trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas

Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
21.2.2002
Hoàng Phủ Ngọc Tường, Mai Chi, Nguyễn Lân Dũng
Rừng vàng, biển bạc | Hãy cứu lấy những cánh rừng nguyên sinh còn lại | Ðể bảo vệ trái đất | Ngày 18 tháng Tám
 

Cho tới nay “bảo vệ môi trường” vẫn là một khái niệm mơ hồ đối với đa số người Việt Nam. Tôi nghĩ cũng không có gì lạ. Chữ “bảo vệ”, giống như trong “bảo vệ bà mẹ và trẻ em”, ám chỉ rằng cái cần được bảo vệ kia nó yếu đuối, cần sự che chở và giúp đỡ để có thể tồn tại hay phát triển. Điều này trái với quan niệm về thiên nhiên của chúng ta, một quan niệm đã được hình thành từ hàng nghìn năm nay. Từ thời Sơn Tinh Thủy Tinh, thiên nhiên là một sức mạnh vô hình, lúc tử tế, lúc tàn bạo, không lường trước được. Chúng ta như cá nằm trên thớt. Lụt, bão, hạn hán. Đến tận hôm nay, cuộc sống của chúng ta vẫn gần như phụ thuộc hoàn toàn vào lòng tốt của thiên nhiên. Ta vẫn phải vật lộn để bảo vệ mình. Người Việt Nam quen với khái niệm “phòng chống thiên tai” hơn là “bảo vệ thiên nhiên”.

Ở phương Tây, sau hai trăm năm công nghiệp hóa, thiên nhiên đã trở thành một con thú hiếm được nhốt trong sở thú để người ta trầm trồ, chiêm ngưỡng, và hoan hỉ khi nó có thai. Còn ở Việt Nam, nếu nói chuyện bảo vệ biển với một anh đánh cá hàng ngày ra khơi bằng một chiếc thuyền gỗ cũ kỹ, cùng lắm ta sẽ nhận được một nụ cuời mệt mỏi. Mười năm là một khoảng thời gian quá ngắn để có thể thay đổi nhận thức, để chúng ta ý thức được rằng giờ đây ta cũng hoàn toàn có đủ khả năng để tàn phá môi trường quanh ta, sự tàn phá dẫn đến thiên nhiên tàn phá lại chúng ta, rồi chúng ta lại quay vòng tàn phá tiếp… Rằng bây giờ chúng ta không chỉ đóng vai nạn nhân, mà cũng đồng thời kiêm luôn thủ phạm.

Người ta vẫn cho rằng so với văn hoá phương Tây thì văn hoá phương Đông có một sự tôn trọng thiên nhiên lớn hơn và đặt con người vào một vị trí giản dị hơn. Một bên thì muốn chinh phục, một bên thì muốn sống trong hoà đồng. Đáng tiếc, trong thực tế, sự khác nhau trong triết lý này đã nhường chỗ cho sự giống nhau trong hành động. Với luật chơi của kinh tế thị trường và sự bất lực của chính quyền, chúng ta bóc lột thiên nhiên thẳng tay, với mục đích duy nhất: lợi nhuận. Gỗ lim, cao hổ cốt, sụn cá mập. Hiển nhiên, các lái buôn không đọc Gớt. Phần lớn người tiêu dùng cũng không. Dường như những răn dạy của truyền thống, tôn giáo và văn hóa chẳng thể thay thế được pháp luật. Điều thực sự đáng ngại là việc chúng ta chặt cây ở chùa Thầy lấy củi, phá núi ở vịnh Hạ Long làm vôi, xây chùa giả ở chùa Hương thu tiền. Nó không chỉ phản ánh một sự vô ý thức cao độ. Tàn phá môi trường văn hoá là dấu hiệu của sự què cụt trong cuộc sống tâm linh. Nó nguy hiểm hơn việc người ta xây khách sạn mini 5 tầng ở phố cổ Hà Nội để đón khách du lịch thăm đúng khu phố cổ này (cái này chỉ là biểu hiện của sự kém cỏi).

