Thanh Thanh Hải
Sân khấu tự nhiên, perfomance được La Toàn Vinh miêu tả như một hình thái tự do, hình thái mở, có muôn hình vạn trạng và phụ thuộc vào điều kiện tâm lý, sinh lý xã hội, địa cư của từng nhân vật làm performance. Thật khó phủ nhận những nhận định này. Nhưng trong tâm sự cùng Mai Chi, anh La Toàn Vinh đã đi xa hơn: “cái nhân bản là ai cũng có khả năng làm performance cả, như vậy tại sao bạn không thử xem”. Phải chăng đây là một thách thức?
Mai Chi chưa trả lời nhưng rất nhiều bạn đọc, trong đó có cả người viết những dòng này sẽ trả lời phủ định. Người làm performance, hay nói rộng hơn người sáng tạo, cần có cái gan (gan dạ và dũng cảm) để vượt qua những hạn định thông thường nhất, để sáng tạo. Và chính vì thế mới có được các trường phái mới, các dạng thể mới trong văn học nghệ thuật mà người phê bình sẽ là người miêu tả, xếp loại và đánh giá. Đó là cái khác nhau giữa người sáng tạo và người phê bình. Chính vì thế người phê bình không phải là người khám phá ra cái mới, người đi tiên phong, người mở đường. Nhà phê bình không cần có cái gan sáng tạo.
Với các phương tiện kỹ thuật hiện đại ngày nay, làm một performance, một installation, hay bất kỳ dạng thái nghệ thuật nào khác không còn khó nữa. Đó là tính mở và đại chúng của nghệ thuật, cái mà nhiều nhà phê bình cổ hủ cho vào ngoặc kép hay theo Trần Hải Minh, đó là “mạo danh nghệ thuật”, đó là những “trò kỳ quái”. Tất nhiên, Trần Hải Minh cho rằng những trò kỳ quái này làm performance “trở thành hoen ố”. Đây là nhận định của nhà phê bình hay của người sáng tạo? Trần Hải Minh, chí ít là theo các tuyên bố của ông, là một nhà sáng tạo có “nghiệm trải nghề nghiệp” và vì vậy, theo tôi những chỉ trích của ông về perfomance của La Toàn Vinh chỉ là những ghen tị của một người không còn khả năng sáng tạo, một người đã mất đi cái gan khám phá. Một người đã kiệt sức. Tất nhiên để cho âm hưởng của bài viết dịu đi thì xin thêm rằng đây là một khiêu khích.
Nếu Trần Hải Minh suy nghĩ và nhận định với tư cách một nhà phê bình thì sự việc trở nên dễ ràng hơn, mặc dù không phải lúc nào cũng có thể tách rời nhà phê bình ra khỏi nhà sáng tạo. Ông cho rằng cuộc trình diễn của La Toàn Vinh “hoàn toàn mù mờ về ý tưởng, tuỳ tiện về hành động”, “thiếu cái ý tưởng chủ đạo của người làm performance, nhất là thiếu cái tâm thế nhân bản của người nghệ sĩ”. Có thể trả lời ông như sau:
Thứ nhất, có thể nhà phê bình không đủ trí tưởng tượng sáng tạo để phát hiện ý tưởng chủ đạo, hoặc người nghệ sĩ không buộc phải có cái ý tưởng chủ đạo nào cả. Bất kì một khán giả nào đó, dù có ý thức hay tình cờ tham gia vào cuộc trình diễn, có quyền khám phá cái ý tưởng chủ đạo của nghệ thuật. Đó chính là sự tự do thưởng thức.
