trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
12.3.2004
Nhỏ Thanh
Suy nghĩ trước Hoàng Thành
 

Nếu bây giờ có tiền về Hà Nội thì thế nào tôi cũng phải bố trí thời gian đến bằng được Ba Đình để xem di tích Hoàng Thành một cái. Tôi vốn tò mò, thích chiêm ngưỡng những cái lạ, cái nhất. Vậy nên, có một dạo tôi đã phải bỏ công, bỏ sức đến bằng được Cung Văn Hoá Hữu Nghị Việt Xô và cầu Thăng Long xem mặt mũi nó như thế nào. Vườn Bách Thú nơi có nhiều giống chim hiếm, thú lạ bị nhốt, Trung tâm triển lãm Giảng Võ, nơi trưng bày những thành tựu nổi bật về kinh tế, khoa học, kỹ thuật… của cả nước đã từng là những địa chỉ quen thuộc của tôi, nhắm mắt mà đi cũng không sợ lạc. Vậy thì hà cớ gì, khi có dịp về Hà Nội mà tôi lại bỏ qua không đến viếng Ba Đình – nơi mà trong khi đào móng để xây dựng quần thể nhà Quốc hội mới thay cho cái hội trường nhỏ bé, tẻ nhạt, đơn điệu chẳng có đường nét nào đáng kể về mặt kiến trúc được sử dụng hơn nửa thế kỷ qua – người ta đã phát hiện ra một phần của kinh thành Thăng Long cổ. Một sự kiện khảo cổ học được đánh giá là chấn động Việt Nam và có khi là cả thế giới.

Đã có quá nhiều sách báo nói về sự kiện này. Nếu có điều kiện đến thăm Hoàng Thành thì chắc chắn là tôi cũng chỉ được xem lại những gì mà các phương tiện truyền thông khắp nơi đã nhắc đi nhắc lại trong thời gian vừa qua. Có thể người ta sẽ chỉ cho tôi xem một hố móng rộng mênh mông diện tích lên tới 14000 m2, nơi các nhà khoa học phát hiện ra hẳn năm nền văn hoá chồng lên nhau: Văn hoá tiền Thăng Long, văn hoá các thời Lý, Trần, Lê và Nguyễn. Cũng có thể là người ta sẽ chỉ cho tôi xem một phần diện mạo cực kỳ phong phú của các cung điện xưa trong Hoàng Thành thời Lý, Trần, Lê, để cho tôi thấy qua 14 hố khai quật, các chuyên gia đã làm xuất lộ được nền móng của một cung điện lớn dài 62 mét, rộng 27 mét với 9 gian nhà thuộc thời Lý và thời Trần với hệ thống 40 trụ móng chống lún rất kiên cố, chứng tỏ rằng điều mà báo chí đã nói là hoàn toàn đúng. Có thể tôi cũng sẽ được xem cái giếng nước đường kích 68 phân, sâu hai mét rưỡi còn khá nguyên vẹn từ thời Lý cùng với hai cái giếng nữa thời Lê, hoặc dấu tích hai nền móng cung điện thời Lý có chân tảng đá hoa sen dài 24,5 mét, rộng 20 mét hoặc dấu vết rõ nét của một con đường rải sỏi dài 27,5 mét, cũng như rất nhiều hiện vật trong số hơn bốn triệu hiện vật mà người ta đã tìm thấy v.v và v.v…

Thấy để mà tự hào. Dân Việt ta vốn rất thích, rất khoái tự hào về truyền thống của mình. Vậy nên, từ ngày Hoàng Thành phát lộ, tự nhiên, cái sự thích thú, khoái chí ấy lại càng có điều kiện để thể hiện. Báo chí trong thời gian vừa qua đã đăng tải khá nhiều về những sự tự hào này. Nói chung là dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, bất khuất, kiên cường… trong mọi lĩnh vực, cha ông ta cần cù, thông minh, tài giỏi, có tầm nhìn xa trông rộng… cũng trong mọi lĩnh vực. Từ nay chúng ta đã có thể xoá bỏ được cái mặc cảm là kinh thành của ta manh mún, nhỏ bé, và không chỉ thế, giờ thì ta có thể liên tưởng kinh thành của ta với những kinh thành nguy nga tráng lệ khác trên thế giới, chẳng hạn như thành Rôm hay thành E-ghe mà không sợ bị ai đánh giá là lố bịch. Tuy nhiên, những sự tự hào, sự so sánh, liên tưởng ấy đến nay đã quá nhiều, giờ nếu có muốn bày tỏ thêm một tí nữa thì cũng chẳng đáng kể, thôi thì cho tôi xin được miễn thứ luôn.

