trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
28.4.2003
Christian Milat
Sartre và Robbe-Grillet hay những con đường viết
 

Chúng ta tiến lên như một lũ ngoại đạo hay như những tên khủng bố, chúng ta là những kẻ chịu hình phạt đời đời, nhưng ta cảm thấy “cuộc cách mạng rừng rực cháy trong tim ta”. Không phải cuộc cách mạng xã hội dấn thân theo kiểu Sartre, mà là sự thay đổi triệt để các văn bản, nó dệt nên cuộc đời ta[1].

“[…]Nghề tiểu thuyết chỉ có thể được thực thi đối với kẻ thù[…]”[2]. Nghề của Jean-Paul Sartre, đương nhiên không phải chỉ có tiểu thuyết, chỉ có thể xác nhận điều Alain Robbe-Grillet khẳng định, bởi vì nhiều bộ phận của nó sẽ không được thiết lập nếu không có vô vàn những hiềm khích gay gắt. Những mối quan hệ đầy xung đột, hơn thua giữa hai con người này cũng thuộc về logic ấy.

Trong một nửa thế kỷ khi mà các sự kiện được đưa vào, gần như hàng ngày, trong một mưu toan mà người ta biết là mưu toan của Lịch sử, khi mà các trí thức tự vấn để xác định vai trò của họ trong cái xã hội bị lung lay bởi các hệ tư tưởng mà người ta vẫn chưa đoán thấy mục đích, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi chính trị là nguyên nhân bất hoà đã mang lại cho Sartre vô số địch thủ, đặc biệt là những người cộng sản cánh hữu, và cả “những người hợp truyền thống cánh tả”[3], theo cách nói của chính Robbe-Grillet. Chính là với ông, cũng như với phần lớn những tác giả nền nếp, dù đúng hay sai, dưới cờ hiệu của Tiểu Thuyết Mới, mối tranh chấp xảy ra giữa nhà triết học và các nhà văn, những người mà, như Bernard Pingaud đã nhấn mạnh một cách chính đáng: “trong đời công (vie publique) họ chấp nhận những thái độ chính trị có khuynh hướng tiến bộ”[4]. Vậy đâu là mảnh đất mà trên đó Sartre và Robbe-Grillet đối đầu với nhau? Ðó là mảnh đất văn học. Cả hai có nhiều cơ hội đối lập một cách tuyệt đối quan niệm về công việc và vai trò của nhà văn. Tuy nhiên, phía sau cuộc luận chiến kịch liệt, nhiều điểm hội tụ có thể được xác định?

Sự bất đồng bắt đầu ngay từ định nghĩa về văn học. Trong Văn học là gì?, Sartre phân biệt thơ và văn xuôi. Ðặt “bên cạnh hội hoạ, kiến trúc và âm nhạc”[5], thơ ca “xem từ ngữ như là những đồ vật”(QL,19): “nó hoàn toàn không sử dụng chúng, […] nó phục vụ chúng”(QL,18). Trái lại, văn xuôi “thực chất là vị lợi”(QL,25), và người viết văn xuôi “có việc phải giải quyết với ý nghĩa” ((QL,17).

Bắt chước số đông các nhà văn, các nhà tiểu thuyết mới không đánh giá cao sự phân biệt do Sartre đề xuất: “[…] sự đối lập nổi tiếng giữa văn xuôi và thơ của ông chỉ có thể khiến chúng ta sửng sốt”[6], Robbe-Grillet nhận xét. Nếu cần chia việc viết ra thành hai dạng hoạt động, thì phải dựa vào sự phân biệt của Roland Barthes về écrivain (nhà văn) và écrivant (người viết). Cũng vậy, để đáp lại sự phán xét của Sartre cho rằng không thể “đọc Robbe-Grillet trong một nước kém phát triển”[7], Claude Simon[8] phỏng lại Tiểu luận phê bình bằng cách tuyên bố rằng “écrivant là người chiếm hữu ngôn ngữ của écrivain nhằm những mục đích chính trị”[9]. Tương tự như thế, người phát ngôn của các nhà tiểu thuyết mới tại cuộc hội thảo bàn tròn do Hiệp hội sinh viên cộng sản tổ chức năm 1964 về chủ đề “Văn học có thể là gì?” có sự tham gia của Sartre, Jean Ricardou nhắc lại lý thuyết của Barthes: các écrivant “xem ngôn ngữ là một phương tiện. Ðối với họ, ngôn ngữ dùng để truyền đạt một sự biểu lộ, một lời giải thích, một bài học”[10] trong khi đó, với các écrivain, “điều chủ yếu, chính là bản thân ngôn ngữ”[11]. Và Ricardou nhấn mạnh điều tách ông ra khỏi tình thế của Sartre: “[…] cái mà tôi đề nghị gọi là văn học, Sartre gọi nó là thơ- và cái mà tôi gọi là lĩnh vực của các écrivant hay thông tin, thì ông gọi là văn học[12].

Tuy nhiên, sự khác nhau về quan điểm giữa hai bên chỉ trầm trọng thêm theo những kết luận mà Sartre đã suy ra hết sức logic từ những đặc điểm phù hợp với các nhà văn xuôi, đương nhiên các tiểu thuyết gia cũng bị đồng nhất hoá với họ. Ðối với ông, kể từ thời điểm “nhà văn dấn thân biết rằng lời nói là hành động”(QL,28), vấn đề chỉ là “biết được người ta muốn viết gì: những con bướm hay là thân phận của người Do Thái. Và khi đã biết được điều đó, người ta chỉ còn phải quyết định xem sẽ viết nó như thế nào. Thường thì hai sự lựa chọn này chỉ là một, nhưng ở những tác giả giỏi, điều thứ hai không bao giờ lấn át cái thứ nhất.” (QL,31)

Sự có trước và tính hơn hẳn của cái được biểu hiện so với cái biểu hiện do Sartre đặt ra đi ngược với một nguyên tắc, và có thể là nguyên tắc chung duy nhất cho tất cả những người bảo vệ Tiểu Thuyết Mới. Cũng trong bài báo trên tờ L’Express, Simon, trong khi miêu tả những kinh nghiệm riêng của mình, đã khẳng định rằng ông ” không diễn đạt bất kỳ điều gì tồn tại trước khi viết” mà là buộc phải không ngừng tìm kiếm lối đi của mình, lưỡng lự giữa những con đường khác nhau đang mở ra, nhà văn sẽ được dẫn đến một sự bấp bênh vĩnh viễn[…]. Những ý nghĩa được rút ra từ tác phẩm của ông ta (hay, nói các khác, những quan hệ sẽ được thiết lập trong nghiên cứu này) sẽ là mờ nhạt, không rõ ràng, chập chờn, liên tục bị tranh cãi và có thể tranh cãi[…][13].

