trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
27.10.2003
Chikako Yamamoto, Georg Blume
Thiên, đế, tử
 

Trong khi châu Âu đang có nguy cơ thiếu lực lượng lao động được đào tạo cao, thì ở Trung Quốc, công cuộc giáo dục và đào tạo lại đang bùng phát. Trong tương lai, tầng lớp tinh hoa sẽ đến từ miền Viễn Đông chăng?


Những trí thức tương lai đang học cật lực trong một quán ăn nhanh ở Bắc Kinh. Wang Hong, 18 tuổi, một fan của Madonna, và Ding Ling, cô bạn gái ít hơn một tuổi, mặc một chiếc áo hai dây mầu hồng, họ đang thưởng thức nốt chỗ Coca Cola đắt tiền đựng trong cốc giấy, để còn dọn chỗ cho những quyển vở học bài trên chiếc bàn nhựa mầu đỏ. Trong trường không có chỗ để làm bài tập. Ở nhà cũng không có. Chỉ còn ở quán ăn nhanh thôi, xung quanh là Coca Cola và gà rán.

Bởi vì ngày thứ Bảy, mồng Bảy tháng Bảy, sẽ là thời điểm thử thách đối với Wang và Ding. Trên toàn Trunng Quốc, kỳ thi tuyển sinh đại học quốc gia kéo dài ba ngày sẽ bắt đầu. Trên bốn triệu học sinh tốt nghiệp phổ thông sẽ giành nhau khoảng 2,2 triệu suất học đại học. Đó là khoảng thời gian mà ở Trung Quốc người ta gọi là “tháng Bảy đen”, khoảng thời gian mà giới học sinh và phụ huynh cảm thấy sức ép của số phận và cũng là khoảng thời gian mà nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa sẽ trang bị cho nền kinh tế thế giới tương lai lực lượng kế cận của mình.

Wang Hong và Ding Ling đã góp phần vào sự bùng phát mạnh mẽ của nền giáo dục Trung Quốc, một sự phát triển mà ở châu Âu người ta khó có thể tưởng tượng được. Trong khi ở Đức, người ta đã có thể dự đoán sự thiếu hụt lực lượng lao động được đào tạo cao trong tương lai, thì ở Trung Quốc số lượng sinh viên nhập học lại đang tăng lên chóng mặt: Nếu như năm 1998 con số này là 1,08 triệu, thì chỉ sau ba năm thôi, con số này đã tăng gấp đôi; trong những năm tiếp theo việc tăng lên gấp đôi một lần nữa, thành hơn bốn triệu, đã có thể dự đoán được. Thêm vào đó là sự ra đời của một hệ thống giáo dục và đào tạo tư thục hoàn toàn mới. Chỉ trong vòng mười năm qua ở Trung Quốc đã có 54 000 trường tư thục được thành lập, từ nhà trẻ mẫu giáo cho tới đại học. Tại các trường này hiện có thêm bảy triệu học sinh và sinh viên theo học.

Với chính sách hỗ trợ nhân tài cho toàn dân, Trung Quốc sẽ là một thách thức đối với Phương Tây trong tương lai. Phần lớn người Trung Quốc tin rằng mình có thể cạnh tranh với Phương Tây, nhưng không phải bằng xe tăng và tên lửa như Liên Xô đã từng làm, cũng không phải bằng ô tô và đồ điện tử như Nhật Bản ngày trước, mà là bằng lực lượng lao động trình độ cao nhưng giá rẻ và được đào tạo tốt. Ngay như hiện tại cũng đã có gần hai trăm ngàn người Trung Quốc theo học tại các trường đại học ở Mĩ, theo như ngôn từ của nhà xã hội học Jürgen Habermas thì đây là “đoàn quân chiến thắng của người Á thọc qua các trường đại học Mĩ”. Kể cả chính quyền bang Berlin cũng muốn thúc đẩy việc giảm nhẹ các các điều kiện cấp thị thực cho những người trẻ tuổi đến từ miền Viễn Đông này, vậy là sứ giả báo trước sự bùng phát về giáo dục và đào tạo của Trung Quốc sẽ đến với Lục Địa Già.

