trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
4.6.2007
Đoàn Ánh Dương
Siêu thị tư duy và những câu thơ sắp đặt
(Đọc <a href="http://www.talachu.org/tho.php?bai=156" target="_blank"><u><i>Siêu thị mặt</u></a></i> của Trần Quang Quý, Nxb Hội Nhà văn, 2006)
 

Siêu thị mặt của Trần Quang Quý là một trong ít những tập thơ gần đây tạo được ấn tượng bởi ý thức “lao động chữ”. Dễ thấy ba phương diện nổi bật của tập thơ dày dặn này (với 45 bài thơ và gần 100 trang in khổ rộng): 1. thể hiện sâu sắc và cá tính nhiều dạng vẻ đương đại; 2. thiên hướng đẩy cao tính chất duy lý trong thơ; và 3. cách thức sắp đặt ngôn ngữ, theo cách gọi ước lệ của khái niệm này, để thể hiện những nỗ lực làm mới tổ chức lời thơ và văn bản bài thơ.

1. Nếu như ở tập thơ trước, trong hình dung về Giấc mơ hình chiếc thớt, Trần Quang Quý đã kể bằng thơ về “cổ tích đồng quê” của mình, thì ở đây, miền đất ấy vẫn được nâng niu, trân trọng nhưng đã đượm buồn:



Tôi đã nghe tiếng ngáy cánh đồng gập ghềnh

lồng ngực những người đàn ông

tiếng hổn hển buổi chiều tuột bờ vai thôn nữ

hoàng hôn quờ quạng những ngón tay sần

hơi thở bời bời rơm rạ

(“Châu thổ”)

Tác giả day dứt với “đức tin” của họ hiện trên những khuôn mặt tắt ngày “cháy lên màu lúa” và đêm đêm vẫn “gồng lên trong giấc ngủ làng”. Bởi lẽ, dù sẽ có một ngày nào đó “cốm thơm lên mùa thu mới” nhưng đâu “có làm vơi cực nhọc nông dân?”.

Cánh đồng quê xưa không đủ gạo nuôi người nên “mắt quê trầm giọt đất”, “em rời làng ra phố bán hoa”. Những tưởng “em ra phố để đổi đời” nhưng “phố cũng chỉ là một cách đồng khác” và em cũng chỉ là kẻ “hồn chân chất quê” tất tưởi đem “thân ra cày phố”. Để rồi:



Tay em cứa những gai hồng nhọn sắc

đỏ đêm

nghe quặn mùa teo hạt

(“Sắc hoa”)

Cái gì làm “đỏ đêm”: máu rịn ra từ tay em những sớm tinh sương hay những dòng huyết lệ tủi hờn “nghe quặn mùa teo hạt”. Còn bám trụ lại quê thì ngay cả giấc mơ cũng có giới hạn, nỗi buồn như ôm trùm lên đời sống cơ cực của họ: Từng nghe tiếng mưu sinh ì oạp lòng máng gỗ/ đèn khuya đỏ mắt đêm/… Tuổi xuân em là nối dài những chiếc máng lợn/ chiếc máng hầu bao hy vọng/ và một ngày những giấc mơ đến thật lạ/… từ nơi đây có một người từng ôm giấc mơ bay/ không bay khỏi lõm mòn máng gỗ (“Huyền thoại bên máng lợn”). Chừng ấy đâu chỉ là “một câu chuyện kể”. Có lẽ, hoài niệm về quê hương luôn là một ẩn ức trong thơ Trần Quang Quý, như một động mạch tắm tưới hồn thơ anh. Nó làm nên một giọng thơ riêng ngân dài từ Viết tặng em trong ngôi nhà chật qua Mắt thẳm rồi lắng đọng trong Giấc mơ hình chiếc thớt. Ở đây, nhiều bài thơ vẫn tiếp nối được nguồn mạch ấy, níu giữ vẻ hài hoà và sự cân bằng cho những khát vọng khám phá những miền đất khác, đặc biệt là đời sống đô thị.