Nếu như có điều gì để an ủi thì có lẽ là điều chúng ta biết rằng ta không phải một ngoại lệ. Người nghèo thường hay tự phá hủy mình. Thậm chí ở phương Tây, cái lương tâm môi trường của họ cũng chỉ bắt đầu nhen nhú vào đầu những năm 1970. Chúng ta vẫn có cơ may giữ lại được một phần rừng vàng biển bạc, dẫu có được quây lại như trong Bách thảo. Là một người lạc quan, tôi có một hy vọng: tôi hy vọng một ngày nào đó ông Vàng A Sình, người đã dẫn đường tôi trèo lên (và xuống) đỉnh Phan Si Păng cách đây mấy năm, sẽ không phải lên núi xẻ gỗ bán sang Trung Quốc nữa, mà ông sẽ làm một việc khác, ví dụ như thư ký của chi bộ Đảng Xanh tại bản của ông chẳng hạn.


Mai Chi

~~~





Hãy cứu lấy những cánh rừng nguyên sinh còn lại





Theo đánh giá bước đầu của các nhà khoa học, hàng trăm năm nữa cũng chưa chắc có lại nguồn đa dạng sinh học mà U Minh Thượng vừa mất đi sau vụ cháy vừa qua. GS Nguyễn Lân Dũng – Phó Chủ tịch Thường trực Hội Các ngành sinh học Việt Nam- bày tỏ suy nghĩ chung quanh thảm họa này.




Giáo sư có những suy nghĩ và nhận xét gì về thảm họa cháy hơn 2.600 ha rừng ở vùng U Minh Thượng (Kiên Giang) vừa qua?



Tôi nghĩ hậu quả từ vụ cháy rừng này có hai khía cạnh: một là ảnh hưởng về môi sinh, hai là ảnh hưởng tới tính đa dạng sinh học. Đối với môi sinh thì việc cháy một khu rừng lớn đến hơn 2.600 ha ở giữa một vùng đồng bằng như vậy thì nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến khí hậu, thời tiết của cả một khu vực. Điều quan trọng thứ hai là thảm họa cháy đã làm mất mát cả nguồn gien động, thực vật quý hiếm ở rừng U Minh Thượng. Bởi chúng ta biết, với nhiệt độ cháy như vậy thì các nguồn gien này sẽ chẳng còn lại gì, ngay cả các mầm rễ cũng sẽ chẳng mọc lại được.



Với tư cách là Phó Chủ tịch Thường trực Hội Các ngành sinh học Việt Nam, xin Giáo sư cho biết chúng ta có cách gì để khôi phục nguồn gien thực vật ở rừng U Minh Thượng?



Hiện tôi phụ trách Bảo tàng giống chuẩn Quốc gia về vi sinh vật. Việc bảo quản vi sinh vật theo dạng đông khô cũng dễ dàng thực hiện, nên khi loài gien nào đó mất đi thì chúng tôi có thể khôi phục được. Nhưng việc khôi phục các nguồn gien đã mất ở rừng nguyên sinh U Minh Thượng là không có khả năng làm được. Chúng ta có thể nuôi cấy mô một vài loài quý để nhân giống lên cho nhân dân trồng, chứ không thể nuôi cấy mô tới vài ngàn loài thực vật trong rừng nguyên sinh. Vì vậy các nguồn gien vô cùng quý giá này chỉ có thể bảo tồn, giữ gìn ngay trong các khu rừng quốc gia…



Với góc độ một nhà khoa học, Giáo sư thử phân tích, tìm hiểu các lý do dẫn đến việc cháy rừng.



Tôi không tưởng tượng được việc cháy rừng vừa qua. Đành rằng có một khó khăn rất lớn là thời tiết ở thời điểm ấy khô hạn kéo dài và dưới rừng U Minh Thượng có một lớp than bùn, nên khi cháy trên mặt đã tạo sức nóng làm cho than bùn phát sinh một nhiệt lượng rất lớn. Nhưng điều tôi rất ngạc nhiên là ở rừng U Minh Thượng, người ta vẫn ngang nhiên vác bùi nhùi đi soi ong, bắt ong vào mùa khô hanh. Bó đuốc soi ong hoàn toàn có khả năng gây ra một đám cháy rừng lớn. Tại sao chúng ta không quản lý và ngăn chặn được những việc làm nguy hiểm này (ít nhất là trong mùa khô)? Tôi cũng ngạc nhiên về biện pháp dự phòng trước đó của các cơ quan chức năng. Mọi việc chỉ triển khai tích cực sau khi rừng nguyên sinh đã cháy gần hết. Theo tôi, các rừng quốc gia phải có biện pháp dự phòng và phương án cứu hỏa mang tính khả thi từ lâu rồi mới phải.



Một vấn đề rất đáng báo động ở Việt Nam là việc bảo vệ các khu rừng quốc gia được đặt ra rất nghiêm túc với những quy định, quy chế cụ thể, nhưng việc thực hiện triển khai lại rất hời hợt và thiếu trách nhiệm. Tôi đã tiếp xúc với lực lượng kiểm lâm ở một số khu vực, họ cho biết, lực lượng rất ít, chỉ đủ ngăn chặn việc vận chuyển gỗ lậu ở cạnh rừng chứ không thể vào lòng rừng ngăn chặn việc khai thác rừng trái phép. Do vậy, theo tôi nên giao một phần việc bảo vệ rừng cho lực lượng bộ đội thì tốt hơn, họ nhiều người và lại có kỷ luật.



Chúng ta cũng phải ngăn chặn việc di dân tự do vào Tây Nguyên để tránh nạn đốt phá rừng làm nương rẫy. Nếu chúng ta không làm được thì những cánh rừng nguyên sinh đầu nguồn ở Tây Nguyên với tài nguyên sinh học vô cùng phong phú cũng sẽ biến mất trong một tương lai gần.



(VnExpress, 13.04.2002 – Theo Văn nghệ)


 

