Nguyễn Đức Tùng
Thơ tự do, thơ có vần , và thơ tân hình thức.
Về hình thức, thơ tự do khác với thơ vần, ở đó người đọc thường không biết trước được những câu thơ và nhịp điệu của chúng sắp đưa họ về đâu. Thơ có vần, ngược lại, được nhào nặn qua nhiều thế kỷ, đã tìm được cho mình những nhịp điệu và sự ngắt câu nhịp nhàng, cân đối, hài hòa, mang vẻ đẹp cổ điển, ở đó cả người viết lẫn người đọc đều thừa nhận về một sự đồng ý chung, thỏa mãn và khoan khoái thưởng thức vẻ đẹp cổ điển đó. Do vậy sự tiên liệu, tính báo trước của hình thức, và qua hình thức là thông điệp được truyền đi, hoặc là sự thiếu vắng hoàn toàn điều này, là sự phân biệt có tính quyết định giữa thơ có vần và thơ tự do.
Việc đặt tên như trên chỉ có tính quy ước, vì khi nhìn sâu vào cấu trúc hình thức, thơ tự do bao giờ cũng có nhạc điệu riêng của từng bài hay từng tác giả. Do một số tính chất nội tại của ngôn ngữ, nhạc điệu của thơ được ký gởi ở vần, ở sự ngắt câu và xuống hàng, mặc dù thường khi là trong một sự xuất hiện kín đáo và bí ẩn hơn.
Sự nhầm lẫn đến từ hai phía, vốn như thường thấy trong cuộc đời. Những người làm và đọc thơ vần thừa nhận mà không cần chứng minh rằng cái đẹp chỉ xuất hiện trong những mẫu mực vần điệu thường lộ rõ ra ngoài, có tính hiển nhiên, do đó họ không thấy được cấu trúc âm nhạc ngấm ngầm và mãnh liệt hàm chứa trong những bài thơ tự do có sức công phá. Mặt khác, một số không ít những người làm hoặc yêu thơ tự do không biết hoặc không hiểu hoặc không tin rằng yếu tính của thơ, yếu tính đầu tiên, duy nhất đầu tiên, không có gì thay thế được, là cấu trúc âm nhạc nội tại của nó. Ðiều kỳ lạ hơn nữa là, hơn ở bất cứ nơi nào khác, một bài thơ tự do cần tạo ra một nhịp điệu riêng, vần riêng, xuống hàng riêng, ngắt câu riêng, sự nhắc lại các âm thanh và tiết tấu riêng, không được tìm thấy ở bất cứ một bài thơ nào khác, trước nó, bởi các tác giả khác, và quanh nó, bởi chính tác giả này.
Có lẽ ở nơi mà người khác tìm thấy sự xung đột và mâu thuẫn giữa thơ tự do và thơ có vần, chúng ta chỉ nên thấy sự bao trùm lên nhau, sự bao trùm của thơ tự do lên chu vi của thơ có vần, mở ra những khai phá rộng rãi, như chân trời mùa hạ không bờ bến đằng sau những cánh đồng của mùa gặt hái cuối cùng. Những người làm thơ mới và thơ tự do, nếu kẻ nào tin rằng họ có thể đi vòng qua cánh cửa của âm nhạc, thứ âm nhạc cốt tủy của thơ, để mau chóng có được tên tuổi, hay khiêm tốn hơn tạo ra được một thứ gì đó có vẻ mới mẻ và phá phách, sẽ thấy mình đi vào một cánh cửa khác: cánh cửa của sự tự lường gạt mình.
Trong cả hai loại thơ, nhà thơ đều cố gắng tác động vào quá trình dự báo của người đọc. Trong thơ tự do, nhà thơ cố gắng một cách mãnh liệt để làm sai lạc những dự báo thẩm mỹ, làm cho người đọc bị ngạc nhiên bất ngờ, những bất ngờ thú vị đầy cảm hứng mới mẻ, hay những bất ngờ khó chịu, hoặc phi thẩm mĩ hoặc đầy tính thách thức thẩm mĩ, tùy thuộc vào bài thơ tự do thành công hay thất bại.
Khác với nhà thơ làm thơ có vần, sự thành công hay thất bại của một nhà thơ tự do tùy thuộc quá nhiều vào hệ thống thẩm mỹ và các hệ thống giá trị khác, kể cả những kinh nghiệm thơ ca và kinh nghiệm cá nhân, của người đọc.
Hoặc tiếp theo thơ tự do, hoặc như chỉ là một nhánh chảy khác của thơ tự do, tùy theo quan điểm của mỗi người, sự xuất hiện của thơ Tân hình thức ( New Formalism), mà có người gọi nôm na là thơ vắt dòng, được xem là xuất phát từ Mỹ trong những năm gần đây, đã gây ra nhiều tranh cãi, đứng đắn hoặc không đứng đắn, có tính học thuật hay không, người ủng hộ người chống đối, và đáng yêu thay, có người còn cho đó là cái phao cuối cùng của thơ ca Việt nam, có nghĩa là nếu không có cái phao đó thì chúng ta sẽ chết chìm cả nút. Như một phương tiện biểu hiện nghệ thuật, thơ tân hình thức quả thật là mới mẻ. Dĩ nhiên những người chống đối cũng có thể biện luận rằng chúng không mới mẻ. Nhưng ở đời không có sự mới mẻ nào là không có dấu vết trong quá khứ. Ở Mỹ, thơ THT đã tạo ra những thành công nhất định, khá lớn, với những bài thơ hay, hoặc rất hay, tự chúng đi tìm lấy Tân Hình Thức, đặc biệt trong hai trường hợp sau đây: hình thức tự sự, kể chuyện, hoặc bản thân truyện kể, hoặc nội dung, có những diễn tiến dồn dập, đầy kịch tính.
Ở các nhà thơ Việt Nam hiện nay, và hình như nhất là ở Cali, thì Tân Hình Thức đi tìm chúng.
Thật ra thơ THT trong những ví dụ thành công nhất, là sự kết tinh những tố chất tưởng như mâu thuẫn nhau của hai loại thơ nói trên: tính quy ước và tính bất ngờ, tính dự báo và tính phi dự báo. Một bài thơ thường tự nó chọn trước hình thức và nhạc điệu riêng của mình, ngoài dự định và chủ ý của tác giả. Khi nhà thơ trịnh trọng đưa chủ định cấu trúc của mình vào bằng cửa chính, thì âm nhạc của cấu trúc, liền đi ra bằng cửa sổ.
Theo sau cái bóng của nó là một bài thơ chưa được trưởng thành, và như một đứa trẻ ở Mỹ, khi đã bỏ nhà ra đi, thì thường là đi mất.
© 2003 talawas