Robert Braun
Một trăm (bốn mươi) chữ ký của giới trí thức, cuộc diễu hành, những tràng pháo tay, những vòng tay ôm choàng của các quý ông quý bà sang trọng trong ngày khai mạc tuần lễ phim – tất cả đứng về phía đạo diễn phim Szabó Istvan – đã đưa lại hình ảnh về một tình thế đáng buồn của dư luận Hungary – cũng dễ hiểu thôi – cho dù nó biến sự tưởng niệm sáu mươi năm ngày Holocaust trở thành buồn bã một cách cay đắng.
Việc thừa nhận sự phát giác về đạo diễn Szabó Istvan là dịp để chúng ta cùng lúc suy nghĩ lại. Có thể nhận ra sự hời hợt nông cạn của những nghiên cứu về Holocaust ẩn sau những bản án đầy tri thức hôm nay về chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa xã hội. Tôi muốn tránh việc so sánh các hệ thống toàn trị, nhưng có thể nói, cả hai hình thức của độc tài đều giáng những đòn thái quá vào những hệ thống giá trị đạo đức.
Cá nhân đạo diễn Szabó Istvan và những việc ông đã làm, đối với tôi hấp dẫn hơn nhiều so với nhu cầu nghèo nàn được cả trăm trí thức tuyên bố, cùng với những hành động khác, nhưng sự im lặng cũng không hay ho gì hơn: đấy là sự im lặng trốn tránh sau lời tuyên án.
Với tôi, sự đồng lõa của Szabó Istvan – tuy có muộn hơn so với những Szepesi, Novak, Tar, Molnar Gal – nhưng cũng đáng bị lên án. Nghệ thuật, tài năng bóng đá, cũng như khả năng ký giả không cứu vớt được họ. Người nghệ sỹ không thể được tha bổng, giống như người anh hùng trước những tội ác sau này của mình. Szabó im lặng, sau đó làm dịu bản án bằng một câu chuyện tự cứu.
Martin Heidegger là một triết gia vĩ đại và là một tên phát xít. Herbert von Karajan là một nhạc trưởng lớn và là một tên phát xít. Chúng ta đọc sách của họ, nghe nhạc của họ. Nhưng chúng ta kết án họ như một con người.
Nhớ lại quá khứ của chúng ta, ít nhất cũng cần phân biệt chút đỉnh sự khác biệt đạo đức, nghĩa là trong xã hội toàn trị đó có những kẻ tội phạm, những nạn nhân, những người chống đối, và những kẻ chỉ quan sát. Các ranh giới nhiều khi thật rõ ràng, nhưng nhiều lúc lại không.
Cần phải nói về điều này. Về các ranh giới và về các bước qua ranh giới.
Cần nói về chuyện những ai đã là nạn nhân, và những ai đã là kẻ phạm tội. Những ai chỉ đứng quan sát và những ai đã dám chống lại. Cần trao giải thưởng cho những người dũng cảm, tự hào về họ, chọn họ làm những tấm gương. Cần học tập họ, tập lại việc làm của họ từ việc nhỏ nhất, trong cuộc sống hàng ngày. Những kẻ chỉ quan sát cần phải suy nghĩ một cách có quan sát, xem thực tế lúc đó có đúng là chỉ nên quan sát hay không.
Rằng việc quan sát đó chỉ vì là kẻ nghèo nhu cầu – nghĩa là có tội – hay chỉ vì trốn tránh.
Cũng như, những kẻ phạm tội trong thực tế có đúng là phạm tội hay không, có gây thiệt hại không, họ đã được gì và đã mất gì, họ có những cơ hội khác hay không.
Từ hàng chục năm nay, có một quan niệm chung liên quan đến việc hồi tưởng lại vấn đề Holocaust – trái với các nước khác, trước hết với Đức – là tại Hungary không xảy ra sự đối mặt. Một vài từ ngữ dũng cảm ít ỏi trống rỗng vang lên từ những nhà chính trị còn muốn nhớ lại, và những câu nói dài dòng hèn nhát, vô thưởng vô phạt từ những chính trị gia khác. Quá khứ bài Do Thái của Hungary chưa khép lại, còn chúng ta đi bên cạnh nó một cách vô tình – và những bài nói chuyện về nó vang lên trống rỗng, giả dối.
Nhưng sự vô tình cũng khá hấp dẫn, bởi vì theo một vài ý kiến có liên quan đến sự vô tình, thì cho rằng bản thân việc bài Do Thái cũng tự xảy ra.
Một triết gia nữ Đức-Mỹ, Hannah Arendt, đã viết về Adolf Eichmann là cái ác hàng ngày đã hóa thân vào nhân vật này, đấy là sự vô tình của tội ác. Eichmann – bà viết – đã không suy nghĩ, là đã hành động đúng hay sai. Hành động chung của hàng triệu sự vô tình kiểu Eichmann – đấy có thể là Holocaust.
Tại Đức người ta đã tương đối dũng cảm để từ bỏ sự vô tình. Người ta bắt đầu suy nghĩ. Hiển nhiên, về một hiện tượng bỉ ổi và đáng buồn như Holocaust, để có thể suy nghĩ thì cần có nhiều người suy nghĩ, nhiều khẳng định công khai, nhiều tranh luận.
