trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
9.10.2002
Frederick Turner
Thơ
 
Sinh năm 1943, là Giáo sư tước Sáng lập về Nghệ thuật và Nhân văn thuộc Đại học Texas ở Dallas. Ông sinh ở Anh và là con của nhà nhân học lừng danh chuyên về biểu tượng và sinh hoạt tông giáo châu Phi là Victor Turner. Vì theo cha mẹ đi nghiên cứu thực địa, ông lớn lên ở châu Phi. Nhập tịch công dân Hoa kì năm 1977. Luận án tốt nghiệp ở Đại học Oxford của ông được Ấn quán Clarendon của Đại học này xuất bản mang tên: Tân thế giới: một sử thi hoành tráng (The New World: An Epic Poem). Ông là tác giả của những sách như là: Chủ nghĩa Cổ điển: những Luận văn về Văn học và Khoa học (Natural Classicism: Essays on Literature and Science, 1985); Sáng thế kí: một Sử thi Hoành tráng (Genesis: An Epic Poem); Tái sinh của Giá trị: Trầm tư về cái Đẹp, Môi sinh, Tông giáo, và Giáo dục (Rebirth of Values: Meditations on Beauty, Ecology, Religion, and Education) một tác phẩm triết lí có cao vọng kết hợp tâm linh và khoa học làm nền cho một mĩ học mới; thi tập Gió Xuân (April Wind) và nhiều tác phẩm khác. Ông công tác với những tạp chí như Poetry, Harper's và nhiều xuất bản định kì khác.

Spring Evening

Above the baby powder clouds

The sky is china blue.

Soon, young and chattering, the crowds

Of stars come pushing through.

And this is the first dispensation,

The setting up of the odds;

This is the eve of creation,

This is the time of the gods.

Chiều Xuân

Trên mây phấn bé thơ

Bầu trời men lam cao

Rồi trẻ trung lao xao

Đàn sao chen chúc ra

Đây trật tự sơ nguyên

Dựng thiên sai vạn vật

Đây chiều tiền sáng tạo

Đây thời của chư thiên

Nguyễn Tiến Văn dịch

Spring Evening

Trên cụm mây trắng mịn như phấn trẻ con

Bầu trời xanh lam,

Rồi nhóm sao trẻ trung nhộn nhịp

Vén mây bước ra.

Đấy là thiên mạng đầu tiên

Sắp xếp may rủi;

Đây là tối sáng tạo,

Đây là thời của thánh thần.

Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch

April Wind

— for Ann Weary

Wind, gigantic, wrestles the April leaves;

The mares are nervous, elated, tossing their manes;

We pass in file under the forest eaves

Where a magic bodarc shakes an emerald free

From each of its branched black veins;

The path is narrow, we are fingered at elbow and knee

By the grape and the cedar elm. All goes dazzling bright:

The sun has come out and now we suddenly see

How this green is the white of the plant world, the blanch

Of its secret kinship with light;

And my friend turns – the artist, who owns this ranch –

And tells how a painter will throw on a gout of white,

Anf feather a green glaze thereover, for a branch;

And now, strangely, we both fall silent and ride

As if we were chilled by slight;

For through the woodland is blowing a perfume, a tide

Of sweetness from some blossoming out of our sight,

Mysterious, innocent, heavenly, known on the inside

Only, unfading; and the mares are dancing, and we,

Like disciplined riders, pull tight

On the rein and grasp with the strength of the thigh and the knee

The huge bodies that move, prehistoric and blind,

Through the now darkening glades. And we are quite free

To speak, or not, as we making for the gate we shall find

In the waves of the fragrant wind.

Gió Xuân

tặng Ann Weary

Gió khổng lồ vật vã lá tháng Tư

Ngựa cái lồng, căng, bờm tung bay

Chúng ta đi luồn dưới mái rừng già

Nơi cây cam dại vàng lay ngọc bích

Khỏi mỗi mạch máu đen chia cành

Đường mòn hẹp, sờ vào khuỷu tay và đầu gối

Là những chùm nho và cây du đàn hương. Mọi thứ chói loà

Mặt trời đã ló ra và chúng ta chợt thấy

Màu xanh này là màu trắng của cỏ cây

Tráng hồ mối thân tộc thầm kín bằng ánh sáng

Và bạn tôi quay lại – người nghệ sĩ chủ trang trại này –

Và kể một hoạ sĩ sẽ vẩy một giọt trắng,

Và phớt trên một lớp lục để làm cành;

