trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
29.3.2008
Stephen E. Flynn
Sức bật của Mĩ trong việc chống khủng bố và khắc phục thiên tai
 
Tóm tắt: Bầu không khí sợ hãi và cảm thức bất lực, do những đe dọa của nạn khủng bố và thiên tai tạo ra, đang làm băng hoại những lí tưởng cao cả của người Mĩ, đồng thời tiếp sức cho chính sách mị dân. Xây dựng lại sức bật của xã hội Mĩ là đường lối đúng đắn để đảo ngược tình thế và đáp ứng những thách thức hiện nay.

Nếu muốn chế ngự những hiểm họa của thế kỷ 21 mà gạt bỏ quần chúng sang một bên, đó là một hành vi liều lĩnh. Trong thời Chiến tranh lạnh, mối đe dọa của vũ khí nguyên tử đã cho phép đặt sinh mệnh của hàng triệu người trong tay một thiểu số vài người. Nhưng việc đối phó những thách thức ngày nay, những đe dọa do khủng bố và thiên tai đặt ra, đòi hỏi sự tham gia rộng rãi của xã hội dân sự (civil society). Chiến địa mà bọn khủng bố lựa chọn thường được dân chúng cư ngụ, chứ không có quân đội trấn đóng. Vấn đề nghiêm trọng đặt ra ở đây không phải chỉ là sự tổn thất sinh mạng của người dân vô tội, mà còn là bầu khí sợ hãi và cảm thức bất lực khi gặp phải tai họa — những điều này đang hủy hoại niềm tin đặt vào những lí tưởng cao cả của Mĩ và đang nuôi dưỡng chính sách mị dân. Việc duy trì vai trò lãnh đạo và sức cạnh tranh kinh tế toàn cầu của Hoa Kỳ nhiên hậu sẽ tùy thuộc vào khả năng tăng cường sức bật của xã hội nước này. Cứ như có định kỳ, nhiều việc sẽ diễn ra cực kỳ tồi tệ. Nước Mĩ phải được chuẩn bị để sẵn sàng giảm thiểu hậu quả nghiêm trọng của những biến cố này và hồi phục nhanh chóng.

Lịch sử chứng minh rằng một trong những ưu điểm lớn của Mĩ là sức bật để vươn dậy từ những thời kỳ khó khăn. Chính đức tính này đã giúp nhân dân Mĩ thuần hóa một châu lục hoang sơ và cho phép quốc gia họ đối phó những thử thách phi thường, những thử thách từng đe dọa cuộc thí nghiệm hình thành nước Mĩ. Từ khi thiết lập các vùng định cư đầu tiên ở Virginia và Massachussetts đến giai đoạn bành trướng về miền viễn tây, người Mĩ đã tự nguyện phiêu lưu vào vùng đất hoang vu để xây dựng cuộc sống tốt đẹp hơn. Trong các cuộc chiến đấu đầy tính anh hùng ca như Cách mạng giành độc lập, Nội chiến Bắc-Nam, và hai cuộc thế chiến; trong các cuộc suy trầm kinh tế thỉnh thoảng lại xảy ra và cuộc Đại khủng hoảng những năm 1930; trong những tai ương xảy ra định kỳ như động đất, dịch bệnh, bão lụt; người Mĩ luôn luôn lấy sức từ nghịch cảnh mà vươn lên. Thế hệ trước đã truyền lại thế hệ sau đức tính lạc quan và niềm tin tưởng vào tương lai.

