Bùi Hoài Mai
Thị trường hội hoạ Việt Nam bị ảnh hưởng bởi những định kiến của phương Tây về phương Ðông
Một thách thức to lớn đối với mỹ thuật Việt Nam hiện nay là thách thức của một nền kinh tế thị trường. Nói chính xác hơn là thị trường đang thách thức tới từng khía cạnh của đời sống dân tộc. Thị trường là bước tất yếu của lịch sử, từ chối nó là một phản ưng vô vọng, kinh tế thị trường sẽ tốt cho những ai biết sử dụng nó và một mặt nó sẽ là nỗi bất hạnh cho những ai không tiến kịp. Về một mặt nào đó nền kinh tế thị trường giống như một cuộc chiến không khoan nhượng, ở đó không có chỗ cho những kẻ lừng khừng. Trong lòng của kinh tế thị trường luôn luôn tồn tại những mâu thuẫn đối kháng mà nhiều lúc trong quá trình phát triển nó trở nên tàn ác và vô nhân bản, nó có thể tốt với cá nhân nhưng lại không tốt với xã hội. Khi người ta điều hoà dược mối mâu thuẫn đối kháng này thì thị trường sẽ là một động cơ tốt cho xã hội phát triển. Con người rất dễ dàng trao đổi hàng hoá với nhau theo cơ chế thị trường nhưng không ai muốn trao đổi tình cảm với nhau theo cách đó. Nghệ thuật trên một phương diện nào đó là hàng hoá nhưng về căn bản nó là phương tiện trao đổi tình cảm giữa người và người.
Những lời cảnh báo về nghệ thuật Việt Nam đang xuống cấp và tha hoá mà thị trường là kẻ có lỗi và đang hứng chịu thật không công bằng. Thị trường không có lỗi, kẻ có lỗi là chính chúng ta đã không chịu hiểu thị trường, không phân định được giới hạn tế nhị giữa giá trị hàng hoá và giá trị nghệ thuật. Những gì mà thị trường mang lại đã được đông đảo các nghệ sỹ, nhất là các nghệ sỹ trẻ hoan nghênh, họ cảm thấy tự do khi trở thành hoạ sỹ độc lập, không ràng buộc gì với chế độ bao cấp và quan trọng hơn cả là một cơ hội thoát được bao nhiêu năm thiếu thốn và nghèo khó.Với mười năm sau “đổi mới”, sự biến đổi bất ngờ do mở cửa và nền kinh tế thị trường tự do mang lại là thời gian chưa được bao nhiêu để sớm ảo tưởng về sự thành công, khởi sắc của hội hoạ để rồi không ít người đã dự cảm về một tương lai gần rằng chính thị trường đó đang đào sẵn một cái hố. Một ngày không xa, tự thị trường sẽ lại chôn vùi những thành công nhỏ nhoi ấy với bao hệ luỵ của nó. Ðó là một kết cục tất yếu; với thị trường: chúng ta chưa biết gì về nó, chưa trả giá , cũng chưa chịu học và nhìn nhận nó một cách cẩn trọng. Ðây là một thách thức bởi vì trên lĩnh vực này chúng ta vừa không có truyền thống, đang chập chững mà còn bị tụt hậu quá xa. Trong lịch sử, chúng ta chưa bao giờ thực sự trải qua hình thái kinh tế thị trường. Phần nhiều nó vẫn phổ biến ở nền kinh tế tự cấp, tự túci. Trong thời gian Pháp thuộc, thị trường chính vẫn do người Pháp cai quản, những người Việt Nam chập chững bước chân vào thị trường mới dừng ở mức hoạt đông yếu ớt và luôn bị người Pháp chèn ép. Cũng chẳng xa xôi gì lắm, trước thời “đổi mới” ít năm, cái từ:” thị trường tự do” vẫn là bị tránh nói đến và được gọi bằng cái tên hàm ý xấu: “chợ đen”. Chúng ta tiếp nhận tư tưởng nhìn kinh tế thị trường với mặt trái đầy tha hoá trước khi thực sự biết về nó. Thành thử chẳng có gì đáng ngạc nhiên và nghi ngờ khi nói hội hoạ Việt Nam hiện nay bị thị trường làm chủ chứ chưa làm chủ được thị trường.