Hoà mình vào đô hội, Trần Quang Quý gặp một thế giới ma mị, nhiều hấp lực, thậm chí nhào hút và nghiến ngấu cả vẻ chân quê mà anh phụng sự, tôn thờ. Dường như tác giả muốn trưng ra một thế giới ồn ào, xô bồ, bát nháo, lấp lửng giữa chân và giả, thiện và ác, xấu và tốt đang bị đánh tráo. Người ta đang dần đánh mất mình, vô thức xoá đi khuôn mặt mình giữa muôn vàn khuôn mặt khác trong siêu thị thời kỹ trị. Vô thức tập thể, tha hoá đồng loạt, ký hiệu hoá tình cảm, đồng hoá đức tin… khiến hành trình hướng thiện nhiều khi ngơ ngác, thảng thốt và bất an:



Tất cả đã nhào tôi giữa dòng chảy tha nhân

tôi trồi lên hay chìm xuống mặt mình

tôi nhân nghĩa hay tôi hiểm ác

tôi đo bằng cách ném mặt mình vào siêu thị mặt

hy vọng mỗi ngày giá nhân nghĩa nhích lên

(“Siêu thị mặt”)

Lẽ dĩ nhiên, tập thơ có âm hưởng trầm buồn: Ngày đóng đinh lên những đôi giày/ luân lý nhẫy màu xi bóng/ những đồng bạc lẻ kia mới là bài ca thật/ cất lên từ lầm bụi bàn chân (“Giai điệu vỉa hè”). Khi lại là những phản ứng qua hình dung một “trò chơi hình khối”: thử những cách sắp đặt khác như nhặt sông Hồng đổi chỗ cho Tô Lịch để “thau rửa cặn phố”, “lộn ngược phố lên, úp nhà vào đất tìm trật tự mới”; một khát khao gặp được “gương mặt đồng cảm thời cuộc” khi chợt thấy: phố già, em thì mơn mởn nhú/ những đường cong hau háu/ mái nhấp nhô/ tung tẩy gót/ em kìa!” (“Phố cổ”)… Đó là một sự thật, một ước mong thật chỉ có thể nảy từ mầm thiện và tận cùng nỗi cô đơn thi sĩ. Nghiệm sinh và ý thức sâu sắc về thế sự trở thành một phương diện cơ bản của tập thơ.

Siêu thị mặt phần lớn là cái nhìn phân tích sắc bén, lạnh lùng để bóc trần mặt trái của đời sống hiện đại, thảng hoặc lắm mới có cái nhếch mép cười hóm hỉnh dạng như những rung cảm rất trẻ trung khi chợt thấy “ùa lên những con đường bình minh thơm rốn”:



Tôi đi ngược mùa hè căng mởn làn da

ngược rốn

áo lửng như cánh buồm kéo xô nghiêng những phố ven đường

Thanh xuân tung tẩy cười thơm dậy mùi con gái

vắt vẻo một ngày rốn lên ngôi

(“Bầy rốn”)

Sẽ là vờ vĩnh nếu cứ mãi “lọ mọ trong bóng tối của nhà tù tự kỷ” mà không tắm gội những cái nhìn mồ côi, khắc khổ trước sức sống đầy căng, tươi trẻ của những khuy áo hờ che bầy rốn “cởi trần ngôn ngữ rốn”. Trần Quang Quý đã không chỉ khuyên người ta “thôi đừng vờ lơ đãng” mà bản thân còn thật nhiệt thành: “Tạ ơn mùa hè/ ngôn ngữ nóng cảm xúc/ mùa mắt thả rông mùa đi chăn rốn/ giá của tự do phơi phới trên đường”. Ít thấy những vần thơ nóng rãy xúc cảm nhục thể, cởi mở và nhuần nhị đến vậy. Có lẽ, “bầy rốn” này đã vượt thoát sự câu thúc của đời sống kỹ trị để trở về với vẻ đẹp hồn nhiên sơ thủy của nó.