Nhưng lượng dự trữ của đức tính tự túc tự cường này đang bị cạn kiệt. Hoa Kỳ đang trở thành một quốc gia “dễ vỡ” (a brittle nation). Vì càng ngày càng được đô thị hoá hoặc sống sát nách đô thị, người Mĩ lao đầu vào lối sống muốn-chi-có-nấy, tự ràng buộc đời mình vào các máy ATM và những cửa hàng mở suốt 24 tiếng đồ, những phương tiện cung cấp tức thì tiền mặt, thức ăn và xăng nhớt. Một khi nguồn điện lực bị cắt và những tiện ích hiện đại này ngưng hoạt động, người Mĩ tức khắc cảm thấy mình bất lực. Mặt khác, qua hai thập niên chống thuế, người Mĩ cũng lấy mất từ tay nhân viên chính phủ các phương tiện cần thiết để cứu hộ nạn nhân trong tình trạng khẩn trương. Hầu hết các ban ngành y tế cộng đồng và chuyên trách đối phó tình trạng khẩn trương ở cấp thành phố và tiểu bang hiện nay thậm chí không đủ ngân sách để thi hành những công tác thông thường. Chỉ cần một đại dịch cúm hay một thiên tai lớn cũng đủ áp đảo toàn bộ các ban ngành này. Một báo cáo về khả năng phòng chống đại họa do Bộ Nội an Mỹ công bố tháng Sáu năm 2006 cho biết chỉ có 25% các phương án khẩn trương cấp tiểu bang và 10% phương án cấp đô thị có khả năng đối phó một thiên tai hay một cuộc tấn công khủng bố; đa phần các phương án hiện hữu bị coi là “thiếu sót, khó thực hiện hoặc không thể chấp nhận trong việc chế ngự các thảm họa.” Trong khi khả năng phòng chống của cộng đồng và của cá nhân đang xuống cấp, thì 90% dân số Mĩ hiện đang sống ở những địa điểm có mối nguy ở mức trung bình hay khá cao là phải chịu đựng những cơn lốc tai hại, những trận động đất, bão lụt, núi lửa phún xuất, hay hỏa hoạn lan nhanh. Sự thay đổi khắc nghiệt của khí hậu trái đất sẽ gia tăng tần số của các thiên tai loại này.

Cơ sở hạ tầng già nua của Mĩ cũng tăng thêm mối nguy bị hủy hoại hay bị gián đoạn. Một trong những lý do biện minh việc xây dựng hệ thống xa lộ liên bang là để sơ tán các đô thị lớn trong trường hợp cuộc Chiến tranh lạnh chuyển qua chiến tranh nóng. Trong năm 2006, là năm hệ thống xa lộ này đầy 50 tuổi, người Mĩ đã mất tổng cộng 3 tỉ rưỡi giờ vì bị kẹt xe. Những bộ ngành công chánh [chỉ đủ ngân sách] xây những đoạn vá tạm thời cho nhiều con đê, khiến những người sống ở bờ thấp chỉ cần một trận mưa to gió lớn là thấy nước tràn vào phòng khách. Nhiều cầu cống hiện được trang bị bằng những phương tiện công chánh rất thô sơ. Như những kẻ sống trong một cơ ngơi đồ sộ nhưng cũ kĩ mà không chịu khó bảo trì, người Mĩ đã và đang sao nhãng việc xây dựng một cơ sở hạ tầng có khả năng hỗ trợ một xã hội hiện đại. Năm 2005, sau khi duyệt xét hằng trăm bản nghiên cứu, báo cáo và một cuộc thăm dò ý kiến của hơn 2000 kỹ sư, Hội Kỹ sư Công chánh Mĩ công bố một bản điểm gay gắt về tình trạng của 15 loại cơ sở hạ tầng: trong đó, mạng lưới điện lực quốc gia, đê điều, các khóa kênh đào, và 7 khu vực hạ tầng khác chỉ nhận được điểm D; cầu được điểm cao nhất, là điểm C+, và ngay cả trong trường hợp này, 160.570 trong tổng số 590.750 cây cầu bị đánh giá là bất cập về cơ cấu và lỗi thời về chức năng. [Thang điểm của Mĩ đi từ A xuống F — Dịch giả.]