Vậy thị trường ở đây là gì: đó chắc chắn là những người tiêu thụ sản phẩm (người mua tranh), người tạo ra sản phẩm (hoạ sỹ) và trung gian môi giới (các galery, các nhà buôn tranh). Trên một phương diện nào đấy thì chẳng có gì đáng phàn nàn khi kẻ mua người bán nhộn nhịp, mang lại đời sống vật chất cho bao người. Thế nhưng vấn đề ở đây lại còn một đặc thù khác to lớn hơn nhiều của một tác phẩm nghệ thuật với những giá trị riêng của nó mà không thể dùng thước đo hàng hoá thông thường. Sẽ có những giá trị khác nhau giữa một sản phẩm mỹ thuật “rẻ tiền” ( không có nghĩa là mua ít tiền) và một tác phẩm mỹ thuật đích thực. Cái đáng bàn về ảnh hưởng của thị trường đối với tình hình mỹ thuật hiện nay là nó đang thúc ép các hoạ sỹ tạo ra các sản phẩm mỹ thuật “rẻ tiền”, nó đơn thuần chỉ còn là hàng hoá đáp ứng nhu cầu cho một thiểu số nào đó- thế nhưng bi- hài kịch ở chỗ nó vẫn được tung hô như là đại diện mỹ thuật Việt Nam với rất nhiều mỹ từ phần nhiều là dựa trên cơ sở số lượng và thu nhập của tác giả. Có một nghịch lý xuất hiện ở đây là thực sự người Việt Nam đã được hưởng những “thành quả” mỹ thuật ấy hay chưa, có thực sự người Việt Nam tìm được ở đó một giá trị tinh thần để đồng cảm, bộc bạch nỗi lòng, số phận mình hay chưa- câu trả lời là chưa, hoặc chính xác hơn là rất ít. Rất đơn giản, “thị trường” trả lời: bởi vì phần đông người Việt Nam chưa có tiền hoặc chưa đủ tiền để có thể hưởng thụ một sản phẩm tinh thần cao quý như vậy! Những người có tiền thực sự đang toạ lạc ở bên ngoài biên giới. Cũng vì lẽ đấy mà gần đây, khi nói về hội hoạ Việt Nam, người ta nhắc nhiều đến giá trị của “giao lưu và hội nhập” và tất nhiên cũng đủ “khôn ngoan” để nói “vẫn giữ gìn được bản sắc dân tộc”. E rằng, “thị trường” cũng đang biến nốt sự “khôn ngoan” cuối cùng về cái “bản sắc dân tộc” mà không phải ai cũng hiểu đầy đủ ý nghĩa về nó thành thứ “bản sắc dân tộc hình thức” có mùi vị “đặc sản”. Chưa có một thống kê chính xác về số lượng các tác phẩm bán ra và ai là người mua nó. Nhưng chỉ cần vài cuộc điều tra nho nhỏ với các hoạ sỹ và các phòng bán tranh thì có thể ước đoán tới 85% đến 95% các khách hàng là người nước ngoài. Họ ùa vào Việt Nam cùng với chính sách “mở cửa” với đủ loại người, đủ loại quốc tịch và đủ loại văn hoá khác nhau. Nhưng có một điểm rất chung là đều ngỡ ngàng và bị hấp dẫn bởi một nền văn hoá phong phú sau nhiều thập kỷ chỉ được biết đến qua những bản tin chiến tranh, thêm nữa với lưng vốn của một người có thu nhập bình thường nhất trong số họ cũng là một gia tài đáng mơ của người Việt Nam kiệt quệ sau cuộc chiến có thể là dài nhất trong lịch sử cận đại. Trong một đất nước mà kinh tế hàng hoá và tiêu dùng chưa phát triển, những người nước ngoài (với tâm lý tiêu dùng đã trở thành một thói quen) đã tìm được ở Việt Nam một mặt hàng khá phù hợp, đó là tranh nghệ thuật với hình thức không quá địa phương (do có ảnh hưởng của hội hoạ Pháp những năm đầu thế kỷ) và giá cả khá phù hợp với túi tiền (trong các nước phát triển, việc sở hữu hay sưu tập tác phẩm