trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
14.1.2004
Phạm Toàn
Thảo luận lành mạnh để cứu lấy lớp trẻ …
 
Ông tuổi Nhâm Thân, dạy học từ 1953 tại Trường phổ thông lao động trung ương, tay viết văn bút danh: Châu Diên, tay khoa học giáo dục ký: Phạm Toàn. Trò chuyện với phóng viên Sinh viên Việt Nam (SVVN) suốt một ngày, ông không kêu mệt và luôn cười sảng khoái, thỉnh thoảng có phôn, đành ngừng để nói lầu lầu tiếng Pháp hoặc Anh.

Châu Diên từng có truyện ngắn ăn giải nhì: Cái lô cốt (1959), giải khuyến khích: Gia đình ông chủ nhiệm (1962) và ăn cả giải bút ký: Mái lều thợ khoan (1964). Ðã xuất bản hai tập truyện ngắn Mái nhà ấm (Văn học, 1960) Con nhện vàng (Thanh niên, 1962) và sau 40 năm “lặn một hơi” lại cho in tiểu thuyết Người sông Mê (Hội nhà văn, 2003). Trong 40 năm tập trung vào khoa học giáo dục, Châu Diên vẫn dịch cho NXB Văn học: Chín mươi ba (tiểu thuyết V. Hugo, in 2 lần), Bay đêm (tiểu thuyết A. de St-Exupery), Cô chủ quán (kịch C. Goldoni), Ruồi (kịch J-P Sartre), Sư tử (tiểu thuyết J. Kessel), Nhà tiên tri (thơ Khalil Gibran).

Phạm Toàn, từ năm 1968 đến nay, tạm nghỉ viết văn để chuyên tâm làm khoa học giáo dục. Ông nghiên cứu dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, đề tài này năm 1978 được bằng khen của chủ tịch UBND tỉnh Hà Tuyên, năm 1981 được tặng huy hiệu Lao động sáng tạo, năm 1984 được giải nhì UNESCO khu vực châu Á – Thái Bình Dương. Ông là đồng tác giả các sách: Văn và tiếng Việt-(Công nghệ giáo dục bậc tiểu học đã tái bản trên 10 lần); tác giả các sách: Dạy tiếng Việt lớp 1 (2 bản cho cán bộ nghiên cứu và cho phụ huynh), Nghề dạy Văn (Sở GD Thừa thiên- Huế và Trung tâm CNGD xuất bản, 1991), Công nghệ dạy Văn (NXB Ðại học quốc gia, 2000) và dịch giả sách Cơ cấu trí khôn (NXB Giáo dục 1996,1997).

Ông đang có trong máy PC bản thảo viết dở: Hợp lưu các dòng tâm lý học – Công nghệ giáo dục và một hai đoạn “gãi gãi” dần các tiểu thuyết khác nữa… SVVN đăng cuộc trò chuyện tản mạn với ông xoay quanh chủ đề Cải cách giáo dục.

*

Sinh viên đại học kêu “Thầy đọc chậm để em ghi”. Thí sinh đại học viết “Nguyễn Tuân là một nhà văn rất hung bạo”. Thi đại học năm 2003, gần 600.000 thí sinh (xấp xỉ 70%) có tổng số điểm 3 môn thi dưới 10; có trường 4 điểm đã đỗ. Những cuộc tranh cãi về sách giáo khoa trong nhà trường, nạn học thêm, nạn bằng cấp thật và giả, Cải cách giáo dục đi về đâu, Công nghệ giáo dục làm được gì và đâu rồi?… Chúng tôi lan man những vấn đề này với ông Phạm Toàn, người cùng các đồng nghiệp và giáo sư Hồ Ngọc Ðại làm thành tập thể khoa học Công nghệ giáo dục (CNGD). Ðồng ý với lời cảnh báo “nền giáo dục VN hiện đang đại khủng hoảng”, ông góp ý phân tích cuộc khủng hoảng, và kêu gọi “hãy thảo luận lành mạnh để tìm cách cứu lấy con em”.

