trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
13.11.2003
Jean Tardieu
Thư Hà Nội – Gửi Roger Martin du Gard
 

Lời tựa

Cuốn sách nhỏ này được giới thiệu cho độc giả Việt Nam hôm nay thông qua bản dịch đầu tiên “Thư Hà Nội” là một cuốn sách lớn.

Quả là, cần phải đón chào cuốn sách này không chỉ như một tác phẩm văn học hay, như một lá thư lịch lãm và tinh tế của một nhà thơ trẻ viết cho một đại văn hào được chiêm ngưỡng và tôn trọng (Roger Martin du Gard), mà còn như sự làm chứng về tình hình thuộc địa ở Đông Dương vào những năm ba mươi của một người có tấm lòng nhân hậu. Đây là một minh chứng hiếm có, vì thời đó không có nhiều cuốn du ký vượt ra khỏi được những chuyện ngoại lai hay ngợi ca thông thường, và thực sự không có nhiều cuốn ngày nay còn xứng đáng được đọc và lưu giữ.

Vượt lên trên cách suy nghĩ hẹp hòi và tầm thường của phần lớn các đồng hương xa quê của ông, Jean Tardieu, người phản kháng chủ nghĩa thực dân, đã ngay lập tức thấu hiểu và yêu mến tâm hồn người Việt Nam, ông biết rằng một dân tộc áp bức dân tộc khác sẽ không bao giờ có thể là một dân tộc tự do, và đau khổ vì những gì ông cảm nhận và nhìn thấy, ông sống những năm tháng ở Hà Nội với nỗi cay đắng xót xa.

Cảm giác tan hoang vô hạn ấy là điều ông cảm thấy khi đứng trước thực tế đáng phẫn nộ gắn với sự nhục nhã kia. Ông cũng thể hiện ở đây sự luyến tiếc một cuộc hẹn lỡ giở với lịch sử và thấy rằng lẽ ra có thể thiết lập những mối quan hệ khác giữa hai dân tộc. Phải chăng bởi vì cha ông, người sáng lập ra Trường Cao đẳng Mỹ thuật Hà Nội, đã thử đưa ra cách tiếp cận này? Dù thế nào thì “Thư Hà Nội” cũng rất hòa hợp với tuyển tập văn học Pháp chống chủ nghĩa thực dân mà ở đó Jean Tardieu gặp gỡ với André Gide hay Jean – Paul Sartre.

Nhưng cuốn sách này không chỉ là một tư liệu lịch sử mà còn là một chặng đường thơ. Khi ngắm nhìn dòng sông Hồng, những khoảng ruộng lúa tuyệt vời của vùng châu thổ ấy, Jean Tardieu bị quyến rũ bởi vẻ duyên dáng của một đất nước, nơi mà khí hậu, màu sắc và nhiệt độ kết hợp với nhau không giống như ở bất kỳ nơi nào khác. Mượn cái nhìn của họa sĩ, khi du ngọan rong ruổi khắp đất nước mà ông sẽ mê say, ông biết miêu tả cả ánh sáng và nét u buồn của phong cảnh, “tất cả ánh chói bị phủ mờ, phai nhạt đi, vừa lóa mắt lại vừa êm dịu thức tỉnh trong tâm hồn những âm vang sâu xa…”. Chúng ta sẽ không thể quên được những gì ông viết về nông thôn Hà Nội khi đi qua những kênh đào và những con đê…

Vì vậy việc xuất bản tác phẩm “Thư Hà Nội” quí giá này là một sáng kiến hay của Nhà xuât bản Phụ nữ, và đương nhiên Bộ phận Văn hóa Đại sứ quán Pháp xin cảm ơn Nhà xuất bản và cùng hợp tác trong việc này.

Francois Gauthier

(Tham tán Hợp tác và Hoạt động Văn hóa, Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội)

*


Tháng Giêng năm 1928, tại Hà Nội, một anh binh nhì bắt đầu một bức thư gửi Roger Martin du Gard, người anh đã quen trong những buổi gặp mặt nổi tiếng ở Pontigny [1].

Anh lính số 560, bởi đó chính là số hiệu của anh, đang phục vụ quân địch tại đấy trong những điều kiện có phần đặc biệt: anh là trợ lý tham mưu dưới quyền chỉ huy của anh ruột Marcel Aymé; do đã in được những bài thơ đầu tiên ở tạp chí N.R.F [2] (lúc ấy được mọi người đọc say mê), anh được các chỉ huy quý mến và được hưởng một vài lợi thế bé nhỏ; sau cùng, anh được ở ngay trong biệt thự người bố, họa sĩ Victor Tardieu, hiệu trưởng trường Cao đẳng Mỹ thuật.