Nước Mĩ có thể đảo ngược tình trạng xuống dốc trong việc đề phòng tai họa và giữ được tính vẹn toàn của cơ cấu hạ tầng, bằng cách gia tăng việc đầu tư và sử dụng một tầng lớp lãnh đạo hữu hiệu hơn. Điều đáng buồn là, Washington đã đưa quốc gia này đi theo một đường hướng ngược lại. Kể từ ngày 11 tháng Chín năm 2001 đến nay, Nhà Trắng vẫn chưa vận dụng được những di sản tinh thần của Mĩ như tính can trường, tinh thần tự nguyện và óc sáng tạo khi đương đầu với nghịch cảnh. Thay vào đó, chính quyền Bush đã đưa ra một thông điệp rất lúng túng, một mặt rêu rao nạn khủng bố là nguy cơ trước mắt, nhưng mặt khác lại bảo dân chúng Mĩ cứ tiếp tục sinh hoạt bình thường. Không như trong Thế chiến thứ hai, là lúc toàn dân được huy động, phần đông giới chức của Washington ngày nay đã coi dân chúng như những mục tiêu thụ động hay có tiềm năng là nạn nhân của bọn khủng bố và thiên tai.

Việc chính quyền không đếm xỉa đến sự tham gia của quần chúng bắt nguồn từ văn hóa bảo mật và chủ nghĩa “phụ mẫu chi dân” (paternalism), một loại văn hóa hiện đang bao trùm các giới chức quốc phòng và cảnh sát liên bang. Sau nhiều thập niên chống tình báo Xô-viết, giới chức an ninh liên bang có bản năng chống lại việc tiết lộ thông tin vì họ sợ những thông tin này lọt vào tay địch. Họ cho rằng nếu đem những nhược điểm của quốc gia và cách đối phó trong tình trạng khẩn trương ra thảo luận một cách thẳng thắn, điều này có thể làm cho dân chúng hoảng loạn.

Nhưng luận cứ này chỉ biểu hiện một não trạng điên rồ. Tuyệt đại đa số dân Mĩ hiện đang sống ở những vùng mà thiên tai chắc chắn sẽ xảy ra, vấn đề là không biết nó xảy ra khi nào đó thôi. Ngoài ra, những mục tiêu chọn lọc của bọn khủng bố là dân thường và cơ sở hạ tầng. Đây là những nguy cơ mà chỉ một quần chúng được thông tin đầy đủ, được động viên và có tinh thần cao, mới có thể khắc phục được. Nhưng chính người dân thường đứng ở tuyến đầu trong công tác phòng-chống.

Bài học bị bỏ quên

Nhìn lại quá khứ, điều đáng lưu ý là, chính quyền Mĩ đã sử dựng biến cố 11 tháng Chín 2001 để đề cao vai trò của giới quân nhân chuyên nghiệp, nhân viên tình báo và công an liên bang, nhưng lại bỏ qua việc huy động dân chúng vào các công tác yểm trợ nhằm bảo vệ quốc gia. Điều đáng tiếc là, lối lí giải thịnh hành về ngày lịch sử này gần như hoàn toàn tập trung vào ba chiếc máy bay đã húc vào Tháp đôi, trụ sở của Trung tâm Mậu dịch Thế giới, và Đài Năm góc. Từ những mũi tấn kích này của bọn khủng bố, tổng thống George W. Bush đã đi đến kết luận chính phủ Mĩ cần phải kiên quyết tiêu diệt kẻ thù trước khi chúng có cơ hội sát hại dân lành thêm lần nữa.