~~~





Ðể bảo vệ trái đất





Không biết từ bao giờ, người ta đã quen dùng những từ “chinh phục thiên nhiên” để xưng tụng quyền lực phi thường mà khoa học đã trao cho con người. Tôi đề nghị hãy loại bỏ cách nói kiêu ngạo ấy khỏi ngôn ngữ văn hoá của con người, vì tính phiến loạn và vô đạo của nó đối với thiên nhiên, và tiếp sau đó sẽ là tai hoạ. Thí dụ, chúng ta vẫn nói đến những vị anh hùng “chinh phục Hi Mã Lạp Sơn”. Trời ơi, ông ta là người trèo núi giỏi, không sợ chết, lên cắm cờ tận chóp Everest, như vậy là quang vinh tột đỉnh cho con người rồi. Còn Hi Mã Lạp Sơn thì vẫn y nhiên tự tại, làm sao “chinh phục” được nó? Trong khi đó, báo chí sách vở tràn đầy thông tin của các nhà thám hiểm vốn nhìn thấy tận mắt những thiền sư Ấn Ðộ, Tây Tạng, đã có mặt ở đấy từ bao giờ, ung dung ngồi thổi sáo trong tuyết đỉnh Hi Mã. Các Yogi châu Á này không bao giờ tự xem mình là kẻ chinh phục cả. Họ chỉ dùng hơi thở vận khí Prana của trời đất thành “Lửa Tam muội” của cơ thể để tự sưởi ấm.



Trường hợp các Yogi trên núi Hi Mã cho phép tôi nghĩ rằng, hằng số Thiên-Ðịa-Nhân (tam tài) của vũ trụ quan phương Ðông mang một ý nghĩa sinh thái rất cơ bản. Theo nguyên lí “đồng nhất thể” của ba yếu tố này, thì khoa học vốn là một sản phẩm của con người – sẽ không bao giờ quay lại chinh phục và thống trị thiên nhiên; khoa học là phương cách để thuyết phục và hợp tác với thiên nhiên trong sự tôn trọng quyền cùng tồn tại của cả hai. Tôi rất ngại thói “sính kinh điển”, nhưng ở đây chúng ta cũng nên lắng nghe ý kiến của F. Engels:



“Chúng ta không nên quá tự hào về những thắng lợi của chúng ta đối với giới tự nhiên, bởi vì cứ mỗi lần, giới tự nhiên lại trả thù chúng ta. Thật thế, mỗi thắng lợi trước hết đem lại cho chúng ta kết quả mà chúng ta hằng mong muốn; nhưng đến lượt thứ hai, thứ ba thôi, nó gây ra tác hại hoàn toàn khác hẳn, không lường trước được. Những tai hoạ thường phá hủy tất cả những kết quả đầu tiên đó”.



Vâng, cứ tiếp tục phá rừng, đúc nhựa mặt đất, xịt CO² đậm đặc cả không khí, chọc thủng toang hoác tầng ôzôn với tốc độ khủng khiếp như thế này, thì liệu loài người còn sống được tới bao lâu nữa để mà “chinh phục thiên nhiên”?