nghệ thuật chỉ dành cho một số tầng lớp giàu có). Ðó còn là các nhà tổ chức nghệ thuật, các gallery, các bảo tàng mới thành lập đang đi tìm cơ hội ở một thị trường mới mà cơ hội có vẻ hứa hẹn cho một cuộc đầu tư có lời một cách dễ dàng, một sản phẩm được coi là một tác phẩm nghệ thuật có giá cả phải chăng hơn một phiên bản dùng để trang trí phòng khách hay văn phòng trong các nước phát triển. Thị trường tranh bắt đầu từ đấy: hoạ sỹ Việt Nam bắt đầu có khách hàng. Số lượng khách hàng mới này trở nên áp đảo những gì mà số kinh phí ít ỏi của các bảo tàng trong nước bỏ ra, nơi mà thời gian trước là đầu mối duy nhất mua tranh của các hoạ sỹ với một giá cả khá tượng trưng. Cái gì phải xảy ra thì tất yếu phải xảy ra: các hoạ sỹ đua nhau vẽ, đua nhau triển lãm đủ loại thử nghiệm, phong cách , trường phái- nếu nhìn trên một khía cạnh nào đó thì đây thực sự là khởi sắc. Thế rồi trật tự dần dần được sắp xếp lại mà người ta vẫn dùng một cách hoa mỹ là “định hình”, “khẳng định bẳn sắc riêng” hay “có chỗ đứng”… để chỉ những tác phẩm, tác giả phần lớn được biết như là đang “ăn khách”. Chỉ cần nhạy cảm và tinh ý một chút cũng có thể nhận thấy những “định hình”, “chỗ đứng” này đang tỏ ra rất đồng điệu với các khách hàng thưởng thức nó- hay gọi theo ngôn ngữ thị trường là các “thượng đế” cần gì và đã được phục vụ tận tình. Về vấn đề cung và cầu thì chẳng có gì đáng bàn, mọi việc tiến triển tốt đẹp đến mức là nhiều hoạ sỹ đã trở thành những ông chủ xưởng “sáng tác” nhỏ thì một, hai công nhân, lớn thì năm, bẩy công nhân để cung ứng đủ cho thị trường những tác phẩm nghệ thuật. Việc đón đúng “thị hiếu” đã mang lại thành công kinh tế và ngược lại bị “thị hiếu” chi phối là thất bại về nghệ thuật. Ðành rằng, việc ràng buộc giữa nghệ sỹ và thị trường không có gì mới mẻ và cũng không chỉ có ở Việt Nam. Thế nhưng điều đáng lo ngại là ở đây là sự tác động của thị trường đang chiếm thế áp đảo, nó đang làm mất đi những súc cảm tinh tế, những sâu lắng của thụ cảm thẩm mỹ (là cái rất cần thiết cho việc chiêm ngưỡng một tác phẩm nghệ thuật). Và tệ hơn, nó đang đánh mất mối đồng cảm của lớp công chúng đông đảo, gần gũi nhất là người Việt bởi vì nó đang mải phục vụ lớp người có tiền đến từ phương Tây. Tình hình này hình như đang được chấp nhận một cách tự nhiên bởi những người hoạt động mỹ thuật: đó có thể do sự thiếu hiểu biết, sự thờ ơ, bàng quan; hoặc cái uy lực mới mẻ của đồng đô la làm cho người ta mất hướng, nghi ngờ vào sự thụ cảm thẩm mỹ của mình; hoặc do nhiễu loạn về thông tin, nỗi lo lắng nếu từ chối hoặc phê phán sẽ bị tụt hậu, cổ hủ… Ðiều này thể hiện tính nước đôi rất rõ trong những cuộc mà người ta bắt buộc phải bình chọn ra những tác phẩm hàng năm để trao giải thưởng. Người ta chấp nhận một cách hình thức gần như 50/50 luận điểm đã được giản lược hoá (nếu không muốn dùng từ nôm na hoá) giữa truyền thống và hiện đại, một cách chiều lòng những nhà hoạch định sách lược văn hoá và xu thế chung do “mở cửa” mang vào cùng với mớ thông tin tạp nham chưa có thời gian mà lựa chọn.