Trong những điều kiện đó, Simon đặt vấn đề: “[…] Làm thế nào hình dung […] rằng có thể rút ra những ý nghĩa vị lợi, tiêu thụ được ngay lập tức”[14]. Tương tự như vậy, luôn luôn trong diễn đàn có mặt Sartre, Ricardou tuyên bố, đối với nhà văn, “không có chủ đề nào là tiên quyết, không một trật tự nào được xác định trước cho các chủ đề: cái chết của một người hay mười nghìn người không quan trọng hơn sự vận động của một đám mây”[15]. Ricardou nói thêm rằng ” chủ đề của cuốn sách, theo một nghĩa nào đó, chính là kết cấu riêng của tác phẩm”[16]. Claude Ollier diễn đạt một ý tương tự khi ông phát hiện thấy: “truyện kể của thế kỷ XIX chỉ sao chép lại một vài sự việc có thật đã tồn tại trong thực tế ở ngoài câu chuyện. Chính khái niệm này đã biến mất khỏi truyện kể hiện đại. Ðó là câu chuyện về những sự việc không tồn tại”[17]. Trong một hội thảo được Hội nhà văn Xô Viết tổ chức năm 1963 tại Leningrad, Robbe-Grillet chấp nhận một tình thế hoàn toàn đối lập với tình thế của Sartre, người cũng tham gia vào hội thảo đó. Theo người biện hộ cho Tiểu Thuyết Mới: “Không hơn bất kỳ một nghệ sĩ nào khác, nhà văn không thể biết anh ta phục vụ cái gì. Văn học đối với anh ta không phải là một phương tiện dùng cho một mục đích nào đó”[18], [19]. Robbe-Grillet tiếp tục: “Hình thức tiểu thuyết đối với tôi hình như quan trọng hơn nhiều so với câu chuyện, vào chính thời điểm sáng tạo, tôi cảm thấy sự cần thiết của những hình thức mà tôi không biết chúng có ý nghĩa gì, còn nói chi đến việc nó có thể phục vụ cho cái gì”[20]. Và cuối cùng là quan điểm chung của các nhà tiểu thuyết mới, điều mà ông diễn đạt bằng những từ ngữ hoàn toàn trái ngược với công thức của Sartres: tiểu thuyết không phải “là một phương tiện biểu đạt”, “tin rằng nhà tiểu thuyết có “điều gì đó để nói” rồi sau đó anh ta mới tìm cách nói điều đó như thế nào, ấy là điều vô lý nhất”[21].

Như vậy nếu Sartre và Robbe-Grillet hết sức đối lập nhau trong quan niệm về chức năng văn học của nhà văn và về phương thức tạo sinh văn bản hư cấu, thì liệu sự đối lập này có giảm bớt trong những hành động, đặc biệt là qua hành động dấn thân của nhà tiểu thuyết?

“Như tất cả mọi người, nhà văn đau khổ vì tội lỗi của đồng loại”, Robbe-Grillet khẳng định, nhưng “hắn quả là bất lương khi hắn có tham vọng viết là để cứu chữa những tội lỗi đó”[22]. Ðầy ý thức và lòng trắc ẩn, hơn phần lớn những người đồng hương, nhà tiểu thuyết mới đúng là người như vậy. Cũng thế, khi nhà xuất bản Minuit, vào thời đó được đồng nhất với tiểu thuyết mới, xuất bản cuốn Vấn đềTù binh chiến tranh, hai tác phẩm của Henri Alleg tố cáo những người lính Pháp bị tra tấn ở Algérie, thì phần lớn các nhà văn trong nhóm: Duras, Sarraute, Butor, Ollier và Robbe-Grillet đã sát cánh bên Satre, cùng với 121 nhà văn, nhà giáo và nghệ sĩ, đã ký vào “Bản tuyên bố về quyền được miễn nghĩa vụ trong cuộc chiến Algérie”, danh sách những người này được in trên tờ “Thời hiện đại”[23] .