Nhưng cả tiện nghi lẫn ưu tiên đều không ngăn được anh thấy, và anh có nhiều điều để nói tới mức bức thư bỏ dở rồi viết tiếp, đã trở thành một nhật ký thực sự. Đó cũng là ý nghĩ của người nhận thư, ngay khi đó đã động viên anh nên cho xuất bản dưới hình thức này hay hình thức khác, một “Bức thư từ Đông dương”.

Jean Tardieu đã không làm ngay việc đó (do chức vụ đương nhiệm của cha ông) nhưng ông vẫn rất tâm đắc về bức thư, không sửa chữa gì ông mong muốn nó sẽ được xuất bản sau khi ông mất. Ngày nay đọc nó, ta hiểu tại sao, bởi trong bức thư có một lời phê phán khá mạnh, rất riêng đối với chủ nghĩa thực dân và “nền dân chủ của các Homais”, cùng nhiều vấn đề về bản sắc của các nền văn hóa, được diễn đạt qua những câu chữ hẳn Segalen sẽ không chối bỏ. Và sự hấp dẫn lớn nhất của nó là cách gợi tả môi trường, khí hậu, phong cảnh và hội họa phương Đông, chưa kể tới vai trò của các yếu tố này trong việc tự khám phá bản thân.

Tóm lại, Jean Tardieu sẽ từ Hà Nội trở về (tại đây ông đã làm quen với người sau này sẽ trở thành vợ ông “một thiếu nữ cực kỳ siêu trong bộ môn khoa học”) sẵn sàng để đón nhận trong ông, bất kỳ cảnh quan là thế nào chăng nữa “sức tưởng tượng thường câu được thiên nhiên tươi rói trong một lưới ảo ảnh”.

Gérard Macé



*

Hà Nội, 22 tháng Giêng 1928

Ông kính mến,

Tôi quá hiểu không thể bắt đầu bức thư này mà không kể cho ông một câu chuyện dài về vô vàn sự cố và chương hồi mà chuỗi chuyển tiếp lý giải cho sự yên lặng của tôi và khiến tôi được thứ lỗi. Nhưng tôi cũng biết rằng ông đã hiểu cho tôi ngay từ trước: có cần phải nói với ông lần nữa rằng, dù có là thời gian, khoảng cách hay sự cố, dù trong tôi có tích tụ những hình ảnh mới mẻ, sặc sỡ và huyên náo thì ông vẫn hiện diện trong ý nghĩ tôi, ở trung tâm các tình cảm giữ gìn quý báu nhất của tôi, như thể tôi chỉ vừa gặp ông cách đây chốc lát. Vậy xin ông cho phép tôi đột ngột bắt đầu bức thư này, để khẳng định sự hiện diện ấy bất chấp mọi điều và để chính xác tôi có được ảo tưởng huyền diệu là chỉ mới gặp ông vừa đây thôi.

Hôm nay, ngày 22 tháng Giêng, hoặc đêm trước ngày mùng một Tết âm lịch, tôi đã đi xem vở Di chúc của Lão Leleu ở nhà hát Hà Nội. Nó xen vào giữa hai vở trước đấy đã được diễn ở rạp Vieux-Colombier, Thức ăn gia đình và Con ác là chột. Quả ông giám đốc nhà hát thật táo gan: hẳn ông ta phải biết rõ công chúng phần lớn là “tỉnh lẻ” này sẽ không thưởng thức được vở Lão Leuleu. Đó là điều đã xảy ra: người ta nói với tôi rằng phòng hát chật ních khi diễn một vở ca kịch nhẹ như Ba cô gái khỏa thân, còn hôm nay trong cái nhà hát khá rộng này, chỉ có nhiều lắm là một trăm người, trong trăm người đó có chừng mười người là mãn nguyện, trong mười người đó có một anh binh nhì đang như được uống sữa, nói theo nghĩa bóng. Quả nhiên tác phẩm của ông được ông diễn không phải hoàn hảo, nhưng cũng không hề kém cỏi. Sân khấu tỉnh lẻ ư? Không, còn khá hơn thế. Còn hơn cả một nhà hát Paris loại hai nữa: giám đốc nhà hát đóng vai lão Lessandre và lão Leleu, và ông ta, tên là Bourrin, còn khoe đã từng diễn ở rạp Vieux – Colombier. Tôi không rõ điều đó có đúng sự thật không. Dù sao ông ta cũng đã theo khá sít sao kỹ thuật của Copeau, để có thể, quả vậy, nhại theo khá thành công cách diễn của ông ấy… ở tận bên bờ Thái Bình Dương – và sưởi ấm lòng vài kẻ xa xứ. Lòng xiết bao rung động, anh binh nhì ấy đã nhìn thấy màn mở ra trên một bài trí giản lược, bên phải là cái hòm nổi tiếng và bên trái, cái mũ bonê, chăn gối của ông lão Alexandre! Câu “Kh… óa mõm mày lại” phát ra rất khéo, câu rượu mác [3] “năm nhật thực” nghe giòn tan, tiếng nấc của kẻ hấp hối hài hước mà không quá đáng, và các trò diễn xuất của ông lão Leleu được sắp xếp một cách thông minh và có gu. Vai la Tourine diễn tồi, không chút dí dỏm – nhưng nhìn chung người ta có thể kinh ngạc và sung sướng vì xem được một vở diễn như vậy ở Hà Nội! – Cuối cùng, có một chi tiết sẽ khiến ông thú vị: bát xúp mà la Tourine đưa lão Lessandre là một trong mấy “Ké – batt” Annam xinh đẹp, một cái bát ăn cơm be bé, bằng sứ mỏng xanh nhờ, có chấm những đốm lớn màu lục sẫm: nếu giữa cái nhà hát giống hệt mọi nhà hát Âu châu, phía sau các hàng ghế tựa nhô lên gáy những người châu Âu khiến trong chốc lát tôi tưởng mình đang ở Pháp – đột nhiên cái bát ăn cơm chẳng chút thuộc vùng Berry này lại nhắc tôi rằng tôi đang ở nơi nào!