Nhưng chính tình tiết của chuyến bay United Airline 93, chiếc máy bay thứ tư bị chặn đứng và lao đầu xuống một cánh đồng ở bang Pennsylvania, lẽ ra phải là đề tài nổi bật của vụ 9/11. Hành khách trên chuyến bay đó đã phá vỡ ý đồ của al Qaeda mà không cần đến sự yểm trợ nào từ chính phủ Mĩ, và họ đã hành động bất chấp cả sự thụ động của chính phủ này. Không có một viên chức cảnh sát liên bang nào trên chiếc máy bay vào thời điểm đó. Bộ Chỉ huy Phòng không Bắc Mĩ (the North American Aerospace Defense Command) không thể gửi chiến đấu cơ lên can thiệp kịp thời; thậm chí cơ quan này cũng không biết chiếc máy bay đã bị không tặc. Tuy thế, chiếc United 93 đã bị chặn đứng ở một vị trí cách mục tiêu của nó 225 cây số — mục tiêu đó có thể là trụ sở của Quốc hội Mĩ hay Toà nhà trắng — nhờ hành động của những hành khách dám xông vào buồng máy. Trong tất cả hành khách trên bốn chiếc máy bay của vụ 9/11, chỉ có hành khách của chiếc United 93 biết được ý đồ của bọn không tặc. Máy bay của họ cất cánh sau cùng. Sau khi kiểm soát chiếc máy bay này, bọn khủng bố đã không ngăn cản được một số hành khách gọi điện thoại khẩn báo cho gia đình và bạn bè, những người thân này lại cho họ biết những gì đã xảy ra trước đó cho hành khách trên ba chiếc máy bay kia — những nạn nhân có lẽ chỉ biết rõ ý đồ của quân khủng bố vài giây trước khi chết. Lẽ ra, người Mĩ vừa phải vui mừng vừa phải trăn trở về thực tế mỉa mai này: những trung tâm quyền lực của ngành lập pháp và hành pháp, mà nghĩa vụ hiến định của họ là “bảo vệ công chúng”, chính họ hôm đó đã được bảo vệ bởi một thực thể duy nhất: đó là, những công dân sáng suốt và anh hùng.

Câu chuyện của chuyến bay United 93 nêu lên một câu hỏi nghiêm trọng mà Ủy ban 9/11 đã không xét đến. Đó là, liệu hành khách trên ba chiếc máy bay kia có phản ứng tương tự như hành khách chiếc United 93 hay không, nếu họ biết rõ ý đồ của bọn khủng bố [là dùng chính chiếc máy bay làm vũ khí hủy diệt hàng loạt]? Theo những văn kiện do Ủy ban 9/11 công bố, trong những năm trước vụ tấn công ở New York và Washington, một số quan chức trong chính phủ Mĩ đã thu thập nhiều thông tin cho biết bọn khủng bố có ý đồ dùng máy bay hàng không dân dụng để làm vũ khí. Nhưng vì coi những thông tin này thuộc loại nhạy cảm, chính phủ Mĩ không bao giờ chia sẻ với đại chúng. Câu hỏi đặt ra ở đây là: Việc gì đã xảy ra nếu thông tin này được công bố rộng rãi? Hành khách trên ba chiếc máy bay cất cánh trước chắc sẽ có phản ứng như thế nào?

Vị tổng thống kế tiếp của Mĩ cần nắm vững bài học United 93 và cân nhắc những câu hỏi nêu trên, nhằm đánh thức tinh thần cộng đồng và tinh thần tự nguyện của dân chúng, những nghĩa cử đã diễn ra đều khắp trên cả nước trong những tháng tiếp theo sau vụ 9/11, mà mọi người đều thấy. Lịch sử đã chứng minh, người dân Mĩ sẵn sàng đáp lại lời kêu gọi phục vụ cộng đồng. Họ chỉ cần được yêu cầu mà thôi.

Lối phòng thủ hữu hiệu nhất

Điểm tập hợp phải là một lời hiệu triệu kêu gọi một sức bật to lớn hơn. Xây dựng được sức bật này cho xã hội Mĩ sẽ tăng cường an ninh quốc gia, bằng cách tước đoạt tổ chức al Qaeda và các nhóm khủng bố khác thứ lợi nhuận mà chúng hi vọng gặt hái được xuyên qua việc hù dọa thực hiện những cuộc tấn công khủng khiếp. Lợi nhuận đó chính là sự sợ hãi của dân Mĩ – the fear dividend. Xét về phương diện quân sự, Hoa kì là một lãnh thổ quá rộng lớn trong khi khả năng tấn công của al Quaeda vào nội địa Mĩ quá giới hạn, bọn khủng bố như chúng không thể gây thiệt hại trên diện rộng cả nước. Hi vọng lớn nhất của chúng là gieo được sự sợ hãi vào xã hội Mĩ, khiến Washington phải phản ứng quá đà và lao đầu vào những đường lối vừa tốn kém vừa có tính tự hủy.