SVVN: Hãy bắt đầu từ bệnh thành tích trong nhà trường hiện nay…?



Phạm Toàn (PT): Làm gì có bệnh thành tích? Nói mỹ miều thế thôi, nên chỉ đích danh là thói nói dối. Ai còn lạ gì phó tiến sĩ khoa học xã hội và nhân văn nước ta ra sao. Rồi đánh đùng một cái, cũng giá trị ấy, nhờ một nét bút bỗng thành tiến sĩ, không nói dối thì là gì?… Và hãy nhìn công việc soạn sách giáo khoa “cải cách”: Làm gì có cải cách ở những cuốn sách mới in, nhưng nội dung hoàn toàn cũ, ngốn hàng triệu đô-la đó?

SVVN: Người ta cũng có nói đến đổi mới đấy chứ?



PT: Nói thì ai chẳng biết nói! Trong sách hướng dẫn Tiếng Việt 1 và Tiếng Việt 2 còn nói cả thao tác tư duy, cả sáng tạo. Nhưng mở sách ra chỉ thấy những bài học và bài tập mò mẫm và thuộc lòng, có thứ tư duy gì trong cách học mò rồi thuộc lòng và bắt chước? Sách Tiếng Việt 1 do Ðặng Thị Lanh chủ biên thì hệt như sách thời Tản Ðà. Báo Văn nghệ trẻ đã đăng cả tháng trời những bài phân tích chi tiết những chỗ sai của sách Tiếng Việt 2 do Nguyễn Minh Thuyết chủ biên. Sách tiếng Việt lớp 2 (và cả tiếng Việt lớp 3) vẫn còn những bài tập trùng nội dung sách tiếng Việt lớp 1. Chưa làm xong sách bậc tiểu học đã soạn cho hai bậc trên. Ngộ nhỡ bậc dưới sai thì sao? Hay các nhà “cải cách” đã giả định sẵn rằng hễ làm là đúng ngay? Ðó mới chỉ là chỗ nhô nhỏ xíu trên phần nổi của tảng băng.

SVVN: Cải cách giáo dục gặp nguy cơ gì lớn nhất?



PT: Sự mò mẫm, sự thiếu định hướng, và thời nay thì còn có sự học lỏm nước ngoài. Ðiều này khiến ông Hồ Ngọc Ðại nói to lên là nước ta còn chưa có trường sư phạm. Chỗ nào cũng thấy sự lạc hậu, nhưng có lẽ môn Văn và Ngữ thì lạc hậu nhất. Căn bệnh bình văn vẫn hệt như Ngô Tất Tố kể lại trong “Lều chõng”. Chỗ khác là ngày xưa các “lò” do từng cụ Tú, cụ Cử xử lý; ngày nay do các giáo sư soạn bài bình văn mẫu, thầy giáo các cấp bình văn theo mẫu và học trò học thuộc lời bình văn theo mẫu. Cứ thế mà tán, sai đúng bất biết, cốt “ta thắng địch thua, cả nước được mùa, thế giới ủng hộ” là đủ, rồi còn trích dẫn vung tí mẹt.

SVVN: Vậy phải hiểu thế nào về sư phạm?



PT: Người ta quen nhìn sự vật theo lối trực quan, hiểu “sư phạm” là cái nhà trường có cái biển “sư phạm”. Muốn sư phạm hoá được quy trình chuyển giao những tri thức cơ bản (cả về Ngữ và Văn cũng như các môn học khác nữa), trước hết phải biết rõ học sinh đến trường là để học cái gì và học cái đó theo cách nào, chứ không phải là cứ đè con em ra mà bảo: “học đi”.

SVVN: Vậy “học” là gì?