Cùng thời gian đó, Năm ngoái ở Marienbad bị cấm khi bắt đầu phát hành vì cả tác giả Alain Robbe-Grillet và người xuất bản Alain Renais đều là tội phạm chính trị. Alain Renais cũng ký tên vào bản tuyên bố của nhóm 121 người. Chính vì vậy mà, Robbe-Grillet kể lại, Sartre bị xâm chiếm bởi niềm say mê đối với những người ký tên vào bản tuyên bố, bởi vì chung quy lại, chúng tôi tự nhận thấy mình có một ý thức chính trị, mà theo ông, nó đã tạo nên những khuyết điểm trầm trọng trong những tác phẩm trước đây của chúng tôi, đặc biệt là trong những tiểu thuyết của tôi”[24]. Sau Breton và Antonioni, Sartre đã tham gia vào một buổi chiếu phim theo yêu cầu của Robbe-Grillet. “Khi đèn bật sáng trở lại trong phòng diễn”, Robbe-Grillet viết thêm, “Sartre thẳng thắn tuyên bố với tôi, với sự nhiệt tình không thể bắt chước của ông, rằng đôi khi ông dè dặt với tác phẩm của tôi, nhưng hôm nay ông cảm thấy hoàn toàn bị thuyết phục và muốn được liên kết: từ nay chúng tôi có thể trông cậy vào sự ủng hộ hết lòng của ông”[25]. Robbe-Grillet đã hy vọng có được một bài báo tán thành trên tờ Thời hiện đại, nhưng khi bài nghiên cứu được đăng, thì nó gồm mười sáu trang “hoàn toàn phủ định”[26]. Thực tế là Gérard Bonnot đã ghi lại rằng cuốn phim diễn ra trong ” một khung cảnh giả tạo [..], thoát khỏi sự gò bó của cái hàng ngày và những đòi hỏi về kinh tế”[27], nó thiếu “sự quan sát thường nhật về con người và sự vật, người ta không quan tâm hoặc gần như không quan tâm đến việc đặt cái gì vào đó “[28]……Tóm lại , đó là một tác phẩm “gần như không là gì cả theo những tiêu chí đánh giá cố định”[29], một tác phẩm “lạc hậu đúng một nửa thế kỷ”[30] và chỉ có khả năng “gây cảm hứng cho những trò diễn mới” ở “những kẻ tầm thường, ở đám bọt được ưu đãi của một làn sóng mới này, niềm kiêu hãnh về cái nền văn hoá loại hai của mình cũng ngang với sự kiêu hãnh về tài khoản ở nhà băng”[31]. Tác giả kết luận bằng cách thú nhận rằng ngay trong cuộc chiến Algérie “lúc mà người ta ném xuống sông Seine những con người mà tội ác duy nhất là có “một cái mõm bẩn thỉu”, ông cảm thấy phải biểu lộ, chẳng cần bất kỳ một lý do nào, khả năng tiếp tục bảo vệ con người, dù là vì nguyên nhân gì chăng nữa”[32].

Sự thiếu trách nhiệm của Sartre, còn được nhắc đến nhiều lần trong bài báo, đối với sự chỉ trích đặc biệt tàn tệ, nhẫn tâm này bị Robbe-Grillet gạt bỏ, thái độ của vị triết gia chiến sĩ được so sánh ngay lập tức với thái độ của một nhà văn hành động khác, André Malraux. Lúc chính phủ của tướng De Gaulle khiến những người ký tên vào bản tuyên bố phải lo lắng thì Malraux, lúc ấy là bộ trưởng bộ văn hoá, đã gửi cho Robbe-Grillet một bức thư “đảm bảo rằng bất chấp những dấu hiệu bên ngoài không thuận lợi, (Robbe-Grillet ) có thể hoàn toàn tin tưởng ở ông trong những lĩnh vực mà sự ủng hộ của ông tỏ ra đắc dụng”[33]. Một tháng sau, Trung tâm điện ảnh quốc gia từ chối giúp đỡ tài chính cho bộ phim Sự bất tử, Robbe-Grillet gọi cho Malraux và ngay lập tức ông được cấp một khoản tiền ứng trước đúng như ông mong muốn.

Cũng vậy, chính Pingaud viết rằng ” tất cả diễn ra như thế, ở Pháp, từ 1963, nhà văn tách bạch một cách dứt khoát hoạt động chính trị và hoạt động văn học thuần tuý của họ”[34], tương tự như thế, với Sartre, sự dấn thân chính trị của nhà văn với tư cách là công dân cũng không buộc nhà văn này phải dấn thân chính trị trong tác phẩm văn học của ông. Theo quan điểm của Robbe-Grillet, định kiến này xuất hiện giống như bản tuyên ngôn của một thứ chủ nghĩa giáo điều bướng bỉnh cố làm cho ông xem ” chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa hay dấn thân kiểu Sartre”[35] là hai hướng tiến triển song song, kề nhau . Ðương nhiên, khi ông viết trong Văn học là gì? rằng “chính sách của chủ nghĩa cộng sản Stalin không tương hợp với sự chính trực của nghề viết văn” (QL, 254) và rằng tác phẩm nghệ thuật không thể “tập quen với chủ nghĩa cộng sản vị lợi” (QL,261), và trong cuộc hội thảo ở Leningrad, khi khẳng định rằng “văn học luôn luôn phải giữ chức năng phê phán”[36] Sartre đã thoát khỏi ảnh hưởng của lý thuyết của Zhdanov và thoát khỏi chủ nghĩa theo đuôi của các nhà văn Xô viết, những người luôn luôn mù quáng dù trước hay sau Ðại hội XX. Theo Robbe-Grillet, lúc nào thái độ của Sartre đối với các quan niệm của chủ nghĩa cộng sản về nghệ thuật cũng thiếu sự rõ ràng và cương quyết mà ông thường bộc lộ với lý thuyết dòng tên hay với thứ ngôn ngữ quan phương: Trong cái mong muốn mãnh liệt được làm hài lòng những vị khách của chúng ta, Sartre tỏ ra […] có khả năng chứng minh, trong một bài ứng khẩu dài và rất tuyệt vời để khai vị cho một bữa ăn qua loa mà xa hoa của giới thượng lưu, trứng cá muối, rượu vodka, cá hun khói, rằng Tiểu thuyết mới và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trên thực tế cùng trở lại trên một vấn đề chung. ít ra tôi cũng theo sát những mưu mẹo quanh co trong phép biện chứng của ông ta[37].

Trong thực tế, Sartre đã tuyên bố rất rõ ràng: “Cả hai hệ thống đều có những ưu thế và những điều bất lợi[…]”[38], điều này tương đối gần gũi với những gì mà Robbe-Grillet nhớ lại và cho phép mỉa mai theo cách của một nhà tiểu thuyết mới: ” Và vậy là người ta nhớ đến câu nói của Boris Vian: “Làm sao không ngưỡng mộ một con người như thế, người có khả năng nói bất cứ điều gì và về bất cứ chủ đề nào?” . Dù sao tôi cũng đánh giá cao kỳ tích đó, nó cũng tuyệt vời như một người múa trên dây bất chấp mọi quy tắc thăng bằng.