Thứ nhì, một “tuỳ tiện hành động” trong văn học, nghệ thuật là điều nên có và phải có. Đó chính là sự tự do sáng tạo. Nếu chỉ vì nhìn nhận thấy rằng, trong sinh hoạt, trong cuộc sống, trong hiện thực, cái tự do hành động, không phụ thuộc vào nó ở thể chế chính trị nào và ở nền văn minh nào, bị giới hạn bởi cái tự do hành động của người khác để rồi đi tới kết luận cái giới hạn của hành động sáng tạo, cái khuôn khổ của tự do sáng tạo thì e rằng nhà phê bình đã dẫn dắt người sáng tạo không phải đến ngã ba đường mà đến ngõ cụt của hành động sáng tạo. Trừ phi người phê bình nói tới cái gọi là ý thức hệ, thì có lẽ không còn gì để bàn cãi nữa!
“Thông điệp của sự bế tắc” cũng là một thông điệp và là một thông điệp rất nhân bản và rất bao trùm, một tiếng kêu rất lớn của người nghệ sĩ. Rất có thể người nghệ sĩ muốn tách mình ra khỏi hiện thực, muốn gào lên, muốn biểu thị cái khát vọng bất kì nào đó của bản thân mình, cho dù đó là dục tính. Nhất là dục tính! Bởi cái chất giọng của người nghệ sĩ hát opera, người bị hoạn, cũng là một tiếng kêu, nhưng hoàn toàn khác! Và ngay cả các hoạn quan hay các hầu phòng bị hoạn trong cung đình ngày xưa đâu có phải là chuẩn mẫu của con người, chuẩn mẫu của đạo đức?
Không những người nghệ sĩ cần khoảng không tự do để sáng tạo mà người phê bình cũng cần khoảng không tự do để phê bình. Gán ghép tính nhân bản, tính hiện thực cho các tác phẩm nghệ thuật, người phê bình đã tự giới hạn cái khoảng không tự do phê bình của mình. Tác phẩm nghệ thuật không nhất thiết phải mang tính nhân bản và chắc chắn không phải mang tính hiện thực mặc dù có thể tính hiện thực được biểu hiện đâu đó. Tác phẩm nghệ thuật do con người tạo ra, ở khía cạnh này hay phương diện khác, dẫu tác giả không cố ý, đã mang sẵn trong mình tính nhân bản rồi. Các con vật chưa thể sáng tạo ra tác phẩm nghệ thuật, nhưng các máy móc do con người làm ra thì đã làm ra các tác phẩm nghệ thuật, mà nhiều nhà phê bình không dám và không muốn công nhận. Các tác phẩm nghệ thuật do tự nhiên tạo ra, mà nói đúng hơn các kì quan và các hiện tượng địa vật lí không nhất thiết phải mang tính nhân bản, nhưng không vì thế mà chúng ta, nhất là người nghệ sĩ, không ngừng chiêm ngưỡng nó, ca ngợi nó. Hàng cây cổ thụ do bác sỹ Yersin trồng cách đây hơn 100 năm tại Suối Dầu có thể chưa phải là một tác phẩm nghệ thuật, mặc dù “một cây có bộ rễ phủ rất đẹp gần giống như hình người” nhưng có thể là nguồn cảm hứng của rất nhiều nghệ sĩ. Đốn hạ hàng cây cổ thụ này, nếu người nghệ sĩ được phép, có thể là hành động tạo dựng một perfomance, một happening, một tác phẩm nghệ thuật. Nhưng đốn chặt 11 cây cổ thụ này để “mở đường nội bộ trong khuôn viên Trại chăn nuôi” (nguồn đã dẫn ở trên) thì lại là một hành động không những không mang tính nhân bản mà còn là một hành động man rợ, cần phải lên án. Tại sao các tác giả của nó không bị kết tội, không bị truy nã như các văn nghệ sĩ Việt Nam khác vô tình vượt qua “giới hạn” của nghệ thuật?