2. Cảm nhận những dạng vẻ hiện tồn của đời sống hiện đại, tập thơ hoặc ghi lại những linh cảm chợt hiện hoặc đào sâu vào những vấn đề mang tính bản thể nhưng đều được đẩy tới chiều sâu nghiệm sinh. Tất đã có những câu thơ “vụt hiện” nhưng bản thân quá trình sáng tạo tập thơ mang những dấu ấn của một nỗ lực lao động chữ cầu thị. Bởi bản chất của linh giác xét đến cùng vẫn là sự thăng hoa của kinh nghiệm sống hoà tan trong trực cảm. Không phải ngẫu nhiên mà có tới một bài thơ và 8 lần Trần Quang Quý lặp lại khái niệm tư duy; là chưa kể những từ ngữ gần gụi với khái niệm này như: các phép cộng, trừ, nhân, chia, ý tưởng, tri thức, tự giải, logic, ngụy biện, khám phá bản chất, triết lý, lý sự, lý giải… có mật độ tương đối dày dặn. Đã có những chân lý vẹn nguyên, giản dị:



Tự tay mình từng đã vốc lên

một gương mặt từ trong chậu rửa

(“Mặt”)

Tâm hồn muốn giữ chính chuyên phải tự chuyên chính nó

lý do dài của những cô đơn

(“Cái mũ”)

Sự tuyên ngôn vĩ đại nhất là im lặng

(“Không đề”)

những cái mặt đồng ca làm vỡ trận cờ

(“Cuộc cờ”)

v.v…

Cũng có lúc là những lời tự sự dài hơi hướng gợi khải minh: Tôi thổi điệu kèn chôn những tư duy rất dai manh mún/ bố cục lại không gian thay một không gian cóp nhặt tự do làng/ bởi một lẽ giản đơn, những giọt máu của tôi của bạn đã đập bằng/ tâm thức Hà Nội/ sao để sóng Hồ Tây bài mòn bờ lãng mạn/ những kỷ nguyên thực dụng và vị kỷ lên tầng? (“Trò chơi hình khối”). Để viết được những câu thơ như thế, tác giả phải là người chịu khó tích lũy vốn sống, đào sâu tư duy, nghiêm cẩn tạo tác và nhào luyện ngôn từ đặng tường giải, theo logic của ngôn ngữ thơ, “tuyên ngôn” đã được lựa chọn. Giống như phía sau của nụ hôn, là chân lý được ký thác trong hành động. Khởi thủy có thể là lời nhưng có những sự thật lại thuộc về im lặng.



Trớ trêu thay bi kịch của lời

nằm trong rung động lưỡi

(“Không đề”)

Muốn không phải dã sinh, rõ ràng trong “vòm trời chữ”, người thơ cần phải tư duy sâu, tạo cho mình một lãnh địa cấu thành từ ý thức sáng tạo những gì chưa có hay trong cách nói khác, nói mới những gì đã có. Viết về tình yêu thời kỹ trị, Trần Quang Quý hình dung:



những khoảnh khắc thành trẻ nhỏ nhấm nháp viên kẹo lời tình

những phút giây hoá vĩ nhân với một bầy ngôn ngữ có cánh

Giờ đã phế hoang chăng, trong tốc lực tình yêu thời siêu công nghệ

những cái hôn gió mỏng

những ký tự khô cằn tin nhắn?

(“Khoảnh khắc”)

Vì thế, ký ức về tình yêu xưa cũ luôn thường trực để “bùng lửa thiêng”, thứ “lửa ngực giấu đầy trong ngực” trong nỗi nhớ về “cái hôn còn khép bỏng môi đêm” (“Những ngày xưa”). Hẳn nhiên, xưa cũ sẽ mãi để lại những dấu vết không thể xoá nhoà:



Cánh rừng xoá vết chém lưỡi rìu bằng thân cây ứa nhựa

con đường xoá dấu chân bằng phế hoang cỏ

Người ta thường nô lệ ký ức

Ký ức làm sao xoá?

Anh đã từng khép lại bóng hình em

Và trái tim suốt đời đi vá sẹo

(“Vết”)

Nét độc đáo trong tư duy thơ Trần Quang Quý còn đọng lại ở những trường liên tưởng táo bạo. Tập thơ là chất chồng những ẩn dụ làm nên vẻ đẹp độc đáo và tính đa nghĩa của tác phẩm. Mặt được thay thế cho con người; răng, lưỡi tương đương với những kiểu dạng người; siêu thị mặt là cả một xã hội loài người; cuộc cờ những khuôn mặt là biểu hiện của quan hệ người… Tác giả đã thành công trong một trò tung hứng ngôn ngữ, nơi “những điều lớn lao mà không cần lý giải” còn ý nghĩa cần xác tín được nhặt lên từ “một ngày đa ngôn ngữ” với “tầng tầng ký tự” hư và thực. Nghĩa là tác giả đã thấu thị: “biển lắng thành lời/ cõi đời, nhìn con mắt mở/ cõi người, nhìn con mắt nhắm”. Để từ những mẫn cảm thời thế và hồi vọng của kinh nghiệm như những vết bầm ký ức biết “học nhìn bằng con mắt thứ ba” (“Học”).