Ngoài ra Robbe-Grillet còn thấy sự hoài nghi của ông liên quan đến tính thực tế và tính xác thực trong sự đối lập của Sartre với chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa được củng cố bởi những gì mà ông chỉ rõ trong Phê phán lý lẽ biện chứng của Sartre, giống như “nỗi mong ước khép kín thế giới trong một hệ thống mang tính tổng thể (totalisant) [hay cực quyền (totalitaire)?]”[39]. Vậy là Sartre, ngay từ 1959, đã thấy trong Butor “nhà văn vĩ đại”[40] duy nhất của tiểu thuyết mới bởi vì tác giả của Những cấp độ đáp ứng được “những đòi hỏi của tất cả mọi người”[41], liệu có phải chính ông cũng nhấn mạnh, trong một lời trách móc kỳ cục, rằng “tư tưởng “cực quyền” […] là tư tưởng kích thích thử nghiệm của chủ nghĩa quốc xã, kích thích thử nghiệm của chủ nghĩa Marx, và ngày nay là thử nghiệm của “chủ nghĩa hiện sinh”(QL,298)?

Về văn học, dường như tất cả đều đối lập giữa Sartre và Robbe-Grillet. Tuy nhiên, nếu có thể thoát ra khỏi sự kích động của những cuộc tranh luận, cố gắng để nhận thấy rằng, vượt lên trên các loại lập trường và những cuộc công kích ầm ĩ diễn ra đây đó về câu chuyện văn học là gì, vẫn tồn tại một vài điều tương hợp giữa những luận đề mà cả hai bên đều bảo vệ, đặc biệt là về những điểm liên quan đến chính khái niệm dấn thân.

Ðối với Robbe-Grillet, “dấn thân của nhà văn trong tư cách là nhà văn, đó là xem bản thân văn học như là điều quan trọng nhất trên đời, như là điều duy nhất quan trọng, nhất là, nó sẽ trở thành sự biện bạch cho riêng nó và là cứu cánh của riêng nó”[42]. Còn Sartre cho rằng: “cuốn sách không phải là, như một công cụ, một phương tiện để đạt tới một mục đích nào đó[…]. Tác phẩm nghệ thuật không có cứu cánh, nó là một cứu cánh”(QL, 54,55).

Ðối với cả hai bên, đề tài dấn thân là mục tiêu của sự phát triển có thể tạo khả năng cho một vài đối sánh. Chẳng hạn, khi Sartre khẳng định: “chẳng mấy quan trọng khi nói rằng văn học có hoặc không “dấn thân”: nó tất yếu phải như thế[…]”[43]. Có vẻ như ông đang nói lại một ý tưởng mà ông đã trình bày trong Văn học là gì?: ” Im lặng không phải là câm lặng, im lặng là từ chối nói lên, do vậy mà vẫn tiếp tục nói”(QL,30). Nói một cách khác, sự dấn thân của nhà văn ít khi là kết quả của một lựa chọn tự do, cũng như tất cả mọi người, nhà văn bị đẩy vào xã hội. Tương tự như thế Robbe-Grillet ghi nhận: “Dấn thân, đương nhiên nhà tiểu thuyết là như vậy, nhưng dù sao anh ta cũng không dấn thân nhiều hơn hay ít hơn tất cả những người khác”[44].

“Không có cuốn sách nào có thể ngăn một đứa bé khỏi chết”[45], Sartre cay đắng thú nhận. Ðáp lại, A. Robbe-Grillet thừa nhận: “Văn học không bao giờ giải quyết được các vấn đề chính trị. Nhưng”, ông nói thêm, “bằng hình thức của mình, tất cả mọi văn học đều có chức năng chính trị”[46]. Cũng như vậy, đối với nhà tiểu thuyết mới, không phải vì không viết cho những mục đích chính trị mà tác phẩm của anh ta không có hiệu quả chính trị. Trong thực tế , nhà tiểu thuyết mới không phải không tác động đến hệ tư tưởng , như Robbe-Grillet bộc lộ: “Chính những cuốn tiểu thuyết đầu tiên của chúng tôi đã dẫn đến những suy ngẫm của Foucault về con người[…]. Dường như chúng tôi đang tạo ra một nền triết học mới mà chính bản thân chúng tôi cũng không biết”[47] .

Vậy, nếu theo quan niệm của Robbe-Grillet, thực tế, “tiểu thuyết mới chỉ quan tâm đến con người và vị trí của con người trong thế giới”, thì đối với Sartre cũng vậy ” đề tài của văn học luôn luôn là con người trong thế giới”. (QL,205).

Trong Văn học là gì?, một nhát cắt gắn liền với sự khởi đầu của một thế hệ nhà văn mới “những người bắt đầu viết sau khi cuộc chiến đại bại hoặc ít lâu trước khi chiến tranh bắt đầu” (Ql, 205), thế hệ của Sartre. Thời kỳ trước đó, tiểu thuyết tắm trong một “thế giới ổn định”(Ql,224). “Nhưng chúng tôi”, Sartre viết: bị đẩy vào một hệ thống đầy biến động , chúng tôi chỉ có thể biết tới những vận động tương đối; […]những cuốn tiểu thuyết duy nhất mà chúng tôi có thể nghĩ tới chuyện viết ra là những cuốn tiểu thuyết của hoàn cảnh, không có những người kể chuyện trong cuộc lẫn những chứng nhân biết tuốt; tóm lại, chúng tôi cần phải làm sinh sôi nảy nở những cuốn tiểu thuyết được viết với một ý thức nửa sáng suốt nửa tăm tối[…], cuối cùng chúng tôi cần để lại khắp nơi những hoài nghi, những chờ đợi, những gì chưa hoàn tất và khiến độc giả phải tự mình phỏng đoán, bằng cách gợi lên ở độc giả cảm giác là cách nhìn của anh ta đối với sự kiện và nhân vật chỉ là một ý kiến giữa rất nhiều ý kiến khác, không bao giờ hướng dẫn cũng không bao giờ để anh ta đoán biết tình cảm của chúng tôi (QL,224,225).