Tôi rất thích huyền thoại bà Nữ Oa luyện đá vá trời, cặm cụi vá lỗ thủng của “tầng ôzôn” giống như người vợ âu yếm vá áo cho chồng. Bảo vệ thiên nhiên bằng cái Tâm Thiên-Ðịa-Nhân, đấy là sự khôn ngoan mà phương Tây có thể học hỏi ở phương Ðông.



Và nếu thế thì tôi xin dẫn ra đây hành động khiêm tốn của một ông vua Việt Nam rất nghèo, cách đây đã gần hai trăm năm. Trả lời kiến nghị của viên quan tỉnh xin đánh thuế sân chim ở Hà Tiên, vua Minh Mạng xuống dụ: “Dân là đồng bào ta, vật là cùng sống với ta, người làm vua nên say lòng nhân với dân kịp đến muôn vật, khiền đều thỏa sống. Nay bọn tiểu dân trục lợi lấy việc đánh chim làm nghề nghiệp, làm hại nhiều sinh vật, lòng ta không nỡ để như thế. Vậy bãi đi”.


Hoàng Phủ Ngọc Tường




(Nguồn: “Nhàn đàm”, Tập I, NXB Trẻ 2002, tr. 123-125)


 

~~~








 

Johann Wolfgang Goethe:



Am 18. August



Mußte denn das so sein, daß das, was des Menschen Glückseligkeit macht, wieder die Quelle seines
Elendes würde?


Das volle, warme Gefühl meines Herzens an der lebendigen Natur, das mich mit so vieler Wonne überströmte, das ringsumher die Welt mir zu einem Paradiese schuf, wird mir jetzt zu einem unerträglichen Peiniger, zu einem quälenden Geist, der mich auf allen Wegen verfolgt. Wenn ich sonst vom Felsen über den Fluß bis zu jenen Hügeln das fruchtbare Tal überschaute und alles um mich her keimen und quellen sah; wenn ich jene Berge, vom Fuße bis auf zum Gipfel, mit hohen, dichten Bäumen bekleidet, jene Täler in ihren mannigfaltigen Krümmungen von den lieblichsten Wäldern beschattet sah, und der sanfte Fluß zwischen den lispelnden Rohren dahingleitete und die lieben Wolken abspiegelte, die der sanfte Abendwind am Himmel herüberwiegte; wenn ich dann die Vögel um mich den Wald beleben hörte, und die Millionen Mückenschwärme im letzten roten Strahle der Sonne mutig tanzten, und ihr letzter zuckender Blick den summenden Käfer aus seinem Grase befreite, und das Schwirren und Weben um mich her mich auf den Boden aufmerksam machte, und das Moos, das meinem harten Felsen seine Nahrung abzwingt, und das Geniste, das den dürren Sandbügel hinunter wächst, mir das innere, glühende, heilige Leben der Natur eröffnete: wie faßte ich das alles in mein warmes Herz, fühlte mich in der überfließenden Fülle wie vergöttert, und die herrlichen Gestalten der unendlichen Welt bewegten sich allbelebend in meiner Seele. Ungeheure Berge umgaben mich, Abgründe lagen vor mir, und Wetterbäche stürzten herunter, die Flüsse strömten unter mir, und Wald und Gebirg erklang; und ich sah sie wirken und schaffen ineinander in den Tiefen der Erde, alle die unergründlichen Kräfte; und nun über der Erde und unter dem Himmel wimmeln die Geschlechter der mannigfaltigen Geschöpfe. Alles, alles bevölkert mit tausendfachen Gestalten; und die Menschen dann sich in Häuslein zusammen sichern und sich annisten und herrschen in ihrem Sinne über die weite Welt! Armer Tor! der du alles so gering achtest, weil du so klein bist. Vom unzugänglichen Gebirge über die Einöde, die kein Fuß betrat, bis ans Ende des unbekannten Ozeans weht der Geist des Ewigschaffenden und freut sich jedes Staubes, der ihn vernimmt und lebt. – Ach damals, wie oft habe ich mich mit Fittichen eines Kranichs, der über mich hin flog, zu dem Ufer des ungemessenen Meeres gesehnt, aus dem schäumenden Becher des Unendlichen jene schwellende Lebenswonne zu trinken und nur einen Augenblick in der eingeschränkten Kraft meines Busens einen Tropfen der Seligkeit des Wesens zu fühlen, das alles in sich und durch sich hervorbringt.