Người phê bình không cần phải có một sự dũng cảm lớn như của người sáng tạo. Nhưng không phải là họ hoàn toàn không cần đến. Trong một khoảng không hạn hẹp như môi trường của người Việt hải ngoại, anh Nguyễn Hữu Liêm đã tỏ ra rất dũng cảm để phê phán cái tật văn chương tào lao và nhất là cái âm điệu tủi thân, bi đát của âm nhạc hải ngoại và của các ca sĩ Việt Nam tại Mỹ, các Khánh Ly, Khánh Hà, các Ý Lan. Hay nói một cách khác anh đã vượt qua cái giới hạn tự do phê bình của người thưởng thức nghệ thuật tại hải ngoại. Anh viết “sắc điệu văn hoá rất đặc thù cho người Việt hải ngoại …là một dòng âm nhạc bi đát, yếu đuối, trống rỗng và băng hoại”. Anh đã tấn công cái hậu trường của người cầm bút (nói theo Hải Đường), của người sáng tạo. Nhưng khác với Hải Đường, tôi không muốn đổ lỗi cho chiến tranh và cho cái “hậu trường” hải ngoại. Ảnh hưởng của chiến tranh và chạy loạn thì đã quá rõ. Cộng đồng lưu vong nào thì cũng thế. Cái văn hoá của bất kể cộng đồng lưu vong, người Việt, người Ba Lan, người Tàu không thể mang tính chủ đạo. Nó có thể làm phong phú nền văn hoá của chính quốc nhưng không thể đại diện và thay thế nền văn hoá nghệ thuật của chính quốc. (Xin nhớ là Đài Loan là một quốc gia độc lập). Tôi muốn nói tới cái ý thức hệ của một hậu trường vĩ đại, cái hậu trường trong nước, cái hậu trường mơ ước của các nhà sáng tạo là người Việt Nam, dành cho người Việt Nam. (Anh La Toàn Vinh không nhất thiết phải cần tới cái hậu trường này, đạo diễn Trần Anh Hùng cũng vậy). Khán giả, thính giả hay nói rộng hơn người Việt Nam thưởng thức nghệ thuật ở nước ngoài có được cái tự do để tiếp cận nghệ thuật, nhưng chưa hẳn lúc nào người ta cũng có cái dũng cảm để đến với nghệ thuật mặc dù chỉ ở dạng thụ động mà thôi. Ngược lại, những người sáng tạo và thưởng thức văn hoá nghệ thuật tại Việt Nam, thông thường thiếu cả hai, thiếu sự tự do tiếp cận nghệ thuật, thiếu cái dũng cảm để vươn tới giới hạn của nghệ thuật, tất nhiên nếu như không có luật định giới hạn nó. Cần phải thay đổi cái nhìn nhận của người sáng tạo và cả của người thưởng thức, cái ý thức hệ trùm lên đầu họ, kể cả những người đang sống nơi hải ngoại, đã từ rất lâu rồi. Và cơn mưa rào vừa qua tại Tam Đảo cũng là cơn mưa của ý thức hệ đã dội mạnh lên mái tôn của các nhà lí luận phê bình Việt Nam. Người ta nhốt họ dưới mái tôn của ý thức hệ, mà có khi họ tự chui vào đó để ẩn nấp. Cái khoảng không để sáng tạo của họ bị thu hẹp, không phụ thuộc vào việc họ muốn hay không. Nói thế không có nghĩa là họ không dũng cảm đi tìm. Những Hà Minh Đức, những Phan Cự Đệ không thể “làm gương về tính chuyên nghiệp”, nhưng họ lại là tấm gương của lòng dũng cảm, bỏ cái dễ (phê phán) để tới cái khó (sáng tạo). Nhất là nếu chẳng có tự do để phê phán và chẳng có gì để phê phán! Nhà lí luận họ Hồ (nói theo cách nói của các nhà báo Việt Nam tại đài BBC), Hồ Sĩ Vịnh, đã không đủ sức giữ họ lại dưới mái tôn đang lộp độp mưa rơi. 45 phút ngớt mưa này, 45 phút xuất thần của ý thức văn học có báo hiệu sự ngưng tạnh của cơn mưa ý thức hệ, suốt mấy hôm hội nghị, suốt mấy chục năm qua?
Warszawa, 27/08/2003
© 2003 talawas