Nỗi sợ hãi phát sinh từ ý thức về một mối nguy chực chờ và từ cảm thức thấy mình bất lực, không thể đương đầu với mối đe dọa đó. Tuy nhiên, dù không thể triệt tiêu hết mọi mối đe dọa đã tạo ra sự sợ hãi ấy, người Mĩ thừa sức chế ngự nỗi sợ hãi và kiểm soát phản ứng của mình. Thế nhưng, suốt hơn sáu năm qua, Washington liên tục rung chuông báo động về những tổ chức khủng bố [dọa mang đến] ngày tận thế, nhưng lại không đưa ra hướng dẫn có ý nghĩa nào cho dân chúng về phương thức đối phó những đe dọa do bọn khủng bố đặt ra, hoặc làm thế nào để khắc phục hậu quả khi một cuộc tấn công thật sự xảy đến. Chính sự kết hợp độc hại của nỗi sợ hãi và cảm thức vô vọng này đang đe dọa nền an ninh quốc gia, vì nó chỉ gia tăng sự rủi ro là chính phủ Mĩ lại sẽ phản ứng quá đà với một cuộc tấn công khủng bố khác.

Thay vì như vậy, điều Washington phải làm là trang bị cho nhân dân Mĩ một lòng tự tin to lớn hơn nữa. Đó là tin vào khả năng chuẩn bị đối phó, khắc phục hậu quả của những cuộc tấn công khủng bố và mọi thứ thiên tai. Một khi tin tưởng vào sức bật của mình, người dân Mĩ sẽ hết sợ hãi và do đó làm cho bọn khủng bố mất đi động lực khiến chúng phải hi sinh tiền của và liều lĩnh đánh vào nội địa Mĩ.

Hoa Kì cần đến đức tính ngoan cường mà người dân Anh đã chứng tỏ trong Thế chiến II khi bom V-1 trút xuống Luân-đôn như những cơn mưa. Lúc đó, nhân viên tình nguyện ra sức dập tắt các đám cháy, cứu hộ những người bị thương đang bị kẹt dưới những đống đổ nát, và sau đó tiếp tục sống cuộc đời riêng cho đến khi nghe lại tiếng còi báo động có máy bay địch đến dội bom. Hơn nửa thế kỷ sau, Vương quốc Anh lại chứng tỏ sức bật của mình thêm lần nữa, sau vụ quân khủng bố dùng bom tự sát đánh vào Đường tàu điện ngầm Luân đôn (London Underground) với ý đồ làm tê liệt hệ thống vận chuyển công cộng của thành phố này. Mục tiêu này đã thất bại khi hành khách vẫn cương quyết xuất hiện để bước lên tàu vào sáng hôm sau.

Sức bật đó là kết quả của việc kiên quyết theo đuổi bốn yếu tố sau đây. Yếu tố thứ nhất là sự bền vững, tức khả năng liên tục vận hành hay đứng vững trong một thảm họa. Trong một số trường hợp, điều này có nghĩa là phải thiết kế những cấu trúc hay hệ thống (như cao ốc và cầu cống) đủ kiên cố để chịu được một sức công phá có thể dự kiến. Trong những trường hợp khác (như khi triển khai các mạng lưới vận chuyển, năng lượng và truyền thông), tính bền vững đòi hỏi phải thiết kế những hệ thống có thể thay thế được hay những hệ thống dư dôi (redundant) có thể đưa vào “chịu trận” khi một bộ phận trọng yếu nào đó bị hỏng hay ngưng vận hành. Tính bền vững đòi hỏi phải đầu tư vào và bảo quản tốt những cơ sở hạ tầng trọng yếu, như đê điều và đập nước, để chúng đủ khả năng chịu đựng những biến cố dù ít xảy ra nhưng có thể gây hậu quả nghiêm trọng.