*


Ngày 23 tháng Giêng

Chiều qua hơi mệt vì đột nhiên có một ngày nóng – nóng và buồn tẻ – một bất ngờ khó chịu sau ba tuần trời đông dịu ngọt, mát mẻ, đôi khi còn lạnh thật sự – tôi đã bỏ dở bức thư. Nhưng giấc ngủ của tôi đã bị chậm lại rất lâu do tiếng nổ không sao chịu nổi của những quả pháo người dân An nam thường đốt vào đêm trước ngày “Tết” tức là ngày đầu năm, ngày lễ quan trọng nhất, trong ngày đó cả dân tộc nghỉ ngơi, từ người cu li bình thường đến các thượng thư của nhà vua. Vậy là tối qua, và ngày hôm nay nữa, người ta đã bắn đi những tràng pháo cực kỳ ầm ỹ để xua bọn quỷ, sợ hãi cuống cuồng giữa tiếng inh ỏi, chúng bỏ chạy, nhờ đó các lời nguyện, các lời cầu chúc cho một năm mới hạnh phúc đủ thì giờ để khắc sâu hơn vào bài vị các vị thần tốt lành. Nhưng thưa ông, đừng sợ rằng tôi rơi vào “mầu sắc địa phương”. Sau ba tháng ở đây, tôi vẫn chưa biết chút gì về người dân Bắc Kỳ về cách họ phản ứng, về suy nghĩ và phong tục của họ… và tôi sợ rằng năm sau tôi sẽ ra đi mà không biết gì hơn: Tôi sẽ thử cố gắng hết sức niềm nở, khoan dung, tươi cười để những người đối thoại An nam có thể tin tôi, những cố gắng ấy sẽ chẳng thể làm họ quên rằng tôi là kẻ tiếm quyền, kẻ đi chinh phục, than ôi nhất là tôi lại mặc quân phục của lính đánh thuê tàn nhẫn của phương Tây! Họ thường xuyên tự giấu kín trong bản thân họ, và thái độ cực kỳ lịch lãm, kính trọng thái quá, khó chịu kinh khủng, họ thường bộc lộ với người Pháp, tôi tin chắc rằng, chỉ dùng để họ càng tách ra khỏi chúng ta. Tôi nghĩ rằng không có cách gì chữa được tình trạng này: bao giờ mỗi dân tộc, khi nghĩ tới một dân tộc khác, chẳng có khuynh hướng nghĩ về dân tộc này một cách tổng thể, tổng hợp, nhanh gọn, thường sai lệch, mà không nghĩ tới những khác nhau khá lớn có thể có giữa nhóm này nhóm khác, thành viên này hoặc thành viên khác trong lòng dân tộc nước ngoài đó? – chính theo cách đó mà một người Pháp có thể nói rằng: “Người Đức là thế này, thế kia”, không hề nghĩ rằng có những khác biệt không sao kể xiết giữa người Đức này và người Đức kia. Do vậy, tôi tin chắc rằng cảm tưởng đầu tiên những người Đông dương có về người Pháp lúc diễn ra cuộc xâm lược, vẫn tồn tại và sẽ không bao giờ mất đi, chừng nào ở đây chúng ta còn là những kẻ “thực dân”. Cho dù ta có nói với họ, thề với họ là ta không cùng quan điểm với những người dân thực sự, ta thật lòng mong muốn có được mục đích vô tư – tôi thẩy rõ họ sẽ trả lời ra sao: họ sẽ mỉm cười vẻ sung sướng, cực kỳ lễ phép họ sẽ cảm ơn anh về những ý tốt đó – nhưng rồi họ sẽ đứng lặng, khép kín và càng ngờ vực hơn bao giờ hết: trước mặt họ, ta vẫn cứ là người Pháp, nghĩa là kẻ tiếm quyền, không lúc nào quên che giấu đằng sau những lời đường mật, một tính toán nào đó về lợi lộc hay để thống trị. Những người Pháp nào vốn là những “thực dân” thực thụ ở đây, đển từ ba mươi hoặc bốn mươi năm nay, không hề muốn công nhận điều đó: họ bịt tai nhắm mắt lại và cứ tiếp tục coi dân tộc đặc biệt tinh tế và thanh nhã này là ” nói giống hạ đẳng” và nhiều điều ngu xuẩn giống như vật. Nhưng cũng phải có một tình cảm bị thui chột hoặc chai cứng lắm – do khí hậu hoặc ý nghĩ khả kính về một nghĩa vụ “cải hóa” – thì mới không “đánh hơi” thấy xung quanh ta cái không khí không chỉ thù địch mà còn tệ hơn thể nữa: một không khí chính xác tuyệt đối im lặng, phi bản sắc như thể chỉ cần có một người Pháp đến gần cách năm mươi mét, là đủ để dập tắt mọi tia sáng tự do, tự ngã đích thực trên gương mặt một người bản xứ. Và nếu người này lại là một quan lại có chức vị cao, kiêu hãnh tiếp nối một dòng dõi, có từ khai thiên lập địa, khi người Pháp trò chuyện với họ, đáng lẽ bộc lộ suy nghĩ riêng của ông ta sẽ tìm cách đoán ra ý nghĩ của người đối thoại, để tỏ ra lúc nào cũng đồng ý với người này. Thiếu tự trọng chăng? Theo ý riêng tôi, hoàn toàn ngược lại: một cung cách vừa để giữ riêng cho mình những suy nghĩ sâu xa, và cũng là để biểu lộ – đối với bản thân – tính ưu việt, niềm kiêu hãnh – tính ưu việt thực sự vốn dĩ phải là thái độ cung kính lễ phép, là sự hạ cố. Sao không nhận ra nơi đây cách thức người ta thường dùng đối với mọi kẻ quấy rầy khó chịu và nhiều lời: người ta vội vã đồng ý với kẻ kia để có thể nhanh chóng thoát khỏi việc phải tiếp xúc với y. Mọi điều tôi vừa nói với ông có lẽ không đúng. Tôi đưa ra với ông những giả thuyết trên vì cái giá của chúng: thực không dễ gì hiểu được suy nghĩ và ý định của những người khác biệt với chúng ta như những người vùng Viễn đông này. Nhưng tôi tin