trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
8.4.2004
Laurent Colin
Sơn mài hay lối mòn
 

[1]

Hoạ phẩm của hai nghệ sĩ Việt Nam đã được trưng bày từ ngày 15 đến ngày 31.1.2004 tại một gallery thuê trên đảo Saint-Louis (Espace Saint-Louis, 51-53 rue St Louis en l’Ile, Paris 4). Phòng triển lãm này dần dà đã trở thành một thứ Quảng trường Tertre [2] nối dài và tân trang màu mè sang trọng hơn.

Của Bùi Hữu Hùng, sinh năm 1957 tại Hà Nội, người ta gặp lại những bức sơn mài quen thuộc, nghĩa là vẫn những khổ tranh quen thuộc, những cái khung mạ vàng chạm trổ quen thuộc, và những đề tài biết-rồi-khổ-lắm-nói-mãi: những người Việt Nam (nam-nữ) mặc quần áo cổ truyền, nghe đâu là áo mão vương giả (loại gấm vóc có đầy đủ hoa văn, giá ít nhất 300 000 đồng/mét), bên cạnh tất nhiên phải lỉnh kỉnh lư đồng khói hương nghi ngút. Tóm lại, đây là loại hàng từ nhiều năm nay đã bầy ra đầy dẫy tại các gallery Hà Nội. Các bạn hãy thử ra phố Tràng Tiền chẳng hạn, số 24 là Gallery Tonkin, bên kia đường là Gallery Van (số 25-27) và bên cạnh, số 27 là Gallery Opera, phòng nào cũng bày y hệt những tấm sơn mài ấy. Đảo qua khu phố cổ, thì ở Hàng Bông, Gallery Apricot bán cân loại tranh này cho du khách ; phố Tô Tịch, Gallery Dragon, mỗi bức sơn mài loại này, khách hàng chưa kịp mang ra khỏi cửa, người ta đã mang từ trong kho ra một tấm y chang để thay thế. Nếu bạn chưa chóng mặt, thì xin tiếp tục đi gặp Bùi Hữu Hùng ở Hàng Trống (Gallery Viet Art), Hàng Bài (Gallery Heritage), Hàng Gai (Gallery Green Palm). Danh sách này chắc còn thiếu, vì sức chịu đựng của tôi có hạn, không đủ can đảm kiểm kê toàn bộ. Chỉ xin nói thêm: hiện tượng này cũng xảy ra ở Thành phố Hồ Chí Minh và đang lan tràn sang Hoa Kỳ và Singapour. Thử hỏi Paris sức mấy mà tránh né được đợt sóng thương mại này? Vả lại, một phương pháp hái ra tiền trong một môi trường mà người ta còn sính loại của lạ rẻ tiền và sặc mùi thuộc địa, ai dại gì mà thay đổi? Còn bảo rằng những khuôn mặt sao đi sao lại kia chẳng còn biểu hiện được gì, rằng những đôi mắt kia đờ đẫn như mắt phỗng đá, rằng những thân thể kia đứng ngồi như trong những tấm bưu thiếp, rằng cái thứ sơn mài này chằng còn gì là truyền thống cả (trái với lời chào mời của các nhà tổ chức cuộc triển lãm), bảo rằng… thì đã sao!

Hội hoạ sơn mài Việt Nam bắt nguồn từ phương thức trang trí có truyền thống mấy thế kỉ được Trường mĩ thuật Hà Nội, dưới sự chủ động của Joseph Inguimberty vào thập niên 1930, biến hoá thành phương thức biểu hiện nghệ thuật hoàn chỉnh. Sơn mài đã thực sự trở thành nghệ thuật với những tác phẩm của Nguyễn Gia Trí, kết hợp vận động với độ sâu, hình tượng và trừu tượng. Đặc trưng của sơn mài dẫu sao vẫn là công phu lao động thể chất (nhất là khâu mài), đòi hỏi khổ công và thời gian (mỗi lớp sơn cần thời gian để khô). Vì vậy mà những tên tuổi lớn của sơn mài như Phan Kế An, Nguyễn Văn Tỵ hay Nguyễn Sĩ Ngọc hàng năm chỉ sáng tác rất ít tác phẩm, và một tác phẩm chỉ có một bản duy nhất. Khi một nghệ sĩ như Dương Bích Liên tạo ra nhiều bản (Chiều Vàng), thì mỗi bản đều có một sắc thái riêng biệt. Cho nên làm sao giải thích nổi là ngày nay những Gallery ở Hà Nội và các nước lại tràn ngập tác phẩm của Hùng nếu anh không có dưới trướng một ê kíp nghệ nhân sao đi chép lại từng ấy đề tài và tình huống? Tất nhiên, quá trình sơn mài đòi hỏi sự tham gia của nhiều người dưới sự chỉ đạo của một công trình sư. Nhưng phải phân biệt thế nào là một công trình sư sáng tạo, thế nào là một doanh nhân biết quản lí nhân công, nhưng phần sáng tạo còn tồn nghi. Những bộ tranh của Bùi Hữu Hùng hiển nhiên vắng bóng sáng tạo, đi ngược nguyên lí tác phẩm duy nhất. Lí do tồn tại của chúng cuối cùng là chức năng trang trí cho những quán ăn kiểu “Đông Dương 1930”.