PT: Nên hỏi: học là làm những công việc gì? Câu hỏi cũ nhưng đó là toàn bộ bí mật nghề nghiệp. Theo thói quen trực quan, người ta chỉ thấy “học” là “đến trường”, nhưng ít ai tìm cho ra nhẽ, đến trường rồi làm gì và làm như thế nào thì mới được coi là đến đó để học theo một cung cách gọi bằng phương thức nhà trường.



Học là gì? Nhà tâm lý học Mỹ hiện thời, ông Howard Gardner, bằng cách phân tích việc “học” của người không đến trường, cho thấy có cách học bẩm sinh khác với cách học như một quá trình dùng thao tác tư duy phù hợp để chiếm lĩnh đối tượng. Văn là một đối tượng, Ngữ là một đối tượng, Toán cũng vậy…

Ðiều vừa nói rút từ cuốn The Unschooled Mind (Trí khôn phi học đường) của ông. Luôn tiện cũng nói thêm rằng, tôi đã dịch cuốn Cơ cấu trí khôn của tác giả này, NXB Giáo dục xuất bản rồi tái bản ngay. Nội dung sách này rất cần cho các nhà sư phạm vì, muốn tổ chức việc học của trẻ em thì cần biết chắc sự hình thành bảy dạng trí khôn khác nhau. Tôi cũng đã giới thiệu lại nội dung sách đó trên tạp chí Tia sáng số tháng 6/03.

SVVN: Trường sư phạm của ta chẳng lẽ không biết điều đó?

PT: Có thể biết nhiều hơn thế. Nhưng trên “trần” vẫn có ông Phạm Minh Hạc đè xuống. Trường sư phạm của ta vẫn đang dùng sách Nhập môn tâm lý học của ông Hạc, ở trang 60 viết thế này: “Cũng giống như hầu hết các nhà hành vi khác, Skinner đem tất cả các kết luận rút ra từ các công trình nghiên cứu trên động vật (chuột, bồ câu) vận dụng vào lý giải tâm lý con người. […] Có lẽ trong những điều kiện nào đó, hoàn cảnh của con người ở xã hội Mỹ đã đưa các nhà khoa học tới cách suy nghĩ, cách nghiên cứu như vậy chăng?”

Các bạn có tin rằng nội dung đó là khoa học không? Ðó là Tâm lý học hay là cái gì? Có thể tin rằng người viết những điều như thế lại đủ năng lực tổ chức việc học của con em?

SVVN: Viện sĩ viết và tư duy như vậy, giáo sư thì sao? Ông Trần Ðình Sử có sai như vậy không?



PT: Ông Trần Ðình Sử có lần đến Trung tâm CNGD trình bày về Thi pháp, cuối buổi đã kết luận rằng: “phải hiểu Thi pháp như tôi thì mới xoá được nạn mù thơ”. Nhưng cứ xem cách ông Trần Ðình Sử “tán” bài thơ Ðồng chí của Chính Hữu (đăng trên báo Văn nghệ trẻ) thì biết tình hình bình giảng thơ văn từ khi ông Sử đi học quả là trầm trọng đến mức nào!

SVVN: Ðã có bao nhiêu cuộc Cải cách giáo dục để bây giờ vẫn cãi nhau về những vấn đề cơ bản? Vì sao có tình trạng đó?



PT: Vì vẫn chỉ cãi cọ về chi tiết, chưa bàn đến những điều mang tính nguyên lý, hệ thống. Gạt qua bên những thái độ nọ kia, cần thừa nhận những điều ông Trần Mạnh Hảo và báo chí vạch ra, nhưng đó vẫn chỉ là những sai sót về chi tiết. Cái sai trầm trọng hơn là sai về nguyên lý và hệ thống, thì chưa thấy ai chỉ ra được. Các nhà nghiên cứu nước ta thường làm việc theo kinh nghiệm, ít chịu nâng công trình lên tầm lý thuyết. Có ông viết về một nhà văn hoặc một đề tài nào đó, có thể coi là hay, nhưng chưa bao giờ ông này đưa ra được lý thuyết dựa trên những điều mình viết cả. Chẳng hạn, nói và bình luận về “cái Tôi” của một nhà văn nổi tiếng nào đó, nhưng tuyệt nhiên không thấy chỉ rõ ra “cái Tôi” ấy là gì trên tầm lý thuyết để người khác vận dụng sang được những công trình khác.