hiện nay tôi ở một vị trí có thể thử làm một vài khái quát e dè và thận trọng, từ một số sự việc. Dù sao tôi cũng sẽ cố không bao giờ xác lập một quan niệm mà không nghĩ tới quan niệm ngược lại.Bằng cách luôn chữa quan niệm này bằng quan niệm kia, có lẽ tôi sẽ đạt đến chỗ nhìn nhận sáng tỏ hơn và trở về sau chuyến đi này với một vài nhận xét chính xác sẽ có thể giúp tôi một ngày nào đó. Đấy là một trong những sở hữu đẹp nhất tôi có thể có được từ nơi đây. Nhưng đây này, cho tới nay tôi thực sự chưa bao giờ làm rõ được một ý nghĩ gì. Và “tôi ra vẻ khôn lỏi” khi cứ muốn trình bày như một phương pháp, cái điều chỉ là một sự bất định đáng buồn về quan niệm và trạng thái! Thật vậy, chưa bao giờ tôi cảm thấy thất thường như từ khi tôi đến “định cư” một thời gian ở Hà Nội. Điều này chắc do khí hậu: tôi thấy dường như ở xứ này, hơn bất cứ ở nơi nào khác, con người trực tiếp lệ thuộc vào quyền lực độc đoán và đỏng đảnh của các nguyên tố. Người ta cảm thấy mình trở nên chỉ là một con rối nối bằng hàng ngàn sợi giây vô hình với ý muốn của mặt trời, của mây, mù, của gió và giờ giấc; ý nghĩ đổi mầu, tính nhậy cảm tăng giảm vừa bằng thời khắc một cơn giông tiền tới gần, nổ ra rồi tan đi. Về phần tôi, chưa có ngày nào mà trạng thái tinh thần và thể chất của tôi lại chẳng trải qua nhiều giai đoạn kế tiếp: từ mệt mỏi tới sảng khoái, từ thoải mái thanh thản tới một sự khó chịu bí ẩn, từ niềm vui trọn vẹn tới tuyệt vọng. Và tôi hay nghĩ tới một điều mà Gide đã ghi nhận về các phong cảnh châu Phi: tính không biệt hóa. Vâng, đúng là như vậy, ở xứ Bắc kỳ này người ta có cảm tưởng rất rõ về một thiên nhiên không phân hóa, hoặc chưa phân hóa: không có giới hạn chính xác giữa mùa này và mùa khác, từ ngày này sang ngày sau, khí hậu chênh từ mười đến mười lăm độ: buổi sáng đi từ nhà, trang bị áo len, cuộn kín trong áo capốt da, tôi có thể tưởng mình ở Paris vào tháng mười hai: cũng ánh nắng nhạt và vui, trời một mầu xanh – xám tuyệt đẹp, tiếng động đanh đanh của đường phố, cảm giác nhẹ bỗng. Và đột nhiên, ngày hôm sau, nóng như mùa hè Pháp – trời đầy giông tố, mầu xám chì, mầu phơn phớt bóng bảy của các đám mây. Và thời tiết cứ thay đổi vậy ngày lại ngày, với một sự sáng tạo phong phú không sao kể xiết, hết thảy sắc mầu, mầu nọ kế tiếp mầu kia, hỗn độn. Cũng có một sự không biệt hóa nào đó trên chính mặt đất: ở vùng nông thôn Châu thổ, có những chỗ ta không hiểu nơi đâu kết thúc ruộng lúa, nơi đâu lại bắt đầu hồ ao – và nước các ruộng lúa lại giống như nước biển, ở đó ta thấy cá và những con cua nhỏ. Không biết bao điều bất ngờ ngộ nghĩnh dành cho người khách du hành mới đến: một nông dân ngồi câu bằng cần câu bên ruộng của mình nếu cây lúa đã cao, người ta không nhìn thấy nước và không còn hiểu ra sao nữa! Trên mười thửa ruộng cạnh nhau, có một thửa người ta đang gieo hạt, một thửa nữa người ta đang cấy mạ, những thửa khác mỗi thửa lại ở một độ sinh trưởng khác nhau và ở thửa cuối cùng người ta đang gặt! Sau cũng các con sông, rộng như những eo biển nhiều khi đổi giòng, và vào những thời úng lụt cả một tỉnh có thể biến thành biển trong đất. Khi nước rút, dân chúng đã thích nghi lại bình tĩnh xây hẳn một cái làng cho thời hạn sáu tháng trên mặt sông đã khô và chúng ta đây vốn “không có thói quen”, chúng ta chẳng biết đâu là bờ sông và đâu là chính con quái vật: nơi đây là một cái đầm, nơi kia một cái ao hình méo mó, đó đây là những con sông ngoằn ngoèo. Toàn bộ thiên nhiên do vậy như giục những khách lạ, những người không thích nghi, sống ngày qua ngày và trong một trạng thái thường xuyên chuyện nọ xọ chuyện kia. Phải có một ý chí kiên định lắm mới theo đuổi được dài lâu một suy nghĩ khi có nhiều gián đoạn đến thế! Người ta cảm thấy mình chưa bao giờ phi lý đến vậy. Có những ngày nắng thật quyến rũ – khi ánh sáng chảy quanh anh, lẫn vào máu anh, khiến anh trong veo và sáng như thủy tinh – tới mức ngay khi ta có những nỗi buồn lớn nhất trần gian thì ta vẫn buộc phải vui cười. Một ngày khác khi tất cả đều chạy ro ro, khi người ta chẳng có lý gì để phàn nàn, đột nhiên thổi đến một ngọn gió gay gắt, lẫn với một làn không khí hầm hập. Bầu trời bị bít chặt bằng những đám sương mù lớp lớp, đáng lẽ ngăn được những tia sáng chói lọi của mặt trời, thì lại khúc xạ chúng thành những mặt nhỏ vô vàn những giọt li ti treo lơ lửng – thế giới trở nên thù địch – không có ánh sáng, một thiên thể thâm hiểm đang giấu mặt để dễ dàng tống cho anh một cơn cảm nắng – người ta vừa ra mồ hôi lại vừa run cầm cập.