Đứng trước Hoàng Thành, trước mặt cắt thể hiện đủ năm tầng văn hoá nào là tiền Thăng Long, nào là Lý, là Trần, là Lê, là Nguyễn…, tự nhiên tôi lại liên tưởng đến cái làng mình.

Theo tôi nghĩ thì làng tôi chẳng có truyền thống gì. Vì các cụ ông làng tôi ít người đỗ đạt nên nhà nước không xếp hạng làng tôi là làng khoa bảng. Vì từ thời xửa, thời xưa không có ông quan nào đi sứ rồi cóp được một nghề gì đó bên Tàu về truyền cho một nghề kiếm cơm nên ngành văn hoá không xếp làng tôi vào hạng làng nghề. Làng tôi không có tương hay rau muống ngon, không có cá rô to, cũng như không có húng ngon, không có đào đẹp, quất đẹp…, cái gì trong làng tôi cũng chỉ dừng lại ở mức vừa vừa, tàm tạm, bánh chưng, bánh gai, bánh đậu xanh hay bánh cuốn, đậu phụ gì thì cũng vậy. Làng tôi đơn sơ, nghèo nàn lắm, làm sao có thể so sánh được với Hoàng Thành, vậy mà chẳng hiểu sao khi đứng trước dấu vết của công trình vĩ đại này, tự nhiên tôi lại cứ muốn nghĩ về nó.

Cũng như những ngôi làng tầm tầm khác ở đồng bằng Bắc Bộ, dù nhỏ đi chăng nữa thì trước cách mạng Tháng Tám, các cụ làng tôi cũng góp vốn, góp công, góp sức nhau xây dựng được cho làng một ngôi đình. Có ngôi đình ấy thì hàng năm các cụ chức sắc cùng các cụ quan viên mới có chỗ mà hội họp, bàn việc tế thần định kỳ, việc phạt vạ, ăn vạ đột xuất, hay những việc làng chung chung khác. Có cái sân đình ấy thì hàng năm, dân làng mới có nơi mà xem chèo hay xem vật, xem rước; hàng đêm, trai làng, gái làng mới có chốn mà hẹn hò, tình tự; hàng ngày, trẻ con làng mới có nơi mà phá phách, chơi bời.

Theo cách nói của mấy anh mấy chị bên chuyên môn thì văn hoá nông thôn Bắc bộ là văn hoá đình làng, áp dụng vào trường hợp cụ thể là làng tôi thì thấy điều đó quá đúng. Thử tưởng tượng mà xem, nếu không có cái đình làng ấy thì cuộc sống của các cụ chúng tôi ngày xửa ngày xưa âm thầm, tẻ nhạt biết bao. Trong luỹ tre làng âm u, đã đèn nhà ai nhà ấy rạng rồi, nếu không có một nơi sinh hoạt chung như thế thì cuộc sống của các cụ tôi còn co vào, còn cố thủ, còn lạc hậu, còn càng chẳng biết gì đến thế giới xung quanh.

Thú thật là tôi chẳng biết các cụ làng tôi đã ấp ủ ý định rồi bắt tay vào khởi công xây dựng ngôi đình từ thế kỷ thứ mấy. Muốn rõ điều này có khi phải chờ hậu thế, hy vọng rằng trong đám con cháu chúng tôi có đứa nào dũng cảm dám theo học ngành khảo cổ vốn chủ yếu dựa vào sành sứ cùng xương, cốt, vỏ trai, vỏ hến cùng mấy mẩu kim loại han rỉ… nhiều xương xẩu mà ít màu mỡ. Nhưng, có một điều chắc chắn là nó đã tồn tại qua nhiều thời gian với nhiều thử thách lớn lao. Vì, lại theo cách nói bóng bẩy của mấy anh mấy chị nhà văn thì suốt chín năm kháng chiến trường kỳ, bất chấp bom rơi đạn nổ ùng oàng, giữa những mái lá, mái tranh lụp sụp, nó vẫn đứng sừng sững như một thứ biểu tượng và niềm tự hào của cả làng.