Vậy cái thị hiếu đang chi phối hội hoạ thời “mở cửa” là cái gì? Có thể tìm hiểu nó qua những quan điểm, hiểu biết và những phản ứng tâm lý của người nước ngoài về văn hoá Việt Nam với đủ loại nhận thức, dưới tác động của hệ thống truyền thông, bị chi phối bởi yêu cầu thương mại của thông tin đi đôi với guồng máy của nền công nghiệp du lịch. Có một điểm chung nhất của những người nước ngoài (trừ một số ít những người vì công việc hoặc yêu thích nghiên cứu về Việt Nam) là: chưa có điều kiện, thời gian đủ dài để có những hiểu biết thấu đáo về văn hoá Việt Nam, phần lớn trong số họ chịu ảnh hưởng quan điểm của cách nhìn phương Tây đối với văn hoá Việt Nam với rất nhiều phiến diện. Sẽ rất thú vị khi hội hoạ Việt Nam được người ta yêu mến rồi qua đó họ sẽ dần dần khám phá ra những nét đẹp thực của văn hoá, con người qua các tác phẩm hội hoạ. Thế nhưng con đường này có vẻ lâu và khó khăn hơn- vì rất nóng lòng làm cho họ “yêu mến” mà các hoạ sỹ đã vội vàng chế biến những món ăn thẩm mỹ khác nhau với một điểm đến là phù hợp với từng quan điểm khác nhau về Việt Nam. Có thể chỉ ra đây vài quan niệm chính của giới khách hàng mỹ thuật, và hoạ sỹ đã đáp ứng như thế nào!
Quan niệm phổ thông nhất có lẽ đến từ những đoàn khách du lịch đủ màu sắc kéo đến, hình ảnh Việt Nam nằm gọn trong cuốn sách hướng dẫn du lịch loại bỏ túi được biên soạn vội vàng với đủ thứ nhà xuất bản khác nhau với cùng một điểm rất thống nhất: Việt Nam, một đất nước châu Á xa xôi ít được khám phá với những truyền thống cũ kỹ, phong tục khác biệt và có phần lạc hậu… với đầy vẻ mùi mẫn, gây tò mò của nghệ thuật tiếp thị du lịch. Ðây là mảnh đất phần nào cổ vũ cho những hoạ sỹ được coi là “yếu bóng vía” thu mình vào trong những lối mòn cũ kỹ được vin vào chữ truyền thống với sự tự mãn, bằng lòng một cách vị kỷ, tự quay lưng lại với văn hoá bên ngoài mà loanh quanh với vài cảnh sinh hoạt với cây đa bến nước, vài môtíp dân gian, trang phục dân tộc…rồi đến lúc nhàm chán mà lẫn trong dòng thác của các đồ lưu niệm rẻ tiền.
