Các ý tưởng sống được nhờ những lời bài bác cũng như những lời khẳng định; một tác phẩm tồn tại nhờ sự thù hằn không kém sự ái mộ. (Nietzsche)
Thủa bé tôi rất mê văn. Văn chương không chỉ là thích khoái thẩm mỹ, mà còn là một niềm an ủi, nỗi ám ảnh, những ốc đảo trong sa mạc tuổi thơ. Nhưng khi lớn lên tôi như bị dị ứng trong tình yêu đó. Chỉ có một con đường đến La Mã. Tôi thề sẽ không bao giờ ngó ngàng gì đến văn chương nữa. Sau khi giải nghệ lính, tôi về nhà xuất bản Ngoại văn. Ðọc được vài cuốn của các nhà Phê bình Mới của Pháp. Tôi như phát hiện ra lục địa thứ bảy. Và trên mảnh đất mới này, tôi hết sức bỡ ngỡ. Chỉ sau khi gặp Phan Ngọc trong Giải mã thơ Ðường và nhất là Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, tôi mới nhãn tiền thấy hoa trái mọc lên từ những lý thuyết hiện đại phương Tây gieo vào những mảnh vườn văn Việt tưởng như đã cạn kiệt chất màu. Niềm say mê ấu thời bỗng trở lại. Từ đây, tôi luôn coi Phan Ngọc như một người anh lớn trên lộ trình phê bình văn học; ở mỗi công trình của ông, dù hệ thống còn phải bàn cãi, nhưng yếu tố bao giờ cũng có những chớp sáng thiên khải. Có thể nói, ông là niềm vinh dự cho giới. Tuy vậy, không hiểu do một ý tưởng kỳ quặc nào đó, tôi cứ thích nhìn ngắm tấm huy chương ấy từ mặt sau của nó.
Con người ta, trừ khi nằm già trong bào thai, hoặc ra đời rồi mà vẫn sống trong tư thế bào thai, như kiểu “người mang bao” của Sêkhốp còn thì ai mà không có gót Asin. Nhưng, chữ “nhược” kia, hình như cũng có ba bảy đường. Với Phan Ngọc, tôi nghĩ, những nhược điểm của ông là do sự bành trướng không kiểm soát nổi của những ưu điểm mà thành. Bởi vậy, đến với Phan Ngọc từ những ưu điểm bị đẩy đến thái quá, tức những cực đoan, một nét nghệ sĩ trong con người khoa học của ông, sẽ làm cho người đọc dễ hình dung ra diện mạo và tầm vóc con người ông hơn.
Phan Ngọc không chỉ là người có một truyền thống gia đình khoa bảng, những khả năng trời cho, mà còn có khát vọng học thuật và ham thích sự truyền bá theo kiểu hành đạo của nhà Nho. Khát vọng học thuật đó khiến ông ở đâu và lúc nào cũng tự học. Khả năng tự hành của ông rất lớn. Trong kháng chiến chống Pháp, vừa tham gia chiến dịch, ông vừa tự học. Ngoài đọc sách, ông còn trực tiếp gặp gỡ, trao đổi, học hỏi những nhà văn, nhà thơ, nhà nghiên cứu mà trước đây ông chỉ mới nghe danh, đọc sách, nay đều tụ hội ở Việt Bắc. Bởi vậy kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp, ông còn có một Ðiện Biên Phủ khác là học vấn.
Nhưng cái gì cũng có mặt trái của nó, sự trưởng thành học vấn của ông đòi hỏi một bầu dưỡng khí, một sự hành đạo, dù ông còn lẩy bẩy. Rời đất mới, ông thôi giảng dạy để chuyển về, cùng với Cao Xuân Hạo, làm ở phòng tư liệu trường Ðại học Tổng hợp. Và, có lẽ, sự thăng tiến về học thức của ông đến lúc này mới thực sự bắt đầu. Goethe có nói, tính cách hình thành trong bão táp, trí tuệ hình thành trong yên tĩnh. Bởi vậy, để đạt đến một trí tuệ cao, con người, trong cuộc đời mình hình như phải bị và được một rủi ro nào đó cách ly hắn tham dự một cách đầy đủ vào đời sống xã hội. Bấy giờ để tiêu thời gian, để khẳng định sự tồn tại, để tham dự vào cuộc sống ở một tầng không gian khác, hắn chỉ còn có một nẻo đường tự do là phấn đấu học vấn. Hơn mười năm ở phòng tư liệu, Phan Ngọc chỉ đọc và dịch, dịch và đọc. Rồi suy ngẫm. Nhốt mình trong tầng cao của cái tháp ngà ấy, ông đủ bình tâm để tiếp xúc với những lý thuyết hiện đại trong khoa học xã hội, bắt đầu từ ngôn ngữ học cấu trúc của F.de Saussure. Có lẽ, những chớp sáng và ấp ủ trong tháng ngày dài này chỉ chờ cơ hội để có được hình hài trên giấy. Và thời cơ ấy, cuối cùng, đã đến.
Cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong truyện Kiều là một thành công trong áp dụng lý thuyết ngôn ngữ học cấu trúc vào nghiên cứu văn học. Nhưng Phan Ngọc không dừng lại ở đấy. Ông coi cách tiếp cận này chỉ xuất phát điểm để hướng tới những vấn đề tư tưởng và mỹ học của Nguyễn Du và thời đại của nhà thơ. Nghĩa là, Phan Ngọc không chỉ miêu tả những nghệ thuật của Kiều, mà còn tiến lên bước lý giải nó. Công đoạn hai này là chỗ nhà phê bình Việt Nam khác với các nhà phê bình phương Tây mà ông chịu ảnh hưởng. Hơn nữa, ông còn muốn sáng tạo lý thuyết: đẩy thao tác thành thao tác luận.
Các thao tác của Phan Ngọc, rõ ràng, là một công cụ thám mã mới, có thể cho người đọc nhòm được phía bên kia của mặt trăng. Nhưng lắm khi ông coi thao tác là tất cả. Hẳn là một phản ứng với quan điểm nghiên cứu văn học coi thế giới quan của nhà văn là tất cả. Ông tuyên ngôn: ai nắm được các thao tác nghệ thuật của một nhà văn là có thể vận dụng nó, như một mô hình, để tạo ra những tác phẩm khác tương tự. Chỗ này ông gần với Aristote, người coi nghệ thuật như là thủ công nên tác phẩm có thể được tạo ra theo nguyên tắc bắt chước; gần với nhà hình thức chủ nghĩa Nga nào coi nghệ thuật chỉ là thủ pháp. Tác phẩm nghệ thuật không phải là thứ hàng hoá sản xuất hàng loạt, nên không thể “chế tạo” được. Nó là sản phẩm đơn nhất. Một sinh thể. Nhà phê bình có thể phát hiện các thao tác mà nhà văn sử dụng, cũng như có thể phân tích những hiệu quả thẩm mỹ do nó gây ra, nhưng không thể giải thích được lý do tại sao anh ta lại chọn thao tác này chứ không phải thao tác khác. Bởi sự lựa chọn một trong hàng nghìn phương án, hàng nghìn khả năng chỉ trong một tích tắc, nên không thể diễn ra trên sân khấu hữu thức, khu vực mà lý trí con người có thể điều khiển được, mà chỉ có thể ở tầng cao siêu thức. Nghệ thuật, vì thế, là trời cho chứ không phải người dạy. Và sáng tạo là một bí mật mà các nhà nghiên cứu chỉ có thể tiệm cận chứ không thể chiếm lĩnh. Tác phẩm, nhờ thế, mãi mãi thanh xuân.
Thao tác luận cũng mang lại cho nghiên cứu văn hoá một cách tiếp cận mới. Bị lạc trong mê cung của hàng trăm định nghĩa về văn hoá, người ta phân vân không biết liệu có một ngành nào đó gọi là văn hoá học không. Ngay cả Từ Chi, tôi biết, cũng cho rằng không có văn hoá học; mỗi nhà nghiên cứu từ mảnh ruộng phần trăm của mình tiến lên một bước là đi vào địa phận văn hoá. Bởi vậy, văn hoá học, nếu thích gọi như thế, chỉ là cái bước siêu thăng đó của các ngành khoa học riêng biệt. Phan Ngọc, ngay từ đầu, đã khẳng định là có. Tuy nhiên, một khoa học muốn có đất sống phải có một đối tượng riêng, phương pháp riêng. Phan Ngọc đã dọn cho văn hoá học cái mảnh đất riêng ấy: “Văn hoá là quan hệ. Vậy, đối tượng của văn hoá chỉ có thể là mối quan hệ qua lại giữa thế giới biểu tượng và thế giới hiện thực biểu hiện thành những kiểu lựa chọn, biểu hiện thành một độ khúc xạ riêng có mặt ở mọi lĩnh vực”.
