Một trong những điều tuyệt vời của Tiếng Việt nằm ở chỗ: rất nhiều người nhận định rằng Tiếng Việt không có chuẩn mực, nhưng đa số lại biết rất rõ một người khác viết TiếngViệt sai ở chỗ nào và như thế nào. Vậy thì tại sao lại có thể nói tiếng Việt phi chuẩn được? Nếu đã phi chuẩn thì làm sao biết sai ở đâu?
Đọc bài tham luận của Trần Ngọc Vương (talawas, 29/11/03) như một người quan tâm đến chuyện “bản sắc văn hoá”, tôi đã có ngay cảm giác như đang ăn cơm của những năm 80 ở câu đầu tiên: “Ta vẫn thường tự hào về bề dày 4000 năm lịch sử”. Ở một hội nghị về Lào-Việt-Campuchia thì ta là ai, lịch sử của cái gì? Hy vọng là sau đó tôi sẽ được thoả mãn. Nhưng có lẽ cơm gạo tám mươi vẫn là cơm gạo tám mươi.
Trong phân đoạn đầu tiên, “các cộng đồng quốc gia dân tộc” biến thành “các quốc gia dân tộc” ở ngay trong cùng một câu. Rồi biến thành “những quốc gia, những dân tộc” trong câu tiếp theo. Kì lạ hơn nữa, ở đoạn tiếp theo lại biến thành “các cộng đồng văn hoá lịch sử của một tộc người” rồi quay trở về với “các cộng đồng quốc gia dân tộc”. Rồi “cộng đồng” lại có thể là cho quốc gia hoặc cho con người : “Mà con người ta, cá nhân hay cộng đồng, thì đến lúc nào đó, nếu “đã không biết sống là vui” thì “tấm thân nào biết thiệt thòi là thương”.” Hm, nếu vậy thì “ta” ở đây có thể là “một cộng đồng văn hoá lịch sử của” người Việt chăng hay “một cộng đồng quốc gia dân tộc” Việt chăng? Có lẽ ngôn ngữ chuyên môn ở một hội nghị khoa học xã hội và nhân văn thì phải khác với ngôn ngữ mà những người ngoại đạo thường vẫn dùng.
Giả định trên của tôi càng được củng cố bởi đến đoạn thứ 3 thì tôi được cho biết rằng tôi đang đọc trong một “quĩ đạo này” nào đó, và rằng tôi cũng không nên thắc mắc nhiều về những điều đã nói tới trong 2 đoạn đầu bởi cái mà tác giả nhắm đến dường như là một điều khác: “một cái gì tương tự như một vấn nạn lịch sử.” đó là vấn nạn về “tính đơn vị sinh học của mỗi một thân phận cá nhân dễ dàng tạo ra mâu thuẫn, lắm tình huống là đối lập quyết liệt, với vận mệnh của cộng đồng gắn bó trực tiếp với cá nhân đó.”
Trong phần được đánh số I, tôi được nhắc sơ qua về lịch sử cận đại của phương Đông và về “Sự nô dịch dân tộc dưới tên gọi chủ nghĩa thực dân” Tôi phải tự suy luận là các nước Âu và Mĩ bị nô dịch bởi chủ nghĩa thực dân, bởi lẽ các dân tộc bị chiếm đóng đã chẳng bao giờ bị cái chủ nghĩa ghê tởm đó nô dịch cả. Rồi luận điểm về việc các con rồng châu Á sở dĩ trở thành rồng vì đã sử dụng lại “những thành tựu, những kinh nghiệm, và cả những lý luận đã từng tồn tại hàng vài nghìn năm trong lịch sử của họ” . Thêm vào đó, tôi lại được biết rằng bên cạnh “truyền thống Nho giáo”, còn có các loại “truyền thống lịch sử: truyền thống khu vực hay truyền thống dân tộc, truyền thống quốc gia hay truyền thống địa phương, truyền thống trên bình diện nhận thức hay bình diện tổ chức, quản lý, điều hành…” khác. Ở đoạn mở đầu tôi gặp “tính đơn vị sinh học” thì ở đoạn này tôi gặp “tính tất yếu lạnh lùng” về sự nghèo khó…
Mà thôi, tin tưởng ở ngôn ngữ và phân tích của một nhà chuyên môn, tôi đành tự an ủi rằng hãy tin vào kết luận chính của tác giả để có thể biết được cái cần nhất cho con người Việt Nam hiện nay là gì. Đó là: “năng lực chấp nhận mọi tình huống phức tạp của thực tiễn lẫn mọi sự gian nan của tư duy lý luận, khắc phục được bệnh đơn giản hoá vấn đề mà không đánh mất tính linh hoạt, nhạy bén và khả năng thấu thị, viễn kiến. Chung sống được, mà là cảm nhận được hạnh phúc, với cái dị kỷ, chính là một nhu cầu cấp bách để tiến lên, để trưởng thành.”
Đó là tôi mới chỉ dám dừng lại ở khiá cạnh ngôn ngữ Tiếng Việt, cụ thể là khía cạnh từ vựng, để xem nó đã được sử dụng một cách hào phóng như thế nào; để biết rằng, “sấm” không chỉ đi đôi với chuyện dịch thuật. Đánh giá rằng Tiếng Việt phi chuẩn có lẽ cũng sai như một đánh giá về chuẩn mực của Tiếng Việt. Có lẽ cái chuẩn mực của Tiếng Việt nằm ở chỗ chuẩn mực riêng của từng cá nhân đối với Tiếng Việt trên mặt bằng ngôn ngữ chung là như thế nào mà thôi chăng?
© 2003 talawas