Về phần mình, Robbe-Grillet chống lại “người kể chuyện thấu thị, có mặt khắp nơi”, kiểu người kể chuyện đó không còn vị trí trong một thế giới nơi mà “sự hiểu biết về những gì bên trong chúng ta và bao quanh chúng ta[…] đang phải trải qua những xáo trộn phi thường”[48] , nơi mà “một con người khác đang sinh thành được cấu tạo từ những mẩu di động , đơn lẻ, từ những chi tiết vỡ vụn của con người cũ và của thế giới cũ”[49]. Trong Tiểu thuyết mới, “văn bản chỉ có thể là cấu trúc động nơi đó sự bấp bênh, những mâu thuẫn, những khoảng trống va chạm, đối đầu với nhau”. Chính vì vậy, nếu một văn bản tạo sinh ý nghĩa thì đó nhất thiết phải là một “nghĩa số nhiều, xê dịch, mập mờ, biến động, thay đổi, tương phản, luôn luôn đặt lại vấn đề, luôn luôn trong quá trình quay lại chống đối chính mình”[50].

Có biết bao nhiêu chỗ trùng hợp trong quan điểm của Sartre và Robbe-Grillet. Người ta hiểu rõ điều đó ngay khi nhà tiểu thuyết mới tuyên bố: “Những kẻ thừa kế Buồn nôn chính là chúng tôi”, và khi nhìn thấy trong Roquentin một trong hai người “cha đỡ đầu”- người thứ hai là Meursault trong Người xa lạ – của Boris, nhân vật chính trong tiểu thuyết đầu tay của ông: Kẻ giết vua. Ðương nhiên, một phần tư thế kỷ sau khi xuất bản cuốn tiểu thuyết, Sartre thổ lộ: ” trước một đứa trẻ đang chết, Buồn nôn không có tí trọng lượng nào” và tốt hơn nên “đặt vấn đề theo cách triệt để nhất và dứt khoát nhất”, đó là điều ông đã cố thực hiện trong Những con đường tự do. Rút cục, sự thay đổi hoàn toàn này không thoát khỏi cặp mắt của Robbe-Grillet , ông không bỏ lỡ dịp nêu lên sự biến đổi đáng ngạc nhiên ở Sartre từ Buồn nôn đến Tuổi bắt đầu có lý trí. Sự tự do chớm nở, khó nắm bắt làm run rẩy cơ thể và rung chuyển tinh thần của Roquentin, ở thì quá khứ phức cũng như thì hiện tại, đột ngột ngay từ những trang đầu tiên của những thứ mạo xưng là Những con đường tự do, nó bất động dưới hình thức một quá khứ lịch sử chụp lên nhân vật (và lên nhà văn?) như một lớp vỏ bọc bằng chì[51].

Dù sao, nhìn chung lại, sự tương đồng chiếm ưu thế giữa hai hệ phương pháp vẫn đáng được lưu ý. Tuy nhiên, có thể nhận biết sự tương đồng ấy vì cần đến vai trò mà con người gán cho văn học. Chúng ta sẽ xem xét lại quan niệm chủ toàn. Chính là nhân danh quan niệm này mà Sartre nhận là mình thuộc vào số “những nhà văn siêu hình[…], dĩ nhiên siêu hình học không phải là một cuộc tranh luận vô bổ về những khái niệm trừu tượng vượt ra ngoài kinh nghiệm mà là một nỗ lực mãnh liệt nhằm bao quát thân phận con người trong tính tổng thể của nó” (QL, 222). Vậy là Sartre trong khi cho rằng chỉ có phân tâm học mới “cho phép tìm lại con người toàn vẹn trong kẻ trưởng thành” đã tự tránh xa tham vọng của Robbe-Grillet muốn ” diễn tả […] quan hệ của mình với thế giới[…], mối quan hệ trong đó tất cả đều có tính nước đôi”[52], bởi vì ông đã đặt cạnh nhau ” cái thế giới cùng lúc vừa coi thường vừa sản sinh ra vô thức của chúng ta” và ” cái thế giới của cuộc sống được gọi là ý thức, cái thế giới chỉ là sản phẩm nhạt nhẽo và nhờ nhờ do tất cả mọi sự kiểm duyệt của chúng ta tạo ra”[53].

Ðối với Robbe-Grillet, mục đích là “lôi ra ánh sáng”, là “chiêm ngưỡng để khám phá ra bề mặt ẩn kín trong mỗi chúng ta, để biến những gì chỉ là tha hóa thành tự do, thành một lối chơi và thành niềm vui thú”[54]. Cái chức năng giải phóng này, Sartre cũng chờ đợi ở văn học: “Mỗi một cuốn sách”, ông khẳng định “đề xuất một cuộc giải phóng cụ thể xuất phát từ một tha hoá đặc biệt”(QL,78), “nhà văn đương đại cần phải viết trên sự bất ổn của mình bằng cách cố làm sáng tỏ những bất ổn ấy”[55].

Ðối với Sartre, “chỉ có nghệ thuật vì và bởi kẻ khác”(QL,50), kẻ khác này được hưởng lợi từ chức năng thanh tẩy của văn học khi mà, trong hành động đọc, tự do của độc giả “xuất hiện[…] như một hành vi sáng tạo” (QL,65). Sartre rất nhấn mạnh vai trò của độc giả , người “cộng tác trong việc tạo sinh tác phẩm”(QL,53) và “sáng tạo ra tất cả bằng cách không ngừng vượt lên trên những gì được viết ra”(QL,52), “đối tượng của văn học không phải là một thực thể nào khác ngoài tính chủ thể của người đọc” (QL,52), “[…] Trong khi đọc và sáng tạo, độc giả biết rằng anh ta luôn luôn có thể đi xa hơn trong hành động đọc của mình, có thể sáng tạo sâu hơn.” (QL,52). Trước mặt Ricardou, Sartre trách những người ủng hộ tiểu thuyết mới đã “quên” độc giả hoặc xem độc giả như một “phương tiện” mà người ta cấp cho một hành vi “hoàn toàn thụ động”. Trong thực tế, quan điểm của Robbe-Grillet gần với quan điểm của Sartre hơn là những lời phê phán mà nhà văn này dành cho các nhà tiểu thuyết mới. Thực ra, đối với Robbe-Grillet, tác phẩm văn học “không tự tiêu thụ”. Về phần độc giả còn lâu mới thờ ơ, tác giả ngày nay tôn xưng cái nhu cầu tuyệt đối cần có một sự hợp tác, một sự hợp tác tích cực, đầy ý thức , sáng tạo. Ðiều mà anh ta đòi hỏi, không còn là tiếp nhận một thế giới đã hoàn tất, đầy đủ, khép kín trên chính bản thân nó, mà ngược lại, đến lượt mình (độcgiả) phải tham gia vào quá trình sáng tạo tác phẩm, sáng tạo thế giới, và qua đó học cách sáng tạo cả cuộc đời riêng của mình[56].