Từ chỗ coi quan hệ, chứ không phải yếu tố, là bản chất, Phan Ngọc đã chỉ ra được thực chất của văn hoá Việt Nam là bricolage (lắp ghép). Sáng tạo của Việt Nam là lắp ghép, dung hoá. Thiên nhiên ban cho mỗi dân tộc một thứ ân sủng khác nhau, một kiểu tài năng khác nhau. Người Do Thái là một trong những người chuyên phát minh cái mới, cái trước đó chưa có. Người Nhật có khả năng bắt chước y nguyên, rồi trên cơ sở đó mới sáng tạo lại hoàn hảo hơn. Ðó là sáng tạo trên những sáng tạo của người khác. Còn người Việt Nam thì từ những yếu tố có sẵn, vốn mình hoặc mượn người, cấu trúc lại (có người gọi thêm bớt, ngắt đầu ngắt đuôi…), tức cho chúng có “quan hệ” (đôi khi bất chính) với nhau để tạo thành một sản phẩm khác phù hợp với mình. Từ nhận định trên, có thể hiểu được sở trường và sở đoản, nhất là cơ chế tiếp thu, của văn hoá Việt Nam. Ðiều rất cần không chỉ để tìm hiểu quá khứ vì quá khứ, mà để xây dựng một chiến lược phát triển văn hoá cho tương lai, trong thế kỷ XXI, cái thế kỷ mà người ta cho là vì văn hoá và của văn hoá.
Tôi nghĩ rằng, cùng với việc xác định đối tượng cho văn hoá học một cách chính xác và tài tình theo thao tác luận, sự định danh bản sắc văn hoá Việt Nam của ông bằng khái niệm bricolage cũng chính xác và tài tình không kém. Bởi thế, có người “nói yêu” rằng, Phan Ngọc không phải là người đầu tiên dùng từ này để chỉ bản chất văn hoá Việt Nam, mà là một ông Tây nào đó. Ðiều này cũng có thể, nhưng theo tôi việc đề xuất một khái niệm khoa học không giống như việc ví thiếu nữ với bông hồng. Hơn nữa, Phan Ngọc không chỉ là người lặp lại một cách giản đơn, mà còn cấp cho nó một cơ sở lý luận và thực chứng. Bởi vậy bricolage đã rũ bụi đứng lên trở thành một thứ cây xanh nhả ôxy vào bầu không khí khoa học.
Gần đây, Phan Ngọc khước từ khái niệm bricolage, không phải để trả về cho “chủ cũ”, mà để chuyển sang nhân cách luận. Ông cho rằng, nhân cách luận, nhất là nhân cách luận cách mạng, mới đúng là bản chất của văn hoá Việt Nam. Dùng nhân cách luận như là tinh hoa văn hoá phương Ðông để đối lập với cá nhân luận như là sự suy đồi của văn hoá phương Tây, Phan Ngọc không nói đến cái khác, một giá trị văn hoá học, mà nói đến cái kém hơn, một giá trị chính trị học.
Cá nhân luận là thuyết lấy cá nhân làm trọng trong tương quan với cộng đồng. Ðể xét đoán cá nhân luận, tôi nghĩ, nên hiểu cá nhân là gì. Trước hết, cá nhân khác với cá thể. Cá thể là một đơn vị, một unité. Con người là một cá thể, hạt cát cũng là một cá thể. Nhưng con người lại không phải chỉ là hạt cát. Cá nhân là một trình độ phát triển nào đấy của cá thể. Một phạm trù chất lượng. Cá nhân thức nhận được giá trị của nó ở chỗ nó khác với người khác, cá nhân có tính tự tại trong sự tôn trọng quyền tự tại của người khác. Xã hội muốn phát triển được thì cá nhân phải phát triển, phải tự quyết và không lệ thuộc. Xã hội là một tập hợp những cá nhân tự nguyện tham gia vào một khế ước chung. Như vậy, cá nhân không đối lập với xã hội mà đối lập với cộng đồng, với bầy đàn, với tập thể. Cá nhân cũng khác với những kẻ tự kỷ trung tâm, những kẻ vị ngã, những tên bạo chúa, độc tài tự trương phồng bản ngã của mình ra để lấn át xã hội. Ðó chỉ là những tế bào ung thư của xã hội, những cá nhân phát triển không toàn vẹn, khuyết thiếu nên phải tự bù đắp bằng chiếm hữu, nô dịch người khác và tự nô dịch mình bằng chính cuồng vọng của mình.