Yếu tố thứ hai của sức bật là khả năng xoay xở, điều này có nghĩa là khôn khéo chế ngự một tai họa khi nó xảy ra. Biết xoay xở cũng có nghĩa là tìm ra được nhiều lựa chọn, biết xếp theo ưu tiên việc gì cần phải làm trước để chế ngự và giảm thiểu thiệt hại, và biết truyền đạt các quyết định đến những người có trách nhiệm thực hiện chúng. Khả năng xoay xở chủ yếu tùy thuộc vào nhân sự, chứ không tùy vào kỹ thuật. Đảm bảo khả năng ứng phó, xoay xở của xã hội Mĩ có nghĩa là phải cung cấp đầy đủ phương tiện cho các tổ chức sau đây: Vệ binh Quốc gia, Hội Chữ thập đỏ, các viên chức y tế, lính chữa cháy, nhân viên phòng cấp cứu, và những người làm kế hoạch và đối phó với tình trạng khẩn trương khác.

Yếu tố thứ ba của sức bật là khả năng phục hồi nhanh chóng, tức là khả năng đưa mọi sinh hoạt trở lại bình thường, càng nhanh càng tốt, sau một tai họa. Chủ yếu phải có: những kế hoạch được soạn thảo kĩ càng nhằm đối phó với biến cố bất ngờ, những thao tác khẩn cấp hữu hiệu, và những phương tiện để bố trí nhân viên đúng chỗ và tài nguyên thích hợp. Một số cộng đồng nhỏ, chẳng hạn như Eden Prairie thuộc bang Minnesota, đang tự tổ chức để mọi người có thể đóng góp sức mình ngay tức khắc trong trường hợp khẩn trương. Công dân được huấn luyện để làm những người phụ tá cho nhân viên phòng chống ở tuyến đầu. Các công ti trong địa phương có nhiệm vụ cung cấp tài nguyên và kinh nghiệm chuyên môn nhằm triệt để giảm thiểu những hậu quả kinh tế của bất cứ một tai họa nào. Trong số các thành phố lớn, Seattle đã bố trí được một mạng lưới khẩn trương cho các doanh nghiệp, một hệ thống thông tin nối liền chính quyền thành phố với các cơ sở kinh doanh. Mạng lưới này được thiết kế nhằm hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp địa phương trong công tác chuẩn bị trước khi tai họa xảy ra và giúp loan tải thông tin nhanh chóng và chính xác khi tai họa xảy đến.

Sau cùng, có sức bật có nghĩa là có phương tiện hấp thụ những bài học mới, những gì mà con người có thể rút tỉa từ một tai họa. Nếu một xã hội hấp tấp trở lại sinh hoạt bình thường ngay khi bụi bặm của một thiên tai vừa lắng xuống, đó là một điều thiếu khôn ngoan. Thiếu khôn ngoan, chẳng hạn, nếu người ta vẫn cứ xây dựng lại nhà cửa trên những bình nguyên thường ngập lụt hoặc nếu người ta không chịu giải quyết những vấn nạn truyền thông đã gây ra rối loạn trong việc điều hợp và chia sẻ thông tin giữa các nhân viên làm công tác phòng chống ở tuyến đầu. Người dân phải sẵn sàng chấp nhận những thay đổi có tính thực dụng, chẳng hạn chịu di dời đi nơi khác sau khi nhà cửa bị tàn phá nhiều lần hay chịu đóng góp để chi trả mạng lưới truyền thông và các phương tiện khác, những khí cụ mà cộng đồng cần đến để gia tăng tính bền vững, khả năng ứng biến và khả năng hồi phục trước khi một cuộc khủng hoảng khác xảy ra.

Công tác tăng cường bốn yếu tố tạo nên sức bật xã hội là một tiến trình cởi mở và cần sự tham dự của nhiều thành phần hơn một nỗ lực chỉ tập trung vào các vấn đề an ninh. Bởi vì công tác này vận dụng được những lợi thế lớn nhất của Mĩ: đó là, xã hội dân sự và khu vực tư. Hơn nữa, trong khi việc tăng cường bộ máy an ninh thường là một nỗ lực rất tốn kém, thì chủ trương nâng cao sức bật của xã hội sẽ đem lại những lợi lộc rất tích cực trên một số vốn đầu tư tương đối nhỏ bé hơn. Như bản tường trình tháng Sáu năm 2007 của Ủy ban Nghiên cứu Tính Cạnh tranh, một tổ chức có trụ sở ở Washington với “tiêu chí đảm bảo sự phồn vinh trong tương lai cho người Mĩ” đã kết luận: “Khả năng khống chế những rủi ro đang xảy ra, dự kiến những tác động qua lại giữa các loại rủi ro, và nhanh chóng phục hồi từ những thiệt hại – những yếu tố này sẽ tạo nên lợi thế quyết định sự hơn thua giữa các công ti cũng như giữa các quốc gia trong thế kỷ 21.”