Một thí dụ khác, có lần, một giáo sư đến Trung tâm CNGD giảng về dạy thơ văn. Giáo sư mở đầu bằng một ý rất hay “Thơ là gì? Thơ là cái vớ vẩn. Như thể, ngoài thềm rơi cái lá đa… tiếng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng… Sao lại rơi chính cái lá đa? Sao mà rơi lại “mỏng” và “rơi nghiêng”?… ” Ðó là một cảm nhận rất thú vị, nhưng giá mà từ trình độ kinh nghiệm đó giáo sư nâng lên thành lý luận về làm thơ và dạy thơ thì sẽ giúp ích cho giáo viên biết bao nhiêu...

SVVN: CNGD coi hai đối tượng Văn và Ngữ khác nhau ra sao?



PT: Do “học” là chiếm lĩnh các đối tượng khác nhau, nên trong nhà trường, cách học ngôn ngữ học phải khác cách học văn chương. Ngôn ngữ thì lô gích mới đúng còn thơ văn thì phi lô gích mới hay. Ngôn ngữ thì cần khách quan nhưng thơ văn thì càng chủ quan càng hấp dẫn. Trẻ em khi đi học đều đã thuần thục tiếng nói, vậy đến trường là để học vì sao mình đúng và vì sao mình sai tức là phải học Ngôn ngữ học chứ không thể học lẩm cẩm kiểu Quốc văn giáo khoa thư hoặc sách Tiếng Việt cải cách hiện thời. Còn học Văn là để được biết cách làm sao cho trong sáng cõi lòng, thì công việc này càng khác với học ngôn ngữ học. Chưa kể là tiết học Văn còn cần cả sự thanh thản cảm nhận, dù thô sơ dù tinh tế thì cũng là cảm nhận mang tính cá thể. Nghĩa là không nên chính trị hoá môn Văn.

SVVN: Trẻ em đang chịu đựng một nền giáo dục không rõ nguyên lý và không có tính hệ thống. Hậu quả rồi sẽ như thế nào?



PT: Xin hãy nêu câu hỏi này với cả xã hội. Tôi không nói hộ mọi người. Tôi chỉ thấy một điều: bạo chúa ngày xưa đốt sách chôn học trò, nhưng sự ngu dốt của người thời nay có thể dẫn đến viết sách chôn học trò.

SVVN: Theo ông, nguyên nhân của những nguyên nhân là ở đâu?



PT: Ở chỗ chúng ta coi thường định hướng đúng về lý thuyết cải cách giáo dục, chỉ biết “làm” là “làm”, “mần tới” thôi. Tại các nước, một cuộc cải cách giáo dục bao giờ cũng có tác giả và truyền thống trách nhiệm đó có từ lâu rồi. Mô hình Trường trung học nhân dân Ðan Mạch – “con đường hiện đại hoá phi bạo lực” của đất nước này – bắt đầu từ năm 1840 với tên tuổi rõ ràng của mục sư N. F. Severin Grundtvig, người cho tới tận hôm nay vẫn chịu trách nhiệm về con đường cải cách giáo dục của nước mình. Tạp chí Tia sáng số đầu tháng 9/03 đã có bài giới thiệu chuyện đó, bạn đọc có thể tham khảo.

Còn một nguyên nhân nữa, đó là nạn nhai lại khẩu hiệu. Ở Việt Nam hiện nay, người ta nói “lấy học trò làm trung tâm”, nhưng thực ra, họ vẫn làm như cũ: lấy bục giảng làm trung tâm. Có một địa chỉ thực sự lấy học trò làm trung tâm – đó là Trung tâm CNGD của Hồ Ngọc Ðại – nhưng, nó đang bị bóp chết.