Nếu cá nhân là một thể toàn diện thì nhân cách chỉ là mặt xã hội của nó. Người có nhân cách là người làm tròn bổn phận xã hội của mình, người có đóng góp cho xã hội. Người không vượt phận. Từ đó, hình thành khái niệm nhân cách luận, là thuyết lấy cộng đồng làm trọng. Cá nhân phải tự cắt xén mình cho phù hợp với vai trò mà nó đóng. Nhân cách luận tồn tại trong các xã hội ấn Ðộ cổ trung đại, xã hội Nho giáo Trung Hoa, xã hội toàn trị và các xã hội siêu nhà nước hiện đại. Ðó là xã hội, theo nhà xã hội học hiện đại Pháp Louis Dumont đặt lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân, buộc cá nhân phải hi sinh lợi ích của mình cho cộng đồng.
Nhân cách truyền thống Việt Nam, theo Trần Ðình Hượu, là một sự phát triển đặc thù của cá nhân Việt Nam. Trong chế độ nông nghiệp quân chủ Nho giáo, cá nhân không phát triển được nên phải rẽ nhánh. Với tầng lớp sĩ, tức các nhà Nho, sau khi bịt kín các lối đi khác, Nho giáo đã cho phép họ tự thể hiện mình qua hai khung cửa ngỏ là đạo đức và học vấn. Nhờ thế, nhiều người được tự thể hiện mình, trở nên những nhân cách rất cao. Như vậy, nhân cách là một đặc trưng của người Việt Nam, nhưng con người nhân cách đó vẫn chưa phải là con người cá nhân hiện đại. Trong sự nghiệp hiện đại hoá đất nước hiện nay, nhân cách, dù là nhân cách Nho giáo và tiền công nghiệp, vẫn là những giá trị tích cực, nhưng nhân cách luận thì đã là một cản trở.
Không thể lấy sự đối lập giữa nhân cách luận và cá nhân luận làm sự đối lập của văn hoá Ðông Tây. Bởi ở phương Tây cũng có nhân cách luận.Bởi nhân cách luận là một sự phát triển có tính chất lịch sử và đặc biệt của xã hội loài người trên đường đi lên của nó. Tôi nghĩ, để thúc đẩy hiện đại hoá đất nước, cần phải có thêm hai “hoá” nữa là xã hội hoá và cá nhân hoá. Cá nhân hoá để con người trở thành một cá nhân toàn vẹn, có giá trị tự thân, biết tự ý thức, còn xã hội hoá để cho cá nhân hoạt động và phát triển trong sự đồng thuận xã hội. Có như vậy, đất nước mới tạo ra được một sự phát triển hài hoà, ổn định.
Phan Ngọc còn là một dịch giả nổi tiếng với nhiều công trình đồ sộ như: David Copperfield của Dickens, Mỹ học của Hegel, Sử ký của Tư Mã Thiên…Nhưng điều tôi muốn nói ở đây là quan niệm độc đáo của ông khi dịch Ðạo Ðức Kinh của Lão Tử. Ðạo Ðức Kinh tuy chỉ có năm nghìn chữ, nhưng là một văn bản khó. Từ trước đến nay đã có rất nhiều các bản dịch ra tiếng Việt, cũng như ra các thứ tiếng châu Âu. Mỗi một từ, một câu của Ðạo Ðức Kinh đều đòi hỏi phải chú giải. Cũng như khi dịch thơ Ðỗ Phủ, nhà thơ mà ông gọi là dân đen nhưng thực ra thì rất uẩn súc, dịch Ðạo Ðức Kinh, Phan Ngọc cũng có tham vọng để cho người đọc hiểu liền không cần phải chú giải, hoặc hạn chế chú giải ở mức thấp nhất: một cuốn Ðạo Ðức Kinh cho mọi người! Bằng trí thức uyên bác cả Ðông lẫn Tây, bằng sự áp dụng những thành tựu của ngôn ngữ học cấu trúc, bằng việc sử dụng các khái niệm triết học phương Tây vào dịch thuật, Phan Ngọc phần nào đã thực hiện được mục tiêu của ông. Người đọc hiện nay, nhất là bạn đọc trẻ, được dạy dỗ văn hoá phương Tây, tư duy phân tích kiểu Tây nên đọc Ðạo Ðức Kinh của Phan Ngọc dễ vào hơn.
Nhưng ở đây, điều phải suy nghĩ là Ðạo Ðức Kinh là một văn bản đa nghĩa, thậm chí một hệ thống nghĩa nhiều tầng bậc. Bởi vậy, người đang còn ở trình độ thấp thì hiểu được lớp ngoài cùng. Học vấn (và cả trải nghiệm đời sống nữa) càng thăng tiến thì càng hiểu sâu hơn. Ðọc là học và học là đọc là một kiểu giáo dục thâm thuý của phương Ðông. Bởi mục tiêu của nó là nhận thức chân lý nhất nguyên chứ không phải là tích luỹ tri thức biện biệt. Bản dịch của Phan Ngọc chỉ cấp cho ta một nghĩa, nghĩa là theo cách hiểu của chính ông qua con mắt triết học phương Tây, nên đã làm nghèo văn bản, mang tính áp đặt và tước mất khả năng tự hành một cách sáng tạo của người đọc.