Chỉ một giờ sau kiểu thời tiết này, mọi lý do khiến ta vui sướng đều biến mất – bị đốt cháy hoặc hòa tan, ta chẳng biết nữa. Tuyệt vọng. Phải đợi khi các Ngài quỷ dữ bằng lòng thay đổi ý kiến, sẵn sàng đem đến cho anh một tẩu thuốc phiện do họ nghĩ ra! Thật vậy, đột nhiên xảy ra một cái gì đó trên bầu trời, một cái gì đó rất khó hiểu: phía đâu đó một cơn giông vừa bục ra, những cơ bắp cứng lại vì một sự dọa dẫm xa lạ bỗng giãn ra và cũng lúc ấy giây thần kinh của ta chũng xuống. Một bình minh tươi rói hoặc nhẹ nhàng, hoặc nữa là một hoàng hôn hiền hòa bao dong khẽ nở, xòe nhanh như một chiếc quạt. Người ta cảm thấy thoải mái thấm vào người, như chưa từng bao giờ ta cảm thấy ở Pháp (bởi ở cái thế giới kì cục này, cảm giác khó ở cũng như sảng khoái có một cường độ gấp ba bốn lần so với khi người ta ở xứ ôn đới). Và các ý nghĩ tốt đẹp lại nảy sinh trở lại!