Bruder, nur die Erinnerung jener Stunden macht mir wohl. Selbst diese Anstrengung, jene unsäglichen
Gelüste zurückzurufen, wieder auszusprechen, hebt meine Seele über sich selbst und läßt mich dann das
Bange des Zustandes doppelt empfinden, der mich jetzt umgibt.



Es hat sich vor meiner Seele wie ein Vorhang weggezogen, und der Schauplatz des unendlichen Lebens verwandelt sich vor mir in den Abgrund des ewig offenen Grabes. Kannst du sagen: Das ist! da alles vorübergeht? da alles mit der Wetterschnelle vorüberrollt, so selten die ganze Kraft seines Daseins ausdauert, ach, in den Strom fortgerissen, untergetaucht und an Felsen zerschmettert wird? Da ist kein Augenblick, der nicht dich verzehrte und die Deinigen um dich her, kein Augenblick, da du nicht ein Zerstörer bist, sein mußt; der harmloseste Spaziergang kostet tausend armen Würmchen das Leben, es zerrüttet ein Fußtritt die mühseligen Gebäude der Ameisen und stampft eine kleine Welt in ein schmähliches Grab. Ha! nicht die große, seltne Not der Welt, diese Fluten, die eure Dörfer wegspülen, diese Erdbeben, die eure Städte verschlingen, rühren mich; mir untergräbt das Herz die verzehrende Kraft, die in dem All der Natur verborgen liegt; die nichts gebildet hat, das nicht seinen Nachbar, nicht sich selbst zerstörte. Und so taumle ich beängstigt. Himmel und Erde und ihre webenden Kräfte um mich her: ich sehe nichts als ein ewig verschlingendes, ewig wiederkäuendes Ungeheuer.




Aus: Die Leiden des jungen Werther


Hamburger Ausgabe, Bd. 6, S. 51 ff.

Johann Wolfgang Goethe:



Ngày 18 tháng Tám



Có lẽ nào đời lại như thế ư: những gì làm cho con người ngây ngất hạnh phúc phải trở thành cội nguồn của mọi khổ đau?


Cái cảm giác nồng ấm trong trái tim tôi đối với thiên nhiên đầy sức sống, cảm giác đã từng phủ ngập người tôi trong biết bao niềm hoan lạc cuộc đời, đã từng biến thế giới vây quanh tôi thành một thiên đường – giờ đây đối với tôi, nó đã thành một cực hình không sao chịu đựng nổi, đã trở thành một ác thần hành hạ tôi, bám riết tôi trên khắp mọi nẻo đường. Xưa kia, từ mỏm đá cao, khi tôi ngắm nhìn cánh đồng phì nhiêu bên kia sông chạy dài tới triền đồi, khi tôi thấy tất cả ở quanh tôi đương đâm chồi nảy lộc, đương khơi nguồn mạch sống; khi tôi chăm chú nhìn rặng núi phủ trên mình những cây cao bóng cả và những thung lũng uốn lượn quanh co rợp bóng mát của rừng cây thân thương; khi tôi nhìn thấy con sông hiền hoà lách mình qua những khóm lau bờ sậy đương xào xạc, in bóng những bông mây trìu mến được gió chiều thổi nhẹ ru đưa giữa bầu trời; khi tôi nghe thấy tiếng chim muông ở quanh tôi làm xáo động cánh rừng; khi tôi nhìn thấy những đàn muỗi đang can trường nhảy múa trong ráng chiều đỏ rực cuối ngày của vầng dương, và khi tia nắng cuối cùng rùng mình giục giã con cánh cam đương ngâm nga thoát mình khỏi bờ cỏ, và tiếng lao xao chao động nhẹ nhàng gợi tôi chú tâm tới mặt đất, tới rong rêu đang hút lấy dưỡng chất từ mõm đá khô cứng dưới chân tôi, tới những cây kim tước chỉ bám vào bờ cát khô cằn để trườn mình mọc dậy, – thì tất cả, tất cả như hé mở cho tôi cái cuộc sống nội lực, thiêng liêng và nồng nhiệt của thiên nhiên. Tôi đã đón nhận tất cả