Sau rất nhiều hy sinh và gian nan vất vả, rút cuộc rồi cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc ta cũng thành công tốt đẹp. Khi chính quyền thực sự về tay nhân dân ta thì cũng như những làng khác, làng tôi cũng có một nhóm chức sắc mới. Tôi không dám nói chủ trương, chính sách, chỉ thị từ cấp nào đưa xuống, chỉ biết rằng dưới sự lãnh đạo của nhóm chức sắc mới này cuộc sống về mọi mặt ở làng tôi có nhiều thay đổi khủng khiếp. Trong phạm vi bài viết ngắn này, tôi xin chỉ nói về số phận của ngôi đình. Vâng! Số phận nó được quyết định ngay lập tức. Sau năm 1954, tức là sau ngày lập lại hoà bình ở miền Bắc được ít lâu, các vị chức sắc mới của làng tôi lãnh đạo nhân dân địa phương đã làm lên một sự kiện lịch sử mới của làng. Họ ra lệnh phá bỏ ngôi đình làng (với lý do là xoá bỏ các dấu vết, tàn tích của chế độ phong kiến) và xây lên trên nền móng cũ của nó một công trình mới được gọi là trụ sở ủy ban hành chính xã (sau này sửa đổi thành uỷ ban nhân dân), tức là nơi làm việc, là bề mặt của chế độ mới. Từ thời điểm ấy, thay vì đến đình làng, hàng ngày các vị lãnh đạo làng tôi rủ nhau đến trụ sở của làng để họp hành và giải quyết các loại công việc. Cũng như thế, thay vì sân đình, vào những tối có trăng, đám thanh niên trai gái làng tôi lại rủ nhau ra sân trụ sở chơi… Cứ như thế, dần dần rồi khái niệm về một ngôi đình rồi cũng đi vào ký ức, đám con cháu chúng tôi, chẳng đứa nào tưởng tượng được rằng ngày xưa ở làng chúng nó đã từng có một mái đình, và nếu có thì cũng chẳng đứa nào tưởng tượng được cái mái đình ấy như thế nào.

Như ở các làng khác, ban lãnh đạo của làng tôi nhiều thời kỳ cũng chia bè kéo cánh đãu đá nhau sứt đầu mẻ trán. Làng tôi có mấy họ lớn. Tôi để ý thấy rằng, khi chính quyền về tay một họ nào đãy thì y như rằng cái trụ sở của làng có sự thay đổi. Các vị lãnh đạo mới lên không muốn nhìn mặt mấy ông lãnh đạo cũ, chuyện ấy đã đành, nhưng họ còn không muốn nhìn thấy cả những di sản mà mấy vị kia để lại luôn. Vậy nên, cái trụ sở luôn luôn được làm mới. Nếu khả năng tài chính của làng không cho phép, thì ít ra nó cũng được thay mấy bộ cánh cửa và quét một nước vôi, đắp một bức phù điêu mới. Còn khi tiền bạc của bà con rủng rỉnh thì người ta chẳng ngại gì mà không phá bỏ cái cũ để làm cái mới đàng hoàng hơn, to đẹp hơn.

Đứng trước mặt cắt thể hiện năm tầng văn hoá rõ ràng nơi Hoàng Thành Thăng Long, tôi lại nhớ về ngôi làng nhỏ bé của mình ở châu thổ Sông Hồng. Nếu trong số con cháu của chúng tôi có đứa nào học ngành khảo cổ, nếu một ngày nào đó, một ông lãnh đạo mới nào đó lên lãnh đạo nhân dân làng tôi lại nổi hứng lên bảo phá cái trụ sở cũ đi để xây dựng một trụ sở mới thì tôi chắc chắc rằng dưới con mắt chuyên môn, các cháu tôi cũng sẽ thấy một mặt cắt rất phong phú. Và, nếu lúc ấy, tôi có vì tò mò mà đến xem, mấy đứa con, đứa cháu ấy sẽ chỉ vào từng lớp phế tích mà giảng giải cho tôi rằng: Thưa bác (hoặc ông, cụ…), lớp vật liệu đặc trưng này chỉ có ở thời cụ Lê Đức…, mấy cái mảnh chĩnh này chỉ có ở đời cụ Nguyễn Cảnh…, loại hoa văn này chỉ có ở đời cụ Phạm Đình…

Ngày còn ở làng, nhìn cảnh người ta cứ phá đi rồi xây lại mãi một ngôi trụ sở, tôi đã nghĩ, chắc là chỉ mấy ông cán bộ xóm mới có thói quen muốn làm cái mới thì phải phá cái cũ như thế này. Tôi cũng đã trót phán xét rằng những hành động phá đi làm lại ấy là thiếu văn hoá, là không theo một truyền thống nào cả. Nay, đứng trước mặt cắt với những tầng văn hoá nơi Hoàng Thành, tôi mới thấy những ấn tượng rất không thiện chí ấy của mình là hồ đồ, thiếu căn cứ. Thì đãy, cứ nhìn mặt cắt mà xem đủ thấy cha ông ta ngày xưa cũng mạnh tay phá cái cũ làm cái mới lắm đãy chứ. Và truyền thống, nếu tôi không nhầm thì phải chăng chẳng từ đãy mà ra.

© 2004 talawas

 
© talawas 2026