Phan Ngọc là một nhà khoa học đồng thời cũng là một nhà tư tưởng trong khoa học. Và có lẽ, ông ham trở thành một nhà tư tưởng hơn. Thậm chí một nhà lập thuyết. Bởi vậy, ông thường đẩy những vấn đề khoa học (đôi khi chưa được nghiên cứu đầy đủ) thành những “thuyết” những “luận”. Tôi không dám chắc một trăm phần trăm để có thể nói rằng “thuyết bricolage” về bản chất của văn hoá Việt Nam là đúng hay sai (tuy đôi khi trong khoa học đúng sai chưa phải là nội dung quan trọng nhất miễn sao nó trở thành một ý niệm động lực, một phản đề kích thích sự nghĩ suy của xã hội). Nhưng tôi cho rằng, ít nhất, thuyết “lắp ghép” rất đúng với cá nhân nhà lập thuyết. Phan Ngọc là người muốn lắp ghép (hay dung hoá) những thành tựu khoa học của phương Tây, triết lý phương Ðông, chủ yếu là Khổng giáo, và chủ nghĩa Mác. Ðiều đó không sai, chỉ sai khi đó chỉ là một mớ hổ lốn, lá vẫn “xanh như lá”, vôi vẫn “bạc như vôi” không “thắm lại” được thành một miếng trầu, một thực thể mới, cao hơn về chất. Mà muốn làm được như vậy thì hình như, không thể dựa dẫm vào một hệ thống cũ nào, mà phải xây một hệ thống mới, một chủ nghĩa nhân văn mới.
Thấy tư tưởng của Phan Ngọc đôi khi không nhất quán, có những yếu tố thuộc về hệ thống của ông, nhưng cũng có nhiều yếu tố ngoài hệ thống lẫn vào, có yếu tố hiện đại, nhưng cũng không ít yếu tố bảo thủ nên có lần tôi đã hỏi. Ông nói đấy chỉ là vấn đề sách lược. Ông vốn ăn nói khó nghe, tư tưởng lại quái đản, nếu chỉ tung ra toàn những lời khó nghe cả thì ai nghe, sẽ mất cả chì lẫn chài. Ông đành phải bọc đường viên thuốc đắng. Hoá ra, Phan Ngọc không chỉ là chuyên gia về “mẹo dịch”. Dù sao, với một nhà khoa học, tôi nghĩ, không cần thiết những ứng xử mẹo như vậy. Biết đâu người uống thuốc cứ làm ra vẻ bị lừa, mà thực ra thì họ biết tỏng tính chất vô hại của những viên thuốc đắng chưa đủ liều. Hơn nữa, nhà khoa học là kẻ hướng tới mọi người chứ không phải hướng thượng. Còn nhà tư tưởng, nhất là tư tưởng ứng dụng, thì lại là chuyện khác. Bởi vậy, cho đến nay, tôi vẫn thấy đỉnh cao của Phan Ngọc là cuốn Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều và Văn hoá Việt Nam – một cách tiếp cận mới (bản in lần đầu). Nghĩa là, nhà khoa học Phan Ngọc thành công hơn.
Tuy nhiên, sách của Phan Ngọc hiện nay đang thuộc loại bán chạy. Ðây là một tín hiệu mừng, chứng tỏ nếu không phải dân trí mình đang lên thì cũng là một dấu hiệu chuyển hướng. Sau những thông tin sơ cấp người ta đòi hỏi những thông tin thứ cấp. Sau tiểu thuyết Mỹ với tính chất thư giãn, người ta đã chú ý hơn đến những vấn đề thực tiễn căng thẳng của đất nước. Phan Ngọc là một trong những người biết kích cầu để sau đó lại là người cung ứng nhanh nhạy. Từ nghiên cứu lý luận ông đã đi đến những “tham mưu” cụ thể. Trải rộng mình ra trên tất cả các mặt trận, ông đã để lơi dần các chốt, những chuyên môn sâu của ông, chẳng hạn như phong cách học. Từ chuyên gia của một lĩnh vực trở thành chuyên gia của nhiều lĩnh vực, tôi sợ rằng đến một lúc nào đó liệu ông có trở thành một nhà