Và bây giờ, kì lạ thay, cả hai chúng tôi lặng im cưỡi ngựa

Như thể buốt nhói vì một thoáng vu vơ

Vì suốt rừng thổi một làn hương, một trào dâng

Ngọt ngào từ sự đơm hoa kín ẩn

Huyền bí, ngây thơ, thiên tiên, chỉ biết được

Từ thâm tâm, không nhạt nhoà; đôi ngựa cái nhẩy quẫng

Là kị mã từng trải, chúng tôi gò cương

Chặt và dùng đùi cùng đầu gối

Xiết những thân thể kếch xù di động, tiền sử mù loà

Qua rừng thưa đang sẫm dần. Và chúng tôi hoàn toàn tự do

Nói hoặc không, khi tiến về phía cổng sẽ thấy ra

Trong những làn sóng của hương gió đưa.

Nguyễn Tiến Văn dịch

April Wind

Gió, cuồng, xô đẩy lá tháng tư;

Mấy con ngựa bồn chồn, rạo rực, lắc bờm;

Chúng tôi lần lượt đi cạnh mái rừng

Nơi cụm cây (cung[1]) huyền ảo lay động hạt bích ngọc

rơi từ gân lá ở từng nhánh của nó;

Con đường mòn hẹp, khuỷu tay và đầu gối của chúng tôi bị châm chọc

Bởi chùm nho và cây bách hương. Tất cả đều sáng chói lòa;

Mặt trời đã lên và bỗng chúng tôi nhận thấy

Cái màu xanh này là màu trắng của thế giới cây cỏ, sự nhuộm trắng

Trong quan hệ mật thiết của nó với ánh sáng;

Và bạn tôi day lại – người nghệ sĩ, chủ trại này –

Và nói về chuyện một họa sĩ sẽ quệt một đốm trắng ra sao,

Và phẩy lồng theo đó màu xanh lá, một nhánh cây;

Và giờ, rất lạ, chúng tôi vụt im lặng cưỡi ngựa

Thể như buốt lạnh bởi một chút;

Hương gió thổi ngang rừng cây, một con sóng

ngọt ngào từ chùm hoa nở đâu đó khuất mắt nhìn của chúng tôi,

Một cách bí ẩn, vô tội, thiên thần, chỉ biết được tận trong tâm tư,

Không phai màu; và mấy con ngựa đang vờn múa, và chúng tôi,

Như những ngừơi cưỡi ngựa đào luyện, gò chặt

Cương và kềm giữ với sức mạnh của đùi và đầu gối

Những cơ thể to lớn đang chuyển động, tiền sử và mù lòa,

Ngang qua những vũng tối dần. Và chúng tôi gần như tự do

Để nói, hoặc không, trên đường đến cổng mà chúng tôi sẽ tìm thấy

Qua những luồng gió ngát hương.

Nguyễn Thị Ngọc Nhung dịch

On the Pains of Translating Miklós Radnóti

(The great Hungarian poet shot by the Nazis in 1944. His mother and twin brother died in childbirth.)

And now I too must wrestle with a brother

Whose dead limbs cumber me in the womb,

Whose grief I pity, but whose cord of nurture

Glides dreadful and unseen in this blind gloom.

That angel, who took Cain to be his mirror,

Knew how to die, knew how to share a grave;

Sometimes he almost overcrows my spirit,

His great feathered wings beating in the cave –

My elder brother died as I first opened

My lips in speech instead of in a scream;

Now he returns to claim the voice I borrowed,

Now he returns, the hero of my dream.

How can I share the lifeblood of our mother?

How can I let his dead voice steal my breath?

But how indeed could I deny my brother

Who, reckless, bought my birthright with his death?

For all alone among that generation

He kept the faith that I have made my name,

That ancient grace, that hard emancipation,

The love of form that touch that us like flame.

What can I do but open to his service

The pulse and wordstream of the mother tongue?

Thus I subdue myself and hear him singing

Out of the land of shades where none have sung.

Could I, the Western democrat, professor,

Father, essayist, of middle age,

Be given any great gift than this is,

To share the passion of his vassalage?

Về những nỗi đau của việc dịch Miklós Radnóti

(Nhà thơ lớn Hungrari bị bọn Quốc xã bắn năm 1944. Mẹ và

người anh em song sinh của nhà thơ cùng chết khi ông ra chào đời.)