Cả Wang và Ding đều muốn leo cao: Đích của họ là trường đại học nghệ thuật nổi tiếng Wuxi ở miền nam Trung Quốc. Cả hai đều xuất thân từ gia đình công nhân. Để thoát khỏi thành phần xuất thân của mình, một trong những cái họ phải học là Chiến lược quân sự cho kỳ thi tuyển sinh đại học, một quyển sách gối đầu giường cho các học sinh phổ thông trung học. Wang tiếp cận dần đến kỳ thi theo đúng kế hoạch: “Không được bỏ sót một mẫu tự nào!” Ngay cả sau khi đã học mười hai năm trong trường phổ thông, Wang và Ding vẫn phải luyện tập Hán tự. Bởi vì không có học sinh nào biết hết tất cả hàng ngàn mẫu tự. Chỉ riêng lý do này thôi cũng đủ để người Trung Quốc quen với việc phải học cả đời, đây là một khả năng tạo ra nhiều lợi thế cho họ trong thời đại toàn cầu hoá này.

Việc chiếm lĩnh tri thức đã thành hy vọng đối với nhiều người Trung Quốc, kể từ khi chủ nghĩa tư bản xâm nhập và tạo nên một cuộc chuyển đổi xã hội sâu sắc ở đây. Bởi vì trong công cuộc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường, các “đơn vị” cộng sản được tổ chức theo kiểu nhà máy, từng có trách nhiệm chăm lo cho mọi người, đã tan rã không ngừng. Trong mô hình gia-đình-một-con ngày nay, một mô hình do nhà nước bắt buộc thi hành nhằm kiểm soát tỉ lệ sinh đẻ, thì việc đầu tư vào sự học hành của đứa con duy nhất đã trở thành việc đầu tư quan trọng nhất cho tương lai của cha mẹ chúng.

Từ thời Khổng Tử đã đề cao việc học

“Ngày nay, mối quan tâm lớn nhất của các gia đình Trung Quốc là vấn đề học hành. Kể cả các phụ huynh nghèo cũng chỉ mong muốn một điều: tạo cơ hội tốt cho con cái họ”, Xie Wei He, Phó hiệu trưởng trường Đại học Sư phạm Bắc Kinh nhận xét. Trong vấn đề đó, nhà nghiên cứu có tiếng về giáo dục và đào tạo này cho rằng “không hề có sự đứt đoạn đối với quá khứ”. Từ hàng ngàn năm nay, việc giáo dục ở Trung Quốc luôn luôn có một mục tiêu: phát huy cái Thiện trong xã hội. Trên thực tế việc này được bắt đầu bằng quyển sách quan trọng nhất của vùng văn hoá Hán, cuốn Luận ngữ, trong đó Khổng Tử đã truyền giảng: “Thầy [Khổng Tử] nói: Học mà thường xuyên luyện tập, chẳng vui lòng sao? [1] ” Đối với nhà Hán học Karl-Heinz Pohl của trường đại học Trier thì lời dạy này, nếu xét về ý nghĩa lịch sử văn hoá, cũng tương đương như câu mở đầu của Kinh Thánh: “Nếu dịch câu này cho người Phương Tây, thì lời của Khổng Tử sẽ là: “Ban đầu sự học dựng nên trời đất [2] “, Pohl định nghĩa như vậy.

Trường Đại học Sư phạm nơi Xie Wei He làm việc là một cơ quan nghiên cứu hàng đầu trong hệ thống giáo dục với hơn hai trăm triệu học sinh và gần mười triệu giáo viên. “Khi tiếng chuông trong các trường học của Trung Quốc vang lên, người ta có thể tưởng tượng rằng, gần hết số dân của Mĩ phải ngồi vào lớp học”, ông Xie nói đùa. Trước đây không có nhiều thứ để học sau khi tiếng chuông vang lên. Không phải “kiến thức sách vở”, mà “thay đổi cách nghĩ”, mới chính là mục đích của việc học trong Cách mạng văn hoá. Dưới thời Mao Trạch Đông các giờ học chỉ là để cầu nguyện bằng các khẩu hiệu của đảng. Mãi đến những năm 80, chương trình học trong trường mới bắt đầu tách dần khỏi chủ thuyết của đảng. Sau khi cuộc nổi dậy của sinh viên vào năm 1989 bị thất bại, đã xảy ra đòn phản hồi: việc cải cách chương trình học bị hoãn lại, niềm tin chính thống lại tiếp tục được coi trọng hơn là kiến thức học đường. “Những thay đổi trong ngành giáo dục quá chậm chạp so với sự phát triển kinh tế tại Trung Quốc” nhà giáo dục họ Xie khẳng định. “Sự phát triển của hàng hoá tiến nhanh hơn là sự nghiệp giáo dục học sinh.”