Một nước Mĩ can trường mới

Việc tăng cường sức bật của nhân dân Mĩ cần đến tài lãnh đạo của một vị tổng thống. Trong những năm qua, chính quyền đã nhen nhúm nỗi sợ hãi về nạn khủng bố và cường điệu khả năng đánh bại bọn Hồi giáo cực đoan của chính phủ liên bang. Điều này đã tạo ra một tầng lớp dân chúng thụ động, khi thì lo sợ, khi thì yếm thế. Trong bài diễn văn nhậm chức, vị tổng thống kế tiếp của Mĩ cần phải kêu gọi dân chúng khôi phục lại tính kiên trì và óc lạc quan. Trong một trăm ngày đầu tiên, chính quyền mới phải làm việc với Quốc hội nhằm bố trí những chương trình giúp nhân dân xây dựng tính bền vững của cơ cấu hạ tầng, đạt được tính đa năng đa hiệu của các tổ chức xã hội, gia tăng khả năng phục hồi nhanh chóng, và duyệt xét lại những dự án và sơ đồ hiện có, dựa trên nhũng bài học rút tỉa từ các cuộc khủng hoảng. Với truyền thống tự túc và tự nguyện của người Mĩ, nỗ lực này sẽ được sự hưởng ứng mạnh mẽ của cả hai chính đảng.

Vị tân bộ trưởng nội an có nhiệm vụ thay đổi nếp văn hóa đã chi phối bộ này, đó là loại văn hóa đặt trọng tâm vào việc thi hành luật pháp mà lâu nay đã làm cho dân chúng và khu vực tư nhân có thái độ “kính nhi viễn chi”. Vị bộ trưởng này cũng phải liên hệ với các giới chức trong khu vực tư nhân và giao cho họ trách nhiệm đi tiên phong trong việc nâng cao sức bật ở các công ti và trong các cộng đồng. Thật ra, các tổng giám đốc công ti cũng không cần đôn đốc, thúc đẩy gì nhiều. Vì khuynh hướng toàn cầu hóa, tính tương lập và chính trị khu vực là những lực tác động đầy bất trắc, dân chúng và các công ti sẽ hướng đến các hãng xưởng và địa phương nào bền vững và đáng tin cậy. Xí nghiệp nào không có khả năng đương đầu với khủng hoảng sẽ bị mất giá cổ phiếu và số cổ phần trên thị trường chứng khoán. Những công ti thừa sức chế ngự rủi ro trong quá trình hoạt động, thường cũng là những công ti có khả năng giúp cộng đồng đứng dậy sau khi tai họa ập đến. Năm 2005, chẳng hạn, Wal-Mart đã có thể đưa 66% số cửa hàng của nó ở các bang trên Vịnh Mê-hi-cô trở lại hoạt động trong vòng 48 tiếng đồng hồ sau khi bão Katrina đổ bộ, cung cấp nhiều nhu yếu phẩm mà dân chúng, các giới tiểu thương và các cơ quan chính quyền cần đến để có thể tự vực dậy.