những cái đó vào trái tim nồng ấm của mình! Trong sự sung mãn tràn trề ấy, tôi thấy mình như được hoá thành thần, và trong hồn tôi, những hình ảnh nguy nga của thế giới vô song đương dào dạt sống động. Tôi như người đứng giữa những ngọn núi khổng lồ, trước mặt là vực thẳm, thác nước trời dội xuông, những dòng sông cuộn chảy dưới chân tôi, và núi rừng vang vọng… Và tôi nhìn thấy tất cả đang vận động, đang kiến tạo trong lòng sâu trái đất, nhìn thấy những sức mạnh chưa được khám phá, và trên mặt đất, dưới bầu trời, tôi nhìn thấy những sinh linh muôn hình muôn vẻ chen chúc nhau sinh tồn, và thấy những con người đương co mình chắc chắn trong những căn nhà tí hon, xây tổ ấm, và theo ý họ thì họ đương cai trị cả thế giới bao la! Hỡi con người điên dại đáng thương! Ngươi coi tất cả đều nhỏ bé chỉ vì ngươi cũng vô cùng nhỏ bé…! Từ núi non hiểm trở, qua những miền hoang vu không in dấu chân người, cho đến nơi tận cùng của đại dương xa lạ, đâu đâu cũng có anh linh của Đấng sáng tạo vĩnh hằng, và Người vui khi mỗi một hạt bụi cảm nhận được Người và tốn tại – Ôi chao! Ngày ấy, đã biết bao lần tôi ao ước được cưỡi lên cánh hạc đang lướt ngang qua đầu để bay tới bến bờ của Đại dương vô lượng, ao ước được ghé môi vào chén rượu sủi tăm của Vô biên để uống lấy niềm hoan lạc của Đời đang ầm ào vỗ sóng, và dù chỉ là trong khoảng khắc, dù chỉ với sức lực hạn hẹp của con tim, tôi cũng muốn được nếm trải một giọt nồng ngất ngây của Tạo hoá, mà tất cả đều được tạo ra từ chính mình và bởi chính mình!



Bạn ơi, chỉ có hoài niệm về những giờ phút ấy mới an ủi được lòng tôi. Nhưng ngay cả những cố gắng của tôi để hồi tưởng và diễn tả lại những cảm giác không sao diễn tả được trên kia, tuy nó nâng hồn tôi vượt lên khỏi chính mình, nhưng rồi lại làm tôi cảm nhận được gấp bội nỗi lo âu về hiện trạng đang bủa vây quanh tôi.



Trước tâm hồn tôi, một cái gì đó đã hé mở như một tấm rèm được kéo ra, và trước mắt tôi, khung cảnh về một cuộc sống bất tận đã biến thành vực thẳm của nấm mồ ngàn đời rộng mở. Chẳng lẽ có thể nói: – Đấy là Tồn Tại! Khi tất cả đã qua đi? Khi tất cả đã tan nhanh như ánh chớp, khi toàn bộ sức mạnh của Hiện hữu rất ít khi bền vững và, ôi chao! Khi con người bị cuốn phăng vào dòng đời, bị nhận chìm và bị quăng quật nát tan bên ghềnh đá? Chẳng có giây phút nào đời không day dứt bạn, không day dứt những người thân của bạn, và dù bạn không phải là một kẻ ác đi nữa… Một cuộc dạo chơi vô tư nhất cũng đã hủy hoại cuộc sống của hàng ngàn con sâu nhỏ đáng thương! Chỉ một bước chân thôi, thế là bao công trình lao khổ của bấy kiến đã tiêu ma, cả một thế giới nhỏ bé bị vùi sâu trong nấm mồ ô nhục. A! Đâu có phải những thảm hoạ lớn lao những hiếm khi xảy ra trên thế gian, đâu có phải những trận lũ lụt cuốn phăng bao làng mạc, đâu có phải những trận động đất chôn vùi bao đô thị làm cho tôi xúc động, mà trái tim tôi đau thương vì cái sức mạnh tiềm ẩn trong thiên nhiên đang mòn mỏi. Có cái gì mà sức mạnh ấy tác thành và tạo dựng lại không hủy hoại xung quanh và hủy hoại chính bản thân mình. Và thế đấy, tôi loạng choạng lo âu; trời và đất, và những sức mạnh tiềm tàng vây quanh tôi, tôi không thấy gì hết, tôi chỉ nhìn thấy hình ảnh con quái vật đời đời nhai lại và đời đời hủy hoại mình.



Trích: Nỗi đau của chàng Vecte, Tiểu thuyết; Quang Chiến dịch; bản in lần thứ 2, NXB Văn học, Hà Nội 1999, tr. 101 – 105

© talawas 2026