Khi Việt Nam “mở cửa”, người Mỹ bỏ lệnh cấm vận cũng là lúc thế giới truyền thông phương Tây vội vàng khơi lại vấn đề “như một đất nước mới được nhận ra” một phần cũng muốn lờ đi một phần trách nhiệm cũng như những thất bại của họ trong quá khứ. Một mặt họ cũng muốn vẽ ra một viễn cảnh nào đó nhằm kích thích những nhà đầu tư tìm kiếm một thị trường còn đang bỏ ngỏ. Mà viễn cảnh hấp dẫn những nhà đầu tư nhất vẫn là gợi lại hình ảnh của Việt Nam thời thuộc địa, nơi mà những người phương Tây có thể nhìn lại “thiên đường bị đánh mất” một thời. Những bộ phim, những bức ảnh, hồi ký của Việt Nam những năm đầu thế kỷ được tung ra với đầy vẻ lãng mạn trở thành hành trang văn hoá được các nhà đầu tư mang theo. Giàu có và thực dụng, họ đã tạo cho thị trường tranh Việt Nam một ảo tưởng về một sự đầu tư có lợi. Ðây là dịp phất lên của một thứ “chủ nghĩa dân tộc mơ màng” trong hội hoạ với dáng vẻ hoài cổ xa xăm, đầy vẻ lãng mạn của thứ nghệ thuật “thứ bảy” của thời tiền chiến với những ông hoàng bà chúa, khăn xếp áo the được kết hợp rất khéo tay với một chút kỹ thuật hay hình thức bút pháp của hội hoạ phương Tây để chứng tỏ tính “đương đại” của tác phẩm. Cũng thuộc trong nhóm này, nhưng muốn chứng tỏ cái phẩm chất “mới lạ” của nghệ thuật – dường như một mục tiêu luôn luôn được tung hô như một cái giá của thành công – bằng một cuộc hôn phối ồ ạt của những khái niệm về “tâm linh châu Á”, ” tâm linh làng xã”, “văn minh lúa nước”, “văn minh nông nghiệp” được nhặt nhạnh, giản lược hoá, gán ghép vô tiền khoáng hậu với cái hình thức phương Tây, thứ hình thức được tràn vào Việt Nam theo cơn lũ thông tin mà nhiều khi người ta chả thèm quan tâm đến xuất sứ. Ðây là thứ rất dễ loè bịp những ai “cả tin” và bằng lòng với nhận xét vô thưởng vô phạt: kết hợp hài hoà giữa bản sắc dân tộc và hiện đại. Nhưng thực ra trong thâm căn cố đế, nó là sản phẩm của cái thứ chủ nghĩa chiết trung vu vơ – nó phần nào đáp ứng khẩu vị của những khách hàng phương Tây đang bối rối bởi cái luận đề “nghệ thuật là mới lạ” đã trở thành phổ cập chính tại nơi sản sinh ra nó nay đang hi vọng tìm được chút yên tâm khi thêm nếm vào chút hương vị châu Á.
Một nỗi ám ảnh nữa của những người nước ngoài khi đến với hội hoạ Việt Nam, chính xác hơn là những người đang mang trong mình nỗi ám ảnh của văn minh phương Tây một cái “quyền” mà họ vẫn cho nó như một “sứ mạng” giúp “khai hoá văn minh” những dân tộc được coi là lạc hậu và kém phát triển. Cái “sứ mạng” mà ở mức độ nào đó là sự che giấu tâm lý thích được thống trị hoặc cũng là mối tiếc nuối thời hoàng kim đã qua, thời mà những gì bòn rút của cuộc “khai hoá văn minh” đã làm cho thế giới phương Tây trở nên giàu có. Một nỗi ám ảnh được vẽ nên trong giai đoạn “chiến tranh lạnh” với hình ảnh của các nước “cộng sản” vẫn được giới truyền thông thổi phồng lên như một thảm hoạ của tự do và dân chủ. Một nỗi ám ảnh của những kẻ nghi ngờ những gì của nền dân chủ phương Tây đang ngày càng trở nên khô cứng dẫn đến tìm sự an ủi bằng cách tìm thấy nó “ngọ nguậy” ở nơi vẫn được cho là chưa có nền “dân chủ”. Ngay trong những tác phẩm về