Sartre trách Robbe-Grillet tìm kiếm lớp độc giả này trong giới ‘tư sản khá giả”[57], về điều này Simon đã đáp lại ngay lập tức: Sartre tin rằng sức mua của đám đông kém dinh dưỡng đặt Những từ ngữ lên đầu danh sách những cuốn best- sellers. Trong thực tế, Sartre không phải là kẻ dễ bị lừa, ngay từ 1948 ông đã gọi công chúng mà ông khao khát là “công chúng không thể tìm thấy”(QL, 263), những người rút cuộc không ngăn được ông từ chối mọi sự nhượng bộ: “Không nên hạ mình để chiều lòng, mà ngược lại, phải gợi lên ở công chúng những nhu cầu riêng của họ và nuôi dưỡng nó dần dần cho đến khi họ thấy cần phải đọc”. Tương tự như thế, Robbe-Grillet tuyên bố: “phần thưởng lớn nhất của nhà văn là công chúng dần dần tìm đến với một tác phẩm nổi tiếng nhưng đầu tiên rất khó đọc”[58]. Dù sao thì tiểu thuyết mới được viết “với những từ, những câu của tất cả mọi người, tất cả mọi thời”[59], “gửi tới tất cả những người có thiện ý”[60].

Nếu như khởi đầu có tồn tại một “khoảng cách giữa nhà văn và công chúng”, thì theo Robbe-Grillet, đó là do nhà tiểu thuyết “luôn luôn ít nhiều đang xây dựng một thế giới của tương lai”[61]. Thực tế, với ông, một trong những vai trò của nghệ thuật “là hình dung ra một xã hội tương lai vẫn còn chưa được biết đến, đó sẽ là một xã hội vận động, một xã hội thường xuyên đặt vấn đề thảo luận về các sự việc bởi chính bản thân các sự việc đó, thường xuyên đặt vấn đề thảo luận về pháp luật”[62] , tóm lại, một xã hội mới kéo theo một “[con người mới]”[63], “con người tự do của tương lai”[64], chính là vì thực sự văn học cần phải “sáng tạo ra con người”[65]. Vậy mà trong khi đánh giá rằng văn học không “tạo ra thế giới “để xem” mà để thay đổi” (Ql235) Sartre định nghĩa thế giới tiểu thuyết giống như “phác thảo về một trật tự tương lai”(QL,162), “về một thế giới lúc nào cũng thấm đẫm tự do”(QL,70), một thế giới nơi “mỗi người tự sáng tạo ra chính mình […], bởi vì con người được tạo ra mỗi ngày.”(QL,290). Cũng như vậy, ở Robbe-Grillet, vai trò sáng tạo của nhà tiểu thuyết giải thích khoảng cách tách rời họ với độc giả: “Công chúng cũng cố gắng để hiểu nhà văn, những người mà nếu phải từ bỏ sự tăm tối, khó hiểu để chiều lòng người thì sẽ không thể diễn đạt một cách sáng rõ những tư tưởng mới bí hiểm của mình nữa”[66].

Như vậy, về mặt lý thuyết, những quan điểm riêng của Sartre và Robbe-Grillet về bản chất và vai trò của văn học đã nuôi dưỡng những cuộc bút chiến kịch liệt, những cuộc bút chiến này làm nổi bật những điểm bất đồng giữa hai nhà văn tuy nhiên cũng ghi nhận những điểm đồng nhất có thật.

Cũng có thể quan sát thấy một sự tương đồng trong cách hai người đánh giá lẫn nhau về sự sáng tạo của mỗi người . Sartre “rất quan tâm đến tác phẩm của Robbe-Grillet”[67], ông “xem Robbe-Grillet là một nhà văn xuất sắc”[68], nhưng trách là “đã bỏ qua thực tế và những vấn đề cơ bản”[69], và không “đứng bên cạnh số lượng đông đảo nhất trong số hai triệu người say mê”[70], và do vậy mà “phục vụ cho một tầng lớp đặc quyền đặc lợi và bóc lột”[71] . Robbe-Grillet cũng đưa ra một ý kiến đọ lại: “Nhìn từ quan điểm của Sartre thì tác phẩm của ông là một sự thất bại. Tuy nhiên, sự thất bại này ngày nay lại làm chúng ta quan tâm và xúc động. Vì muốn là nhà triết học cuối cùng, nhà tư tưởng cuối cùng về tính chủ toàn, nên rút cục ông sẽ là nhà tiền phong trong những cấu trúc tư tưởng mới: bấp bênh, phụ thuộc, trượt dốc” [72].

Giữa hai con người này, sự thù địch bắt đầu từ rất sớm, được khơi nguồn từ bài báo đầu tiên của Robbe-Grillet, lúc mà cuốn tiểu thuyết đầu tay đã được viết ra nhưng chưa xuất bản. Trong bài báo đó, in năm 1951 trên tờ Critique, Robbe-Grillet đã tóm tắt, một cách đặc biệt châm biếm, một tiểu thuyết của Jean Cau[73], thư ký của Sartre. Ông chế giễu bản chất “dấn thân[74]” của những nét gạch ngang mà nhân vật của tiểu thuyết, một nhà văn thiếu cảm hứng, đã vạch ra trên những cuốn vở của ông ta và đặc biệt gợi lên ở tác giả cái “ý kiến có thể tranh luận theo đó mục đích duy nhất của văn học sẽ là tái tạo cuộc đời một cách đầy đủ”.

