Đảng cỗ quan tài!” Còn Thái Hà Sơn thì đã đòi giải giới ban Kiểm tra để tránh đụng chạm với quân QDĐ. Tôi muốn hỏi, lương tâm nào, lý thuyết nào, mà có những chuyện ấy? Dương Anh và Lư Nhất Nguyên bảo riêng với tôi: “Khi Lý Lập Tam phụ trách Ủy ban Quảng Đông, anh ta còn manh động hơn bất cứ đồng chí nào trong Đảng.

Bản tiếng Việt © 2007 talawas


[1]Từ Kiên (1871-1940) làm Bộ trưởng Tư pháp trong chính phủ QDĐ, hè 1926. Ông ta là một trong những người cánh tả QDĐ thuộc chính phủ Vũ Hán, đã xúi bẩy sự rạn nứt với Đảng Cộng sản, thúc Phùng Ngọc Tường về phe Tưởng Giới Thạch để cùng bức ép ĐCS. Khưu Mạnh Ngu (1889- ) giáo sư Đại học Bắc Kinh, thay Mao Trạch Đông làm trưởng ban tuyên truyền QDĐ vào tháng Năm 1926, là một trợ thủ đắc lực trong chính quyền Vũ Hán. Khoảng đầu thập niên 50, sang Mỹ làm giáo sư Đại học Berkeley ở California. Trần Đông Minh (1892-1946) gia nhập ĐCS năm 1920, bỏ sang QDĐ năm 1922, trong phe Uông Tinh Vệ, có chân trong chính phủ cộng tác với Nhật của Uông tại Nam Kinh thời Đệ Nhị Thế chiến. Tấn Yên Khải (1879-1930) Tỉnh trưởng Hồ Nam thời kì 1912-20, một trong những người chủ trương phe Vũ Hán nên thống nhất với Tưởng. Năm 1928, giữ chức Trưởng ban Hành pháp chính quyền Nam Kinh, chức vụ tương đương Thủ tướng. (Chú giải của Leon Trotsky On China, Pathfinder, tr. 653. Chú thích này chứng tỏ sự hồ đồ của Borodin – N.D.)
[2]Phan Kế là bí danh Tàu của một người Nga. Không rõ tên thật. (Leon Trotsky On China, tr. 653)
[3]Tháng Ba 1930, tả đối lập thành hình tại Thượng Hải. Trần Độc Tú được bầu làm Tổng Bí thư. Nhóm này ra tờ Vô sản làm cơ quan ngôn luận. Nhóm lấy tên “Người Vô sản”. Cùng lúc, hai nhóm “Tháng Mười” và “Xã hội Chiến đấu” ra đời. Mùa xuân 1930, Trotsky viết thư cho nhóm “Wo-men ti hua” (Chuyện của chúng tôi), nói không thấy 4 nhóm có gì khác biệt, đề nghị hợp nhất, cùng hoạt động cho cách mạng Trung Quốc. Sau đó, Trần Độc Tú đứng đầu 4 nhóm kết hợp. Tháng Chạp, Lý Lập Tam bị truất chức Bí thư, Hướng Chung Phát lên thay, dưới sự giám sát của các đảng viên đã học tập từ Nga về. (Chú giải của Thomas K’uo, Ch’en Tu-Hsiu, University Press, tr. 282)

[4]M. N. Roy (1887-1954) người Ấn Độ, đại diện Quốc tế Ba, đến Trung Quốc tháng Năm, 1927, sau khi cuộc tàn sát của QDĐ tại Thượng Hải đã xảy ra. (Chú thích của Zheng Chaolin, An Oppositionist For Life – Trịnh Siêu Lân, Kẻ đối lập suốt đời – Humanities Press, tr. 283)

 
© talawas 2026