trật tự, kinh tế mới được viết gần đây ở phương Tây đã được học giả Harry Magdoff mô tả trong bài viết là “toàn cầu hoá”, một hệ thống mà qua đó một nhóm tài phiệt ưu tú đã mở rộng quyền lực ra toàn thể địa cầu, tăng giá hàng hoá dịch vụ, phân phối lại của cải từ các khu vực có thu nhập thấp (thường là không thuộc thế giới phương Tây) đến các khu vực có thu nhập cao hơnii. Ðồng nghĩa với nó là xuất hiện một trật tự xuyên quốc gia mà theo đó các quốc gia không còn biên giới; lao động và thu nhập chỉ phụ thuộc vào các nhà quản lý toàn cầu, và chủ nghĩa thực dân sẽ tái xuất hiện qua việc phương Nam phụ thuộc vào phương Bắciii, phương Ðông phụ thuộc vào phương Tây. Ðó cũng là bối cảnh của cái vẫn được dùng với nhóm từ “hậu hiện đại hoá”, một hình thức mới đi sau cái giai đoạn được gọi là “hậu thuộc địa” mà Ella Shohat trong một bài viết về “hậu thuộc địa” đã gợi ý: “liên tục và gián đoạn, và nhấn mạnh các phương thức mới, hình thức mớI của hành vi thực dân cũ, chứ không vượt ra ngoài”. Ngay trên tờ New York Thời Báo số ra ngày 18-4-1993, một tờ báo không phải là kém quan trọng, Paul Johnson một trí thức, một nhà báo chuyên viết về vấn đề xã hội cho đăng một tiểu luận nhan đề: “Sự trở lại của chủ nhĩa thực dân – không hề quá sớm” mà ý chính là “các quốc gia văn minh” nên “tái thuộc địa các nước Thế giới thứ ba”, nơi mà những điều kiện cơ bản nhất của đời sống văn minh đã tan vỡ và nên làm việc đó với chế độ uỷ trị. Rõ ràng là có mô hình của chủ nghĩa thực dân thế kỷ 19, và theo lời ông ta, để kinh doanh có lãi, người châu Âu cần phải áp đặt trật tự chính trị.
Tất cả những cái đó hình như đang cổ vũ một phần cho những hình thức hội hoạ gì có gốc gác ở phương Tây, nó ca ngợi những gì đang bước như phương Tây đã bước là “hiện đại”, “tự do”, “đi đúng nhịp và đang phát triển” nhưng cũng rất khôn ngoan khi luôn lợi dụng nó với từ “đổi mới”. Nó đã tạo ra một lớp hoạ sỹ đầy ảo ảnh trong cái lớp bọc “hiện đại”, lo lắng về sự tụt hậu rồi lang thang vô định trong cái “chủ nghĩa văn hoá thế giới”: không cá tính, không mang màu sắc dân tộc để rồi đẻ ra thứ “nghệ thuật tầm phào”. Nó tán thưởng vài người trẻ tuổi mang nặng ý tưởng cơ hội muốn đạt đến tiếng tăm bằng con đường ngắn nhất với những phá phách, gào thét được gán cho vì “dân chủ”, “tự do cá nhân” , rồi đi tìm sự “hợp mốt ” bằng cách thì thầm rỉ tai nhau rằng mình đang “bị có vấn đề” như cái giá của sự dấn thân mà chưa chịu một ngày ngồi suy ngẫm xem để biết xem thực sự thế nào là tự do, thế nào là dân chủ. Ðối với họ: nếu bị “đánh” sẽ là con đường nhanh nhất để nổi tiếng. Nếu tôi bị “phê phán” thì người “bên kia” sẽ thông cảm với tôi. Cái “vấn đề” thực sự ở đây có thể được hình dung như một nhóm người vui vẻ ca hát trên chiếc xe hơi (biểu tượng cho cái “hiện đại”) mới tậu được và phóng thẳng ra giữa sa mạc mà chẳng thèm quan tâm rằng xăng ở trong bình chẳng còn được bao nhiêu. Chỉ đến khi nhận ra rằng cái xe hơi đã trở nên vô dụng, một mình đối diện với sa mạc hoang vắng mà hành trang mang theo chẳng được bao nhiêu. Con đường tồn tại và quay về mới thực sự là khó khăn.