Nếu Robbe-Grillet công kích người học trò, trước khi “đọ kiếm chống lại [chính bản thân Sartre] vào khoảng giữa những năm năm mươi, và chống lại Buồn nôn, thì đó là vì, như sau này ông thừa nhận, “để báo trước món nợ của cả hai người cũng như để xác định hướng đi riêng của mình trong công việc bằng cách thoát khỏi thế bị kèm cặp”[75]. Nói cách khác, trong khi cùng lúc biểu đạt sự tán thành một mối quan hệ, và sự ghi nhận một nỗ lực giải phóng, cuộc tấn công của Robbe-Grillet chứng minh một cách hoàn hảo cho phân tích của Bourdieu rằng: “nghệ thuật sinh ra từ nghệ thuật, nghĩa là thường xuyên nhất từ thứ nghệ thuật mà nó đối đầu”[76] .

Cũng vậy, chắc chắn là có thể thấy, trong cuộc xung đột đối lập một Sartre đã có vị trí vững vàng trong giới văn học và một Robbe-Grillet non trẻ đang lo chọn cho mình một chỗ ở đó, một ví dụ về “cuộc chiến[…] giữa những kẻ thống trị, những người có phần gắn với tính liên tục, với bản sắc, sự tái tạo, và những kẻ bị trị, những người mới vào hứng thú với những gì đứt quãng, gãy vỡ, với sự khác biệt và cách mạng”[77]. Sartre đã tung đòn để bảo vệ vị trí mà ông đã củng cố một cách đầy ý thức xung quanh nhà xuất bản của ông, Gallimard, và tờ tạp chí của ông, Thời hiện đại, cùng với những người bạn trung thành để chống lại cuộc tấn công của các nhà tiểu thuyết mới nhiêù tham vọng, tập hợp quanh một nhà xuất bản trẻ cũng đầy tham vọng, Minuit, nhà xuất bản này cũng phát hành một tờ tạp chí riêng, Critique.

Những nhân vật đàn anh nổi tiếng một khi đã chết thì chẳng ích lợi gì mà chống lại họ; tốt hơn nên đồng nhất với họ, để nếu có thể nhận về mình một phần trong số vốn họ đã góp vào thị trường văn học. Ðó là việc Robbe-Grillet đã làm năm 1985. Khi nhắc đến Sartre và Camus ông tuyên bố: “Tôi cảm nhận về họ, nói riêng, không giống như cái ông bố cần phải tiêu diệt mà giống như con người mà chính tôi đã từng là; mỗi nhà văn đều nhận thấy một mối liên hệ thân thiết với những người đi trước mà anh ta đã từng là một trong số đó[…][78]. Vấn đề là câu hỏi do chính Robbe-Grillet đặt ra năm 1963 liệu còn có điểm nào mà ông vẫn còn thấy thích đáng : “Sartre thực thi chính trị, Camus thực thi đạo đức, vậy ai sẽ làm văn học đây?”[79].

© 2003 talawas


[1]Alain Robbe-Grillet, trả lời phỏng vấn của Jean-Louis Ezine, “Chúng ta là những tên khủng bố”,
Le Nouvel Observateur, N 1715, 18-24 tháng chín 1997, tr.48
[2].Id., “Vì đâu tôi yêu Barthes”, Prétexte:Barthes, Paris, UGE. “10/18”, 1978,tr.260.
[3]Những ngày cuối cùng của Corinthe, Paris, Minuit, 1994, tr. 180
[4]Bernar Pingaud, ” Hình thức ngụ ngôn trong truyện kể Pháp từ 1945 đến nay”, Esprit, tập XXXII, số 329, tháng 7 -1964, tr.552
[5]Jean-Paul Sartre, Văn học là gì?, Paris, Gallimard, coll. “Folio-Essais”,1948.tr.17-18. Từ đây, những trích dẫn của tác phẩm này được kèm theo chỉ dẫn về số trang đặt sau ký hiệu QL (Qu’est ce-que littérature?), trong ngoặc đơn.
[6]A. Robbe-Grillet, Nhũng ngày cuối cùng của Corinthe, tr.180
[7]J-P.Sartre, trả lời phỏng vấn của Jacqueline Piatier, “Jean-Paul Sartre giải thích về Những từ”, Le Monde, 18-4-1964,tr. 13
[8]Sẽ là chua chát khi nhớ lại rằng năm 1963, Simon tham gia vào cuộc chiến tranh dân sự Tây Ban Nha làm quân của phe cộng hoà trong khi đó người ủng hộ dấn thân chính trị( Sartre) mời Olga Kosakiewicz đến gặp vợ chồng ông.
[9]Claude Simon, “Vậy Sartre viết cho ai?”, L’Express, 28-5-1964, tr.32
[10]Jean Ricardou, Văn học có thể là gì?, Paris, UGE, 1965,tr. 51
[11]Sđd, tr.52
[12]Sđd, tr. 54
[13]C. Simon, sđd, tr. 32
[14]
[15]J.Ricardou, sđd, tr. 56
[16]
[17]Claude Ollier, “Ứng tác và lý thuyết trong sáng tạo điện ảnh”, trong Nghệ thuật và khoa học: từ tính sáng tạo., Paris, UGE, bộ “10/18”, 1972, tr.169
[18]Ngoài ra Robbe-Grillet còn xác định rằng : ” thậm chí ngay trong đời sống chính trị của chúng ta, chúng ta cũng hạn chế những thắng lợi của nó”. A. Robbe-Grillet, “Tiểu thuyết mới”, bài của Pierre de Boisdeffre, Lịch sử văn học đương đại 1900-1962, Paris, Editions Universitares, 1962, tr. 82
[19]A.Robbe-Grillet, “Nhà văn không biết mình sẽ đi đến đâu, và anh ta viết là để tìm cách hiểu tại sao lại viết’, Esprit, tập XXXII, số 329, tháng 7-1864, tr.63
[20]A.Robbe-Grillet, Sđd, tr. 64
[21]“Tiểu thuyết mới”,của P. de Boisdeffre, Tài liệu đã dẫn, tr.83
[22]“Văn học bị đeo bám bởi chính trị” L’Express, 19-9 -1963, tr.33
[23]Thời hiện đại, tập XVI, số, 173-174, tháng 8-9 năm 1960, tr. 196,197.
[24]A. Robbe-Grillet: Những ngày cuối cùng của Corinthe, tr.181
[25]A. Robbe-Grillet, Sđd, tr. 182
[26]A. Robbe-Grillet ,Sđd , tr. 183
[27]Gérard Bonnot, ” Marienbad hay là phe phái của Chúa”, Thời hiện đại, số 187, tháng 12-1961, tr. 753
[28]Gérard Bonnot, Sđd, tr. 757
[29]Gérard Bonnot, Sđd, tr. 763
[30]Gérard Bonnot, Sđd, tr. 764
[31]Gérard Bonnot, Sđd, tr. 752
[32]Gérard Bonnot, Sđd, tr. 768
[33]A. Robbe-Grillet, “Angélique hay Ðiều kỳ diệu”, Paris, Minuit, tr.172
[34]B.Pingaud, tài liệu đã dẫn, tr. 552
[35]A. Robbe-Grillet, Vì một tiểu thuyết mới, Paris, Minuit, 1963, tr.8
[36]J-P.Sartre, Một bản tổng kết, một tiên triệu, Esprit, số 329, tháng 7-1964, tr.82
[37]A. Robbe-Grillet, Những ngày cuối cùng của Corinthe, tr. 187
[38]J-P.Sartre, Một bản tổng kết, một tiên triệu, tr.84
[39]A. Robbe-Grillet, Chiếc gương trở về, Paris, Minuit, 1984. tr.67
[40]J-P.Sartre, trả lời phỏng vấn của Madeleine Chapsal, Hiện thân của các nhà văn, Paris, UGE, 1973, tr.265
[41]J-P.Sartre, Sđd, tr.262
[42]A. Robbe-Grillet, Văn chương dấn thân, văn chương phản kháng, L’ Express, 20 -12-1955, tr.11