3. Việc đổi mới tư duy thơ, đem vào thơ nhiều dấu ấn của văn xuôi, tận dụng trùng phức các ẩn dụ để phóng chiếu lên trục tuyến tính của câu thơ đem đến cho Siêu thị mặt những dấu ấn của trò chơi sắp đặt ngôn ngữ. Trước nhất là những thể nghiệm mới lạ, táo bạo của cấu trúc lời thơ; sau nữa là những hiệu ứng về nhịp điệu và phái nghĩa. Thơ Trần Quang Quý ít còn vẻ mượt mà mà thường gây cảm giác trúc trắc, khó đọc bởi tầng bậc những chuỗi biểu tượng đan kết trong tinh thần siêu nghiệm nhằm tạo dựng cấu trúc chỉnh thể toàn bài.

Để tuyên ngôn cho lập trường sáng tạo của mình, trong “Lời”, khi lập thuyết: Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác, tác giả đã tường giải dưới nhiều cấp độ: lời nói sẽ không thật khi chỉ sử dụng từ ngữ chuẩn hoá dù có “đi qua ngàn cơn bão từ vựng, trồi sụt trên núi đồi thanh âm, trên thác ghềnh cú pháp”; cũng không đúng khi chỉ nói dưới tác động của một thiết chế tư tưởng có sẵn vì sẽ bị “hành hình trong một tuyên ngôn”; rồi ước thúc truyền thống, ràng buộc đạo lý, nhân phẩm, tình yêu… đều làm lời cách xa chân lý. Bởi có một sự thật là lời nói bằng chiếc lưỡi của người khác luôn là một bí mật, và chỉ mình họ biết mà thôi. Vì thế, Trần Quang Quý thường có những khám phá thú vị khi tạo dựng câu thơ của mình:



Tâm hồn thường ngân nga trong những Thánh kinh

quen đến nỗi ngỡ không còn là nó

(“Cái mũ”)

Sau cơn bão nhân gian tôi ngồi chơi ván cờ những cái mặt

lấy cặp môi này chặn đầu lưỡi khác

lấy bộ ria mép chiếu vào mặt mỏng tang chiếc lạt

lấy lưỡng quyền đo ván trán dơ

(“Cuộc cờ”)

Hoàng hôn nhốt mắt ai vàng cốc

anh muốn vục cạn chiều

để còn một đáy em

(“Giọt chiều”)

Khát tiếng chim trong kỷ bê tông

và lại chính tiếng chim mỗi ban mai đã làm tôi bật thức

cô đơn!

(“Tiếng của loài chim”)

Tôi đo bằng cách ném mặt mình vào siêu thị mặt

hy vọng mỗi ngày giá nhân nghĩa nhích lên

(“Siêu thị mặt”)

Cơn ho Bà nội như vết tõe của bàn chân đất

trên con đường xộc xệch vết gậy xưa

(“Đồ vật”)