Nhưng ý tưởng chủ đạo của lần cải cách giáo dục đầu tiên thời hậu Mao dẫu sao vẫn đọng lại: Mới hay cũ, phương châm cuối cùng vẫn là học. Các cuộc thi và kiểm tra tại Trung Quốc ngày nay, bất kể về mẫu tự hay là về toán, đều đòi hỏi ở học sinh trí nhớ tuyệt vời và tư duy cực nhanh. Từ nhiều năm nay học sinh Trung Quốc đã chiếm thứ hạng cao trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế, chẳng hạn như môn toán. Ngay từ tiểu học, việc tìm lời giải cho các bài toán chỉ trong vòng vài giây đã được đưa ra thử nghiệm. Trong trường phổ thông trung học, mỗi một sự kiện đều phải được đặt trong bối cảnh lịch sử chuẩn mực. “Chẳng hạn có một câu hỏi về một bài thơ nổi tiếng, rằng nhà thơ đã cảm thấy loại nỗi buồn nào”, cô nữ sinh trung học tên Ding giải thích về một câu trong kỳ thi. Đáp án đúng cho câu hỏi này không xuất phát từ việc phân tích văn bản như kỳ thi tú tài ở Đức vẫn đòi hỏi, mà là phải từ một câu chuyện lịch sử, điều mà một học sinh phải biết. Vậy đáp án đúng cho câu hỏi này là: trước khi viết bài thơ này ít lâu, tác giả có nghe tin về một cuộc thảm sát các chiến sĩ cộng sản.

Nhưng có một điều làm Ding hoàn toàn không hài lòng trong các kỳ thi: “Chỉ có các câu trả lời của giáo viên là luôn luôn đúng. Những ý kiến riêng của chúng tôi không bao giờ được hỏi tới.” Bằng câu nói này cô nữ sinh đã chạm vào vết thương của nền giáo dục Trung Hoa: “Hệ thống thi cử của chúng tôi đã ngăn cản sự sáng tạo. Chúng tôi truyền đạt cho học sinh quá nhiều kiến thức máy móc”, Li Tayang, hiệu trưởng một trường trung học với 2500 học sinh ở Bắc Kinh, nhận thấy như vậy. Ông Li không thể đồng tình với cách nhìn đề cao quá mức của các đồng nghiệp Phương Tây, những người đã ghen tị với các giáo viên Trung quốc về sự ngoan ngoãn và tính hiếu học của các học sinh. “Tại sao ô tô sản xuất ở Trung Quốc lại chủ yếu là ô tô Đức? Vì chúng tôi thiếu tính sáng tạo”, ông nhấn mạnh khi đi tìm lý do sâu xa cho sự làm vương làm tướng của tổ hợp công nghiệp Volkswagen tại Trung Quốc. Nhưng ông hiệu trưởng đương nhiên không chỉ phàn nàn mãi: Bây giờ học trò của ông đã học cách giao lưu đa tuyến trên computer, có các giờ học chuyên sâu về nghệ thuật và âm nhạc và cũng đã có dịp chế tạo đồ gỗ tinh xảo với lưỡi cưa uốn. Các giờ học tập theo nhóm được tổ chức thường xuyên trong các môn học chính. “Chúng tôi không muốn là nạn nhân tinh thần của lãnh đạo, cha mẹ và giáo viên nữa”, ông Li tuyên bố về ý tưởng tổ chức trường học như vậy. “Ngày nay sự tự do phát triển của mỗi cá nhân phải làm tâm điểm của sự nghiệp giáo dục.”

Cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai sau thời đại Mao đã bắt đầu như vậy. Trường của ông Li nằm trong chương trình thử nghiệm của Ủy ban giáo dục Bắc Kinh, trong thời gian qua ủy ban này đã công bố một chương trình học mới cho tất cả các lớp học từ tiểu học đến phổ thông trung học. Bắt đầu từ tháng Chín chương trình cải cách này sẽ được áp dụng trong các trường học ở Bắc Kinh. “Mục tiêu là phát huy hơn nữa tính tự chủ của học sinh. Điều đó có nghĩa là: ít kiến thức sách vở hơn và dành nhiều thời gian và phạm vi hơn cho các sáng kiến riêng”, ông Wen Zhe, phó giám đốc Học viện Giáo dục Bắc Kinh và là tác giả của chương trình giáo dục mới, nói như vậy.