Lập luận của Johnson vừa nhắc ở trên có nhiều hồi âm kín đáo trong công tác của các nhà hoạch định chính sách Mỹ, trên các phương tiện truyền thông và tất nhiên trong chính sách ngoại giao của Mỹ đầy rẫy những chủ trương can thiệp vào Trung Ðông, Mỹ Latinh, Ðông Âu…và vẫn mang tính truyền giáo ở khắp mọi nơi. Thế nhưng điểm quan trọng đã có sự chia rẽ nghiêm trọng mà chưa phải nhiều người biết đến giữa một bên là ý tưởng cũ về chủ nghĩa bá quyền phương Tây và một bên là những ý tưởng mới mẻ hơn đã bám rễ vào những cộng đồng bị coi là thấp kém hơn, bị thiệt thòi một bộ phận khá đông trí thức, học giả và văn nghệ sỹ. Cái cộng đồng bị coi là thấp kém, thiệt thòi, cái cộng đồng mà trước đây bị thuộc địa hoá, nô lệ hoá, bị áp bức không còn câm lặng nữa, họ cũng chẳng cần đến các vị đại diện cho mình ở các vị giới cấp Âu Mỹ. Ðã và đang có một cuộc cách mạng mạnh mẽ đến mức ảnh hưởng đến trào lưu tư tưởng chính trên toàn thế giới.
Có thể sẽ rất nhiều người bi quan mà cho rằng, khi hội hoạ bị thương mại hoá hoàn toàn thì liệu còn đất sống cho những giá trị nghệ thuật thực sự của dân tộc hay không? Có lẽ không đáng bi quan đến như vậy, nghệ thuật thực sự vẫn và đang bám rễ chặt trong đời sống của nhân dân, khi dân tộc đó vẫn tồn tại và vẫn biết yêu, biết ghét thì vẫn biết tạo ra một giá trị nghệ thuật đích thực để cùng nhau tồn tại. Nhân dân cần nghệ thuật cho chính đời sống của họ chứ không phải thứ nghệ thuật như một món “đặc sắc” mang ra thi thố trong “bữa đại tiệc của nhân loại”. Nếu nó thực sự cần với đời sống của một dân tộc thì tự tính nhân bản của nó sẽ toả sáng và nhân loại sẽ thu nhận nó như một sản phẩm của chính mình. Mà chẳng ai xa lạ, một ngày không xa, tự thị trường sẽ góp một phần chọn lựa lấy những gì thực sự tốt. Là thị trường ắt có “hàng giả” nhưng thị trường sẽ chọn “hàng thật”. Thị trường là vậy.
12/3/2002
© Talawas 2002
| i |
Có thể nói đến thị trường xuất khẩu gốm Việt Nam ở thế kỷ 16 -17 nhân đà thị trường xuất khẩu gốm ở Trung Quốc bị đóng cửa do chính sách của nhà Minh đã tạo một cơ hội tốt cho đồ gốm Việt Nam chiếm được một chỗ đứng trong thị trường và phát triển. Thế nhưng người Việt Nam đã không biết cách giữ được thị trường, đồ gốm Việt Nam ” tụt dốc” khi người Trung Hoa ” mở cửa” trở lại.
|
| ii |
Magdoff. “Toàn cầu hoá nhằm mục đích gì?” cuốn sách tuyển chọn các bài báo xã hội năm1992: một trật tự thế giới mới? do Ralph Milliband và Leo Panictch chủ biên (New York: nhà xuất bản Mothly Review Press,1992), 1-32. Trích lại theo cuốn Orientalism của Edward W.Said, NXB CTQG1997.
|
| iii |
Miyoshi, “Một thế giới không biên giới? Từ chủ nghĩa thực dân đến chủ nghĩa dân tộc xuyên quốc gia và sự suy thoái của Quốc gia-Nhà nước” tập san Critical Inquiry19,4-1993 726-51 ,Dirlik,” ánh hào quang hậu thực dân:Sự phê phán của thế giới thứ ba trong thời đại của chủ nghĩa tư bản toàn cầu” tập san Critical Inquiry20,2-1994 328-56
|