Adorno, Habermas, Sturmer, Fest, Nolte, Hillgruber, Mommsen – đấy là tên những người có suy nghĩ, những người đại diện cho nhiều lập trường khác nhau để tranh luận, xem cái gì đã xảy ra. Đây là tranh luận lịch sử được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, nhiều cách khác nhau, mở đường cho việc phân tích những hậu quả của Holocaust từ những giá trị đạo đức ở nước Đức ngày nay.
Tại Hungary không có tranh luận lịch sử. Bài Do Thái là đề tài khiêu khích chính trị hàng ngày và là đối tượng của bộ môn lịch sử, chứ không phải của những tranh luận kịp thời. Di sản lịch sử – như cuộc cách mạng của Rakoczi, và bộ luật của II. Jozsef – là chữ trong sách sử, là bảng chỉ dẫn trong viện bảo tàng, là sự vội vã trong ngày kỷ niệm.
Chúng ta sẽ không biết tại sao những điều đó lại cần thiết cho chúng ta và con cái chúng ta. Và tất nhiên, chúng ta sẽ không biết tới những gì đã bị hủy hoại, và như vậy chúng ta sẽ không hồi tưởng lại nhiều hơn hoặc ít hơn. Sau này tất nhiên chúng ta cũng sẽ không biết nốt, rằng trong những sự kiện ít phức tạp hơn, chúng ta sẽ có một lập trường như thế nào. Chúng ta chỉ sẽ tồn tại, và chờ đợi có một đấng cao siêu nào đó nói cho biết cần phải suy nghĩ như thế nào về họ.
Trong mối quan hệ với chủ nghĩa cộng sản, những hồi tưởng cá nhân còn lại: người ta biết chính xác ai là bạn mình và ai là kẻ thù của mình, ai đứng ở đâu.
Trong chính trị – nếu quá khứ quen thuộc – cử tri có thể bỏ phiếu cho chính trị gia này hoặc kia. Nhưng trong phạm vi mà khoảng cách giữa đời sống cá nhân và chính trị rộng hơn thì tất cả chúng ta đều cần đến người tư vấn. Cho lẫn nhau – và cho những người viết có trách nhiệm. Như vậy cần phải viết, cần phải nói, cần tranh luận, khẳng định, bàn bạc, quy trách nhiệm và tự bảo vệ. Bằng sự nổi giận và bằng sự tham dự, để sau những nổi giận và tham dự của nhiều người khác, cuộc tranh luận sẽ thuyết phục được người đọc, và mở ra một khả năng, là chúng ta có thể uốn những thuyết phục của mình thành những đánh giá chung.
Đừng nhầm lẫn và cũng chớ ngạc nhiên. Những giá trị ngày hôm nay của chúng ta, cho cả các cá nhân và cho cả cộng đồng cùng một lúc, đều (có thể) xuất hiện từ những cuộc tranh luận. Văn hóa than phiền, sự kìm nén và rách rưới đặc thù Hung, đặc tính thiếu tự hào và nhầm lẫn tỷ lệ của người Hung chúng ta, thói đờ đẫn lười biếng hàng ngày, thói quen thiếu đoàn kết và hoàn thành công việc, không biết cách kính trọng và sùng bái sự kính trọng, và còn nhiều cái khác nữa – chúng ta thiếu hẳn những tranh luận về những điều này.
Những tranh luận về bản thân chúng ta hình thành nên kiến thức, giúp chúng ta điều chỉnh trong công việc của cuộc sống hàng ngày. Trong chính trị, trong đời sống cộng đồng, trong đời sống kinh tế. Nhưng nếu ta giả dối và rỗng tuếch trong những việc lớn của cuộc đời – là phân vân giữa nhát gan hoặc dũng cảm, giữa các biên giới của tự lựa chọn hay nghĩa vụ, trong cái khung của một xã hội toàn trị chuyên chế – lúc đó, trong những việc nhỏ hàng ngày chúng ta cũng chẳng chứng minh được mình. Và lúc đó thật nguy hiểm, ta đã trở thành nô lệ cho những thế lực độc ác hoặc đơn thuần cho những Eichmann đời thường, và bản thân chúng ta cũng trở thành tội phạm tầm thường – một cách không nhận ra.
Bây giờ là bây giờ. Chúng ta đã bỏ lỡ nhiều cơ hội để chấm dứt sự vô tình.
Một trăm trí thức – tôi viết một cách khó khăn, bởi trong số họ có nhiều người tôi kính trọng vì bao lẽ khác – đang muốn tiếp tục vô tình và hèn nhát. Người không nói, người không bày tỏ lập trường. Bà Hannah Arendt nêu trên, trong một bức thư có liên quan đến những thông đồng bài Do Thái đã viết, dân tộc của kẻ phạm tội sẽ đau đớn hơn cả.
Hãy thay đổi điều cần thay đổi: sự vô tình của chính cộng đồng của tôi thật đau đớn và tội lỗi.
Bản tiếng Việt © 2006 talawas