[43]J-P Sartre, Một bản tổng kết, một tiên triệu, tr.84
[44]A. Robbe-Grillet, Văn học bị đeo bám bởi chính trị , tr. 33
[45]J-P Sartre, Văn học có thể là gì, tr. 109
[46]A. Robbe-Grillet, trả lời phỏng vấn của Pierre Fisson, “Tôi , Robbe-Grillet”, Le Figaro littéraire, số 879, 23-2-1963, tr.3
[47]J. Ricardou và Francoise van Rossum-Guyon, Tiểu thuyết mới: hôm qua , hôm nay, tập 1 ” Những vấn đề chung”, tr.128
[48]Vì một tiểu thuyết mới, tr.118
[49]Nathalie Sarraute, Magzine lettéraire, số 196, tháng 6-1983, tr.17
[50]Trả lời phỏng vấn của Jean-Jacques Brochier, ” Robbe-Grillet, cái giống thật và sự thật”, Magazine littéraire , số103-104 tháng 9-1975, tr.85
[51]A.Robbe-Grillet, Chiếc gương trở về, tr.28-29
[52]A.Robbe-Grillet, Chiếc gương trở về, tr.41
[53]Algélique hay Ðiều kỳ diệu, sđd, tr.182
[54]“Câu chuyện về lũ chuột” hay là Ðạo đức những gì dẫn đến tội ác, sđd, Tạp chí Oblique, số 16-17, tháng 10-1978, t.171
[55]J-P Sartre, trả lời phỏng vấn của J. Piatier, sđd, tr.13
[56]Vì một tiểu thuyết mới, sđd, tr.134
[57]J-P Sartre, trả lời phỏng vấn của J. Piatier, sđd, tr. 13
[58]A.Robbe-Grillet, trả lời phỏng vấn của Pierre Mazars, Le Figaro littéraire, số 856, 15-9-1962, tr.1
[59]Vì một tiểu thuyết mới, sđd, tr.119
[60]Vì một tiểu thuyết mới, sđd, tr. 118
[61]Trả lời phỏng vấn của Souhayr Belhassen, “Tiểu thuyết mới và tiểu thuyết Magheb”, T/c Jeune Afrique, 20-1-1969, tr.55
[62]Trả lời phỏng vấn của Alain Poirson, “Gặp gỡ với Alain Robbe-Grillet”, Digraphe, số 20, tháng 9-1979,
[63]Vì một tiểu thuyết mới, sđd ,tr.113
[64]Algélique hay Ðiều kỳ diệu, sđd, tr.82
[65]“Văn học ngày nay-VI”, Tel Quel, số 14, hè 1963, tr.39
[66]J-P Sartre, trả lời phỏng vấn của J. Piatier, tài liệu đã dẫn, tr. 13
[67]tr ả lời phỏng vấn của M. Chapsal, tài liệu đã dẫn, tr.262
[68]trả lời phỏng vấn của J. Piatier, tàiliệu đã dẫn, tr.13
[69]
[70]
[71]
[72]A. Robbe-Grillet, Chiếc gương trở về, tr.67
[73]Mười năm sau J.Cau trả thù bằng một bài báo, cũng châm biếm như vậy, trong đó ông ta chỉ ra tính chất Balzac trong câu chuyện mà nhà tiểu thuyết mới này kể cho một nhà báo về tai nạn máy bay của mình. Xem Jean Cau, “Vụ Xcăngđan ở Hambourg”, L’Expresse, 3-8-1961,tr.26
[74]A.Robbe-Grillet, “Jean Cau, Nét Gạch ngang”, Critique, số 49, 15-6-1951,tr.559
[75]Chiếc gương trở về, sđd, tr.167
[76]Pierre Bourdieu, Những vấn đề xã hội học, Paris, Minuit, 1984, tr.218
[77]Những quy tắc của nghệ thuật. Cơ chế phát sinh và cấu trúc của trường văn học, Paris, Seuil, 1992, tr.223.
[78]A.Robbe-Grillet, ” Thế giới quá đầy, ý thức trông rỗng”, trong Albert Camus: tác phẩm đóng hay tác phẩm mở?, Paris, Gallimard, 1985, tr.215
[79]Trả lời phỏng vấn P. Fisson, tài liệu đã dẫn, tr.3

 
© talawas 2026