Wen Zhe muốn nhà trường “thoát ra khỏi bốn bức tường”, trong trường học sinh phải được “làm quen với cuộc sống”, theo quan điểm của ông thì các kỳ thi không còn là “con đường duy nhất để tiến lên” nữa. Ai mà lắng nghe các nhà cải cách giáo dục cộng sản nói lần này, sẽ có cảm tưởng rằng nó giống như chương trình giáo dục chống lại mệnh lệnh vào những năm 70. Nhưng ấn tượng gây ra này đã đánh lừa người ta. Ông Wen cũng là một người yêu truyền thống, mà trong đó người thầy (tử) được “xếp thứ năm sau thiên, địa, đế và phụ mẫu”. Điều này vẫn hoà hợp với những cải cách mà người ta đang dự định: “Vì ở Trung Quốc chúng tôi đã có một truyền thống tập thể lâu đời, chính vì vậy mà chúng tôi có thể thúc đẩy chủ nghĩa cá nhân mà vẫn không xâm phạm vào những vấn đề có tính nguyên tắc.”

Công cuộc cải cách đương nhiên là không được công chúng ưa chuộng. Phần lớn các bậc phụ huynh ở Trung Quốc không muốn con em họ trở thành đối tượng cho các thử nghiệm sư phạm. Các giờ học về nghệ thuật và âm nhạc có ích lợi gì, khi mà những môn này không phải thi trong cái “tháng Bảy đen”? Ngay từ lớp 1 các bậc cha mẹ đã muốn ép buộc con cái mình lối học để phục vụ cho kỳ thi tuyển đại học. “Mỗi đứa có một cơ hội, nhưng chỉ một trong mười đứa của một năm học là có chỗ trong trường đại học thôi”, những bậc phụ huynh tự đốc thúc mình và con em họ như vậy.

Con số thống kê thực ra cũng chính xác, nhưng trong thực tế các trường học của Trung Quốc bị chia ra thành hai mảng. Ở Bắc Kinh và Thượng Hải sẽ có tới 70 phần trăm thí sinh trúng tuyển. Trong khi ở các tỉnh xa, nơi mà trình độ học lực thấp hơn hẳn, lại có tới 90 phần trăm thi trượt. Đây là một phương cách đã cũ của người kế tục Mao, ông Đặng Tiểu Bình, theo đó thì một số phải giàu trước, sau đó toàn dân mới giàu theo, và đối với học sinh ở Trung Quốc cũng vậy: Bắc Kinh và Thượng Hải sẽ được thông minh trước. Điều này thực ra không được công bằng lắm, nhưng nó thể hiện quyết tâm về chính sách cải cách. Chính quyền các tỉnh xa có thể học tập các kinh nghiệm về các mô hình trường học mới trong các thử nghiệm tại các thành phố lớn.

Mặc cho ngân sách giáo dục của nhà nước có phần bị cắt giảm, sự bùng phát về giáo dục và đào tạo tại Trung Quốc vẫn tự phát triển. “Tôi chưa biết có một phụ huynh nào lại không sẵn sàng đầu tư cả gia tài của mình cho sự học hành của con cái họ”, ông hiệu trưởng Li cho biết. Mới đây, khi ông đưa vào trường học một môn mới, mà để học môn này học sinh phải tự mang theo máy tính xách tay (laptop, notebook) đến trường, thì tất cả phụ huynh đều rẩt phấn khởi. Và thật không ngờ, “những người bị thôi việc trong các doanh nghiệp nhà nước”, ông Li khẳng định một cách đầy kinh ngạc, “là những người đầu tiên cho con họ đến trường với chiếc computer kẹp ở nách

© 2003 talawas


[1]Luận Ngữ, Thiên thứ nhất: HỌC NHI, Chương một, Câu thứ nhất, Phiên âm Hán – Việt: Học nhi thì tập chi, bất diệc duyệt hồ?

[2]Kinh Thánh, CỰU ƯỚC, Năm quyển sách của Môi-se, Sách thứ nhất của Môi-se gọi là SÁNG-THẾ KÝ, Về thời cổ, từ buổi sáng-thế đến đời Áp-ra-ham, Câu thứ nhất, Nguyên văn: Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất.

 
© talawas 2026