*

24 tháng Giêng

Để có thể nhất quán với tính tiền hậu bất nhất của tôi bỗng nhiên tôi tự hỏi: có lẽ có thể đúng là dân Việt Nam sung sướng hơn từ khi chúng ta che chở họ (hơi theo kiểu Arnolphe che chở tuổi trẻ của Agnès! [4] Các khoảng cách ghê gớm về giầu nghèo trước đây tồn tại giữa các đẳng cấp khác nhau của vương quốc cũ có hơi giảm đi; một người An nam, nhân viên nhỏ trong một cơ quan Pháp, chắc chắn giầu hơn, tự do hơn, sung sướng hơn so với khi làm thư lại phục vụ một quan lại. Và lại còn y học. Rõ ràng là dịch bệnh giảm xuống. Dân số An Nam tăng lên khá hơn căn cứ trên thống kê. Và sự thực thì người nông dân hèn kém nhất nếu bị ốm, thay cho những loại thuốc dựa trên kinh nghiệm chủ nghĩa, có thể được một thầy thuốc người Pháp tốt săn sóc không mất tiền. Nhưng đây chính lại là vấn đề: một con người có sung sướng hơn khi phục vụ một ông chủ hiền lành và khoan dung nhưng lại là một người nước ngoài, không hiểu gì anh ta, so với việc phải chịu những đòn roi mây quen thuộc từ phía một ông chủ tàn ác nhưng cùng giống nòi, có cùng tập quán và nói cùng ngôn ngữ với nạn nhân của ông ta không? Và có phải được chết bằng một vị thuốc đã lần lượt giết hết các tổ tiên anh ta [5] từ hàng trăm thế hệ này, còn hơn là khỏi bệnh trong một nhà thương xa lạ, trong một nhà thương xa lạ, trong một không khí khiến anh khó chịu so với các thói quen suy nghĩ và nhìn nhận của anh không? Có lẽ có một cách để hợp tác với dân tộc này, điều khiển không thô bạo, tìm cách đi theo hướng của họ chứ không phải buộc họ về phía mình, không thể để họ cảm thấy áp lực quyền uy, tranh thủ được lòng tin của họ, Nhưng như vậy phải có rất nhiều sự tinh tế và trí thông minh, một lòng tốt không nhu nhược, một ý chí muốn thích nghi, mà những người ở đây đã không có. Lý ra phải cử đến đây, không phải những kẻ tầm thường những người “trung bình”, mà những con người hành động và những quan chức hành chính giỏi nhất. Có bao nhiêu quan điểm sai, bao nhiêu lầm lẫn người ta đã bắt họ phải nuốt cho kỳ được. Thật đáng buồn khi nghĩ rằng ở Đông dương không còn những trường trong đó có dạy chữ Nho, rằng ký ức tinh thần và nghệ thuật của nước Trung hoa, trong nền văn hóa Việt Nam trước đây, vốn đóng vai trò giống như văn hóa cổ đại Hy Lạp ở nước chúng ta, đã mất dần, và thay cho nhiều tính trí tuệ đến vậy, thay cho bao nhiêu sự cao thượng tinh thần ấy, người ta lại nhét vào óc trẻ con tất cả cái gì xoàng xĩnh tẻ nhạt nhất của nền dân chủ những ông Homais – tinh thần “trường xã”, các ” nguyên lý bất diệt của năm 89 và quy tắc động tính từ mà những đầu óc thiên về tỉnh lược này chẳng biết dùng làm gì. Trong khi một thực dân thực thụ, nếu ông ta muốn con cái người bồi của ông ta biết đọc trong nguyên văn thơ của André Theuriet và nắm được ngày tháng chiếm lĩnh La Rochelle, thì ông ta lại chẳng quan tâm gì đến việc hiểu biết xứ sở nơi ông đang sống: người ta đã xây những biệt thự trung cổ, vạch những đại lộ gợi nhớ nhiều nhất tới con “đường dạo chơi Victor Hugo” muôn thuở, hay ” phố Jules Ferry” của các tỉnh lẻ của chúng ta: người ta có những khách sạn và cầu thang máy, những quán cà phê có trò chơi bi a – tất cả những cái đó để giấu đi vẻ duyên dáng thầm kín của các ngôi chùa, những phố Tàu quanh co ầm ỹ, nói tóm lại, để quên đi được nhiều nhất xứ sở này, nơi người ta biết rõ là dù sao vẫn đang sống tại đấy. Có quan trọng gì nếu các cây ” tiêu huyền” viền quanh đại lộ này thực ra là những cây bạch đàn hoặc cây cao su nếu, hơi nhấp nháy mắt, người ta đã tưởng như đang ở tỉnh lỵ Pontoiser!.