SVVN: Đã từng có một giải pháp là Công nghệ giáo dục, bây giờ nó đâu rồi?



PT: CNGD ra đời tháng 4 năm 1978 tại trường Thực ngiệm Giảng Võ, Hà Nội. Tập thể khoa học này hiểu rằng, thảo luận lý thuyết ở một nước thiếu thông tin như nước ta là cực kỳ khó, nên họ đã tìm cách cho xã hội “trực quan” một hệ thống giáo dục lý tưởng. CNGD trình ra một nguyên lý gốc, ấy là: giáo dục phải tổ chức cho học sinh tự làm việc để các em có những hiểu biết, những tình cảm của con người hiện đại. CNGD chống lại cách giảng dạy nhồi nhét, độc thoại, nó chống lại việc đưa vào tay học sinh những kết luận có sẵn.

Cách làm của CNGD trải dài trong 25 năm, phát triển ra 43 tỉnh thành… toàn bộ chi tiêu hết 10.000 USD bằng nguồn kinh phí tự tạo. Cuộc cải cách giáo dục làm ra cái gọi là chương trình năm 2000, ngoém một cái, tiêu hết nhiều triệu đô la Mỹ đi vay. CNGD thì bị phân biệt đối xử, người ta không tổng kết gì hết, cứ “đóng cửa ” đã, làm gì nhau nào?

Biết làm sao? Những nhà cải cách thời đại nào thì cũng khốn khó như thế. Không phải ai ai cũng thắng lợi, nhiều người thất bại vì xã hội nói chung bao giờ cũng thích chọn lối mòn. Xu thế của xã hội là “ổn định” theo nghĩa tĩnh; giáo dục lại luôn luôn là “tên lính gác cho sự ổn định“. Trong tình hình đó, CNGD lại chỉ quan tâm đến cái “tĩnh” theo ý nghĩa phải phát triển, nghĩa là “tĩnh” như cái máy bay đang bay ấy, chứ không tĩnh như mặt nước ao tù. Tổ chức thực nghiệm kiên trì theo CNGD sẽ đáp ứng được sự ổn định động đó.

SVVN: Phải chăng còn do cơ chế thị trường nữa?



PT: Xin đừng rên lên bài ca rẻ tiền về cơ chế thị trường. Xã hội của cơ chế thị trường đích thực là xã hội của chất lượng và năng động chứ không phải là xã hội trì trệ và chụp giật. Sự trì trệ không do cơ chế thị trường tạo ra, mà do… cái gì đó mọi người hãy nghĩ cho kỹ… Muốn làm cách mạng nữa hay thôi, muốn làm cho đất nước thực sự hiện đại hoá hay chỉ là vờ vịt, thì những ai đó và những thiết chế đó hãy nghĩ. Báo SVVN chẳng nên dại gì gợi ý quá sâu, để người lớn tự ái thì lại ăn đòn đấy.

SVVN: Xin hỏi câu cuối với nhà văn Châu Diên: ông lại quay về sáng tác? Và tiểu thuyết “Người Sông Mê” nói về chuyện gì?



PT: Xin các bạn hãy đọc và tự cảm nhận lấy xem nó nói chuyện gì, các bạn thích hay không thích, hoặc các bạn còn mong chờ gì hơn nữa… Tác giả sẽ không giải thích gì hết. Giải thích văn ngượng lắm. Ðó là Văn chứ không phải là Ngữ. Lão Phạm Toàn sẵn lòng giải thích các quan điểm trong cuốn “Công nghệ dạy văn” nhưng nhà văn Châu Diên sẽ không hé môi giải thích một chút gì về cuốn tiểu thuyết kia cả. Ðừng trách mình “khoảnh” nhé !

 
© talawas 2026