v.v…

Bằng ẩn dụ và so sánh, tác giả đã tạo nên những câu thơ ở dạng chỉnh thể không phân lập, nó chỉ tạo nghĩa khi được gắn kết với nhau trong chỉnh thể toàn vẹn cấu thành: những thửa ruộng níu nhau đời đời giăng mắt lưới/ buộc những phận người quặn thương vào đất/ buộc những niềm vui giản dị giản dị hay mỗi lo thất bát vào mùa; những bến sông chôn đứng con đò/ thành phố mọc từ bờ ẩn ức; Tôi đã mang cơn mơ gieo hạt/ từ chiếc thúng cảm thức đựng nỗi buồn mùa lép… Bẻ gãy những liên tưởng mòn cũ để tạo đột biến ngữ nghĩa: Dưới đáy cuống họng có mùa màng còn thức; nhìn em, đã lúc chín nhìn, đã ngày xanh nhớ; Anh vặn ga chạy tuột vào chiều cong mộng mị; Tôi lùa tay vớt cõi phù vân bên khung cửa sổ nhà nghỉ... hay tìm cách lạ hoá lối nói: không nói “tự do bay lên” mà nói “tự do không vặt cánh”; khi những chiếc răng rủ nhau về “cõi im” thì “nghe hẫng một nỗi buồn rỗng lợi”… Đó là những thể nghiệm thành công của bộ phận những câu thơ sáng tác theo khuynh hướng hiện đại và hậu hiện đại của đời sống thơ trẻ.

Tự những những câu thơ đã mang nhạc điệu riêng, cách thức tổ chức tác phẩm đem còn đến cho người đọc cảm nhận tổng phổ mang nhiều dấu ấn dàn dựng linh hoạt. Siêu thị mặt quy tụ nhiều mô hình tổ chức diễn ngôn năng sản âm điệu và ngữ nghĩa. Dựa vào quan hệ tương phản với: Răng và lưỡi, Phố cổ, Giai điệu vỉa hè, Trò chơi hình khối, Bên sông… tạo nên những trường đoạn thanh âm đan xen những thái cực đối lập; quan hệ tương hỗ với: Tiếng của loài chim, Khác biệt và không khác biệt, Sắc hoa, Hai chuyện nhỏ ghi ở New York… làm nên nhịp điệu xoắn xuýt hoà quyện hai dòng mạch đồng giọng; quan hệ trùng phức cách thức tổ chức ngữ pháp (phép lặp) với: Vết, Lập ngôn… tạo nên những khúc đoạn dồn đuổi riết róng; quan hệ tuyến tính với: Huyền thoại bên máng lợn, Châu thổ, Siêu thị mặt, Những ngày xưa, Những bản tin… làm nên sự lôi cuốn của những dòng chảy âm thanh vừa dư ba vừa mang khả năng đột khởi những cao trào; quan hệ tổng thành với: Lời, Ngày, Từ vực sâu cuống họng; Nước mắt, Trong quán nhậu ở Củ Chi… thường tạo một hợp âm hoàn chỉnh từ những tiết tấu cấu thành… Cùng với nhạc tính là những nét nghĩa phái sinh. Bởi ngôn ngữ biểu tượng vốn đã sẵn thế năng bùng phá liên tưởng lại được đẩy sâu vào một trò chơi cấu tứ tất sẽ sản sinh nhiều hướng gợi. Tượng trưng và đa nghĩa trở thành một thuộc tính của thơ khi tác giả hướng vào việc bộc lộ cái tôi vị ngã, mang chiều sâu tâm linh, những hối thúc bản năng, xúc cảm trực hiện và sự ước thúc của đời sống nghiệm sinh như một năng lực tinh thần.

Có thể nói, trên mặt bằng thi ca đương đại, Siêu thị mặt của Trần Quang Quý là một thi tập có nhiều thành công về những thể nghiệm đổi mới theo tinh thần đẩy cao tính hiện đại trong thơ. Tập thơ thể hiện một “tư duy” mới, có những “lời” mới và một khuôn “mặt” thi ca mới. Có thể còn có nhận định này kia về nồng độ của tính duy lý, sự lan man hoặc dàn trải trong lời thơ… nhưng số lượng những bài hay, câu hay là rất đáng nể, có những câu tinh tế đến giản dị. Thơ Trần Quang Quý có dáng dấp hiện đại nhưng không rơi vào “hũ nút”. Nghĩa là ít nhiều tác giả đã chạm vào tâm thức thời đại, tìm được nhịp đập chung với đời sống tinh thần con người hiện đại để phả vào hơi thơ của mình dáng dấp, nếp cảm và nếp nghĩ của họ. Và có lẽ đó là hướng đi phù hợp để đổi mới và hiện đại hoá nền thơ Việt.

Hà Nội, tháng Năm 2007

(Tham luận tại hội thảo về tập thơ Siêu thị mặt do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 29.5.2007)

© 2007 talawas

 
© talawas 2026