Lê Vượng, sinh năm 1952 tại Sài Gòn, một thứ đàn em của Đỗ Quang Em, thì khai thác mạch hiện thực chủ nghĩa cũng đang lan tràn ở Việt Nam và chiếm lĩnh thị phần xuất khẩu (nhất là trong giới khách hàng người Hoa của các Gallery Hồng Kông), nhưng khác với tác phẩm của Bùi Hữu Hùng, tranh hiện thực của Lê Vượng “khó nuốt” hơn đối với khách hàng Pháp. Lê Vượng giỏi về tĩnh vật. Tĩnh vô cùng là tĩnh. Không một chút rung động, không một hơi thở. Người xem ngạt thở trong những hoạ tiết vật thể (điếu thuốc lào, đèn, ấm trà) ẩn mình trong một thứ ánh sáng tưởng rằng tối nhưng thực sự là chết ngủm. Các nhà tổ chức so sánh anh với George de la Tour. Hãi quá. Chỉ cần ba nét cọ đen, bốn nét cọ trắng, Bùi Xuân Phái có thể làm sống chiếc đèn dầu hay cái điếu cầy đặt trên mủng, với tất cả sự khoẻ khoắn và chân chất. Với Lê Vượng thì còn lâu.

Những nghệ sĩ như Bùi Hữu Hùng và Lê Vượng muốn mang đến cho chúng ta một nước Việt Nam nào? Tìm đâu ra đất nước Việt Nam trong những bức tranh dầy dặc những quy chiếu “đây là Việt Nam” này? Cứ bày lư hương, điếu đóm, áo dài, bàn thờ tổ tiên là thành Việt Nam sao? Ngược lại, những tác phẩm như vậy chỉ càng đẩy lùi Việt Nam ra xa.

Được đào tạo chính quy tại các trường mĩ thuật (Bùi Hữu Hùng ở Hà Nội, Lê Vượng ở Gia Định), được mệnh danh quá vội vã là “hoạ sư”, họ quả là những nghệ nhân có năng khiếu và ranh ma. Cũng nên nhắc lại là cách đây vài năm, trước khi sa đà vào buôn bán, Bùi Hữu Hùng đã có một số tác phẩm thử nghiệm đầy hứa hẹn. Quay đầu lại và từ bỏ lối làm ăn và sản xuất xưởng thủ công bây giờ có lẽ chưa muộn. Tôi không trách họ muốn kiếm tiền, mà chỉ nhấn mạnh rằng thiếu sáng tạo và chạy theo số lượng sản xuất thì chẳng chóng thì chày, nghệ thuật sẽ chết.

Một nghịch lí thú vị của hội hoạ Việt Nam là thoạt trông, nó rất dễ tiếp cận (vì những liên hệ quy chiếu của nó đối với hội hoạ Tây phương), nhưng thực ra nó đòi hỏi ta phải đi tới một cách tế vi và tiệm tiến. Loại triển lãm thương mại dăm bữa nửa tháng, treo bảng hiệu “nghệ thuật Việt Nam” để bày bán những tác phẩm không mấy liên quan tới sáng tạo nghệ thuật Việt Nam như thế này, không đóng góp được gì cho việc tiếp cận hội hoạ Việt Nam, mà ngược lại, chỉ làm tăng sự ngộ nhận.

Tháng 1.2004

© 2004 talawas


[1]Tựa đề nguyên tác của bài này, Canards Laqués (những con vịt quay, hình tượng phổ biến của những quán ăn Tàu bình dân ở Paris), có ý chơi chữ, liên hệ tính từ Laqués với danh từ Laque (Sơn mài).

[2]Place du Tertre trên đồi Montmartre (phía Bắc Paris) là nơi những người vẽ thuê bán tranh rẻ tiền cho du khách bình dân. Cách đây một thế kỉ, Montmartre là một khu nghệ sĩ, với những xưởng vẽ của cá hoạ sư Utrillo, Picasso…

 
© talawas 2026