Hai đồng minh phức tạp nhưng có ảnh hưởng trong nỗ lực này có thể là giới truyền thông đại chúng và Hollywood. Ở mức độ khá rộng lớn, những hình ảnh mà người Mĩ xem trên truyền hình hay trong rạp hát thường có vấn đề. Hiếm khi giới truyền thông và điện ảnh chịu mô tả một thực tại có tính hướng thượng và ít bị cường điệu. Cuộc sơ tán vĩ đại ở khu Manhattan [New york] ngày 11 tháng Chín 2001 chứng tỏ rằng, trong các cuộc khủng hoảng xảy ra trong thực tế, đa số dân Mĩ giữ được tỉnh táo, phản ứng nhanh nhạy và giúp đỡ lẫn nhau. Trong Thế chiến II, Hollywood đã tích cực đóng vai trò phục vụ công ích, bằng cách yểm trợ các đợt bán trái phiếu quốc phòng và sản xuất các phim dùng vào việc huấn luyện, đồng thời cung ứng phương tiện giải trí rất cần trong thời chiến. Ngày nay, những nhà lãnh đạo ngành truyền thông cũng có thể làm như vậy, bằng cách nhận lãnh trách nhiệm tường thuật các biến cố và truyền đạt các thông điệp, vừa cung ứng tin tức vừa cổ võ nhằm nâng cao sức bật cá nhân và xã hội.

Rốt cuộc, công chúng Mĩ sẽ phải chủ động đối đầu với thử thách, dù ở nhà, ở trường hay ở sở làm. Theo một nghiên cứu do Bộ Nội an bảo trợ vào tháng Tám 2006, chín trong số mười người Mĩ tin rằng việc chuẩn bị đối phó những tình huống khẩn trương là việc làm quan trọng. Tuy nhiên, theo một cuộc thăm dò dư luận tổ chức trong cùng tháng đó, do báo Time đảm trách, chỉ có 16% dân Mĩ tin rằng họ đã “chuẩn bị rất đầy đủ” để đối phó với một tình trạng khẩn trương.

Điều đáng mừng là, phần lớn những việc mà một cá nhân có thể làm để chuẩn bị cho bản thân, gia đình và nhân viên của mình, đều là những việc tương đối dễ thực hiện. Các biện pháp này bao gồm những việc sau đây: sắm một bộ thiết bị khẩn trương để đủ sống qua 3 ngày, triển khai một kế hoạch liên lạc giữa các thành viên trong gia đình trong tình huống khẩn trương, và theo dõi các địa chỉ liên mạng (Web sites) của Hội Chữ thập đỏ và của các tổ chức khác, tức các Web sites đưa ra những bản liệt kê nhắc nhở các việc cần phải làm trong tình trạng khẩn trương. Những nỗ lực này vừa giúp người dân sống yên tâm, vừa có thể cứu được mạng sống khi tai họa ập đến. Đây cũng là cách biểu hiện cụ thể sự hậu thuẫn người Mĩ dành cho binh sĩ của họ hiện đang liều mình chiến đấu ở nước ngoài – những binh sĩ đang ra sức bảo vệ một đất nước, nhưng đất nước đó cho đến nay vẫn còn nguy cơ đối diện với những hậu quả nghiêm trọng khi một cuộc tấn công khủng bố xảy ra.

Hun đúc lại sức bật ngoan cường của xã hội Mĩ là một ưu tiên cần phải thực hiện nhằm đảo ngược đường lối chính trị yếu kém hiện nay và biến đổi não trạng yếm thế đang làm chao đảo các tầng lớp cử tri. Trong khi việc gia tăng biện pháp an ninh chỉ là một đáp ứng tất yếu đối với những mối âu lo của xã hội, thì sức bật của cộng đồng lại đặt cơ sở trên lòng tự tin và tinh thần lạc quan. Nó đòi hỏi phải duyệt xét lại những gì thực sự quí báu và đảm bảo tính bền vững của chúng trong cách thế cho phép người dân Mĩ sống trung thành với lí tưởng của mình, bất chấp bất cứ bão táp nào có thể xảy đến trong tương lai.

Stephen E. Flynn là hội viên thâm niên trong Chương trình Jeane J. Kirkpatrick, đặc trách nghiên cứu an ninh quốc gia, thuộc tổ chức nghiên cứu quan hệ đối ngoại Council on Foreign Relations, và là tác giả của The Edge of Disaster: Rebuilding a Resilient Nation (Random House xuất bản năm 2007). Bài tiểu luận này lấy đại ý từ cuốn sách nói trên.

Bản tiếng Việt © 2008 talawas

 
© talawas 2026