*

29 tháng Giêng

Một ví dụ nữa của khí hậu thất thường này: trong ba ngày vừa qua là một thời tiết Thiên đường thực sự, một nhiệt độ nếu ở Pháp sẽ là của một mùa hạ nóng nực nhưng còn ở đây lại thật tuyệt diệu vì người ta đã quen rồi, cảm giác là cuộc đời không còn trở ngại gì, thân thể như tắm trong luồng ánh sáng và sự thật trong suốt, cứ giãn ra với một niềm vui gần như cây cỏ. Người ta gần như không còn hiểu từ cái nhà có nghĩa gì nữa – đi đâu “ở” nếu không phải trên mặt đất đẹp đẽ, dữ dội và rực sáng này? Tại sao phải trốn sau những bức tường thành? Trong không trung chỉ còn nghe những lời hạnh phúc và nhân từ và đêm đến, bầu trời đẹp này với những ngôi sao âu yếm, dường như rất gần ta!. Đêm vừa qua, vậy vẫn còn là mùa hạ. Sáng nay, trời đầy mây và một cơn gió lạnh dữ dội như gió mixtrian gió càng thổi, từng giờ nhiệt độ lại hạ xuống. Ngày hôm qua, nhiệt kế chỉ 31 0 dưới ánh mặt trời giữa trưa; hôm nay cũng đúng giờ đó nó xuống còn 170 , một chênh lệch 140 trong hai mươi bốn tiếng. Lúc này đây, tôi đang phải đốt lò sưởi trong phòng tôi… Tuy nhiên tôi phải đổi đề tài: cái tôi đang viết cho ông đây không phải là một lá thư, ông kính mến, mà là một thông báo thời tiết.