Và bây giờ tôi cũng phải vật lộn với một anh em

Mà tứ chi chết vướng víu tôi trong lòng mẹ

Người tôi thương nỗi buồn, nhưng sợi dây nuôi dưỡng

Trượt kinh hoàng và chẳng thấy trong tối đen mù loà này

Thiên sứ ấy, ngỡ Cain là gương mình

Biết cách chết, biết cách san sẻ nấm mồ

Đôi khi anh hầu như lấn tinh thần tôi

Đôi cánh chim lớn anh đập trong hang động –

Anh tôi chết ngay khi tôi vừa mở

Môi để nói thay vì để hét

Nay anh trở lại đòi giọng nói tôi đã mượn

Nay anh trở lại, người anh hùng trong mộng tưởng tôi

Làm sao tôi san sẻ được máu đời sống của mẹ

Làm sao chịu cho giọng chết của anh cướp hơi thở mình

Nhưng làm sao tôi khước từ nổi người anh em mình

Đã liều mạng lấy cái chết mua cho tôi quyền sống?

Vì riêng cô đơn trong cả một thế hệ ấy

Anh đã giữ niềm tin mà tôi đã lấy làm danh nghĩa

Ân phước xưa, giải thoát nhọc nhằn

Tình yêu hình thức xúc động ta như ngọn lửa

Tôi làm được gì ngoài mở đón phụng vụ anh

Mạch và dòng chữ của tiếng mẹ?

Vậy tôi khuất mình và nghe anh cất tiếng ca

Từ miền bóng tối chưa có ai từng hát.

Làm sao tôi, một người dân chủ phương Tây, một giáo sư,

Một người cha, viết luận văn, tuổi trung niên,

Có được món quà nào lớn hơn thế nữa.

Là san sẻ thương khó của lệ thuộc người?

Nguyễn Tiến Văn dịch

Nỗi đau khi dịch thơ Miklós Radnóti

Và bây giờ thì tôi cũng phải đánh vật với một người anh

mà tay chân đã chết của anh gây trở ngại cho tôi trong bụng mẹ,

mà tôi thương hại nỗi bi cảm của anh, nhưng cuống nhau nuôi dưỡng của anh

lướt qua trong kinh hãi và không ai thấy trong nỗi ảm đạm mù lòa này.

Thiên thần ấy, người đã nhận Cain là phản ảnh của mình,

Đã biết cách chết, cách chia sẻ nấm mồ;

Đôi khi anh ấy gần như phủ lấp linh hồn tôi,

Cánh lớn của anh vỗ trong hang –

Anh tôi chết khi tôi lần đầu hé

Môi để nói thay vì để la;

Giờ anh trở lại đòi tiếng nói tôi đã mượn,

Giờ anh trở lại, người anh hùng trong mơ của tôi.

Làm sao để tôi có thể san sẻ linh hồn của mẹ chúng tôi?

Làm sao để tôi thể mặc tiếng nói đã chết của anh cướp lấy hơi thở của mình?

Thật ra thì làm sao để tôi có thể từ chối anh mình

Người, không quản gì, đã mua lấy quyền sống của tôi bằng cái chết của anh?

Một mình đơn độc trong thế hệ ấy

Anh giữ niềm tin rằng tôi đã tạo nên danh,

Cái ân sủng xưa ấy, cái phóng thích khó khăn ấy,

Là hình thức tình yêu như lửa chạm đến chúng ta.

Tôi không thể làm gì khác hơn là nhận lấy sự cung dịch của anh

Nỗi rung động và dòng suối chữ của tiếng mẹ đẻ?

Cho nên tôi dịu người xuống và nghe anh hát

Từ bóng tối của vùng đất chưa có người hát bao giờ,

Làm thể nào để tôi, một người dân chủ phương Tây, một nhà giáo,

Người cha, tiểu luận gia, tuổi trung tuần,

Lại được tặng món quà quí giá hơn bất cứ món quà nào khác,

Chia sẻ được nỗi đam mê phụng sự của anh?

——–
[1] bodarc: đến từ chữ bois d’arc của Pháp, dùng gọi những cụm cây có gai hoặc cây nhỏ có nhánh dẻo, thường là osage orange (gốc Texas) trồng làm hàng rào. Ngoài ra dân da đỏ Osage thời xưa dùng nhánh cây này để làm cung.

 
© talawas 2026