Có lẽ đã đến lúc tôi phải nói ít nhiều tới cách thức tôi sống ở xứ sở lạ lùng này. Chất liệu này sẽ buộc tôi phải chính xác hơn là các nhận định mơ hồ của tôi về thuộc địa và các thực dân! Sau một chuyến đi dễ chịu vui vẻ gấp hai mươi lần, yên tĩnh gấp trăm lần và tiện nghi gấp nghìn lần một chuyến du lịch trên các toa tàu của P.L.M, tôi đã tìm thấy ở đây, ở “đầu bên kia thế giới” một ngôi nhà lớn đẹp đẽ, bày biện như thể nó đã được ở từ cách đây hai mươi năm và chỉ còn đợi tôi đến ngồi trước bàn của nó, nằm trên các đi văng, treo áo của tôi vào tủ áo, đến chiều đọc sách trong tủ sách v.v.. Một cảm giác thật lạ lùng và cực kì dễ chịu khi gặp lại cha tôi và mẹ tôi bên bờ Thái bình dương trong một khung cảnh nhanh chóng trở thành cũng quen thuộc với tôi như trong căn hộ Paris! Nhưng trong những ngày đầu, khám phá ra những căn phòng rộng trang trí và bày biện với một phong cách trẻ trung tươi tắn thật là những bất ngờ đáng yêu. Từ lâu rồi cha tôi đã bị quyến rũ bởi những tìm tòi của nghệ thuật trang trí đương đại, nhiều khi ở Paris, ông đã muốn, dù ông nghĩ đấy là điều không sao thực hiện được, một ngày kia, sẽ tạo ra một nội thất mới, hoàn toàn khác với nơi ông đã sống, cho làm đồ đạc theo mẫu vẽ của ông và sống trong một không khí hiện đại, sáng sủa và mộc mạc. Điều ông mơ ước, ông đã thực hiện được nó, ở xứ sở này, nơi người ta có thể thấy một ngôi nhà chui ra khỏi mặt đất trong một tháng, nơi mọi đơn đặt hàng huyễn hoặc nhất đều được thực hiện nhanh chóng đến kỳ lạ bởi cả một đám thợ khéo tay và thông minh. Phòng ăn chẳng hạn, cao, rộng hoàn toàn làm bằng xi măng, trông ra vườn bằng một ô cửa rộng qua đó ánh sáng lùa vào.Tường sơn màu vàng xám đẹp đẽ, hoàn toàn trống, chỉ được trang trí đơn giản bằng những hình tròn khắc trên nền xi măng, có vẻ như được xếp đặt ngẫu nhiên, mặc dù chỉ có một môtip duy nhất được lặp lại. Sàn nhà lát đá hoa xám và trắng và đồ đạc đơn giản chỉ có một tủ buýp phê lớn và một bàn để bát đĩa bằng gỗ tốt xứ này, phong cách Ruhlmann, và giữa phòng một cái bàn vuông dầy, bằng gạch nén màu xám bắt chước chất liệu đá. Tất cả chỉ có thể. Tôi quên: trên tủ ăn, chấm phá màu xám trắng của một cái cốc, đồ cổ Tân – hoa, trên bàn thu dọn bát đĩa, có sắc xanh phai, sâu thẳm tuyệt diệu, của một lọ hoa thời Khang hi. Đó chính là nhà ăn của tôi…bởi đã hơn hai tháng nay, kể từ khi phục vụ trong quân dịch, anh binh nhì số hiệu 560 chưa hề ăn một bữa nào ở trại lính, và anh sẽ không bao giờ ăn ở đấy vì bây giờ anh đã có một giấy phép hẳn hoi miễn cho anh việc đó. Và anh lính số 560 chẳng thấy đau khổ chút nào khi anh ăn sang trong căn phòng đầy nắng đó! Phòng tôi, nơi tôi hiện đang viết thư cho ông cũng dễ chịu như vậy, vui tươi như vậy; đã 10 giờ; trong nhà và phía ngoài hoàn toàn yên lặng, một khúc củi kêu lách tách trong lò sưởi, đèn bàn của tôi dịu dàng chiếu sáng lên tường sơn màu ghi nhạt, đây đó một vài tranh khắc Nhật Bản hoặc những hình nghiên cứu tinh tế của cha tôi, trên lò sưởi, trên bàn, tủ, vài cái cốc hoặc lọ hoa cổ của Trung Quốc, dáng tuyệt diệu, nơi đó ánh đèn nhóm lên những ánh mơ hồ và thầm kín và mặc dù căn phòng khá rộng – chừng 9 mét trên 6 – ban đêm nó cũng thân thuộc như khi nó sáng rực vào ban ngày, và thật là thích khi vừa đọc sách vừa nghe gió thổi vào cây cối trong vườn. Cuối buồng, trong một góc đóng kín về phía cửa bằng một tủ tường gỗ mầu sáng và phía kia bằng một riđô đỏ phai, cải hoa mầu ghi, là phòng toa lét của tôi, với một vòi hoa sen phía trên bồn nước bằng men sứ. Sau cùng, mặc dù không có muỗi chiều nay, những người giúp việc theo thói quen, đã căng sẵn phía trên cái giường – đivăng rộng, thấp và đường nét đơn giản, một cái màn tự nó đã như một căn buồng bé trong suốt để kết thúc khi tôi nói với ông rằng, trên cái bàn rộng bên cạnh tượng một nhà nho Trung Quốc đẹp tuyệt, tạc theo kiểu “nấu chẩy” [6] như một pho tượng Rodin, bằng một thứ gỗ sẫm và nhẵn như một cái ngà cũ kĩ, tôi có một chồng tạp chí NRF và số sau cùng của báo Thương mại, và khi tôi lại nói với ông rằng anh lính số 560 cứ năm lần một tuần lại qua chiều và đêm trong cái “nhà ngủ” và rằng chỉ mấy hôm nữa anh ta hi vọng có giấy phép quyết định ở đây bâỷ đêm trong một tuần, chắc ông sẽ nghĩ, giống như tôi, rằng tôi đã phục vụ quân dịch theo một kiểu khá lạ lùng! Nhưng một lần nữa, tôi lại sắp phải ngừng bức thư. Tôi sống như một minh triết, ngủ sớm, dậy sớm và từ 10 giờ trở đi tôi chẳng còn thể nối lại được hai ý hoặc hai chữ với nhau nữa. Ngày mai tôi sẽ kết thúc nói với ông về anh lính 560 bằng cách trình bầy vắn tắt tình hình tại ngũ của anh ta – và chúng ta có thể nói sang chuyện khác.


[1]Pontigny: một xã của vùng Yonne nổi tiếng về một tu viện thành lập từ thế kỷ thứ II. Thế kỷ XX ở đây đã diễn ra nhiều hội thảo văn học được họi là các cuộc đối thoại Pontigny.
[2]NRF: Nouvelle Revue Francaise, tạp chí thành lập năm 1909 do Jacques Rivière là người chủ trì đầu tiên, tập hợp được nhiều nhà văn lớn và là một trung tâm của đời sống văn học đương thời.

[3]Trong bản in Gallimard (9 tháng Năm 1997): từ marc (rượu mar hay rượu bã nho) in sai thành mare.

[4]Trong vở kịch Trường học làm vợ của Molierè Arnolphe, cha đỡ đầu của Agnès là một người độc đoán và thủ cựu.

[5]Ở đây chắc chăn tác giả nói về cách chữa bệnh bằng tàn nhang nước thải theo me tín dị đoan thời kỳ trước đây.

[6]Dịch chữ fondu: nấu chảy, nhạt dần (họa), hình chồng (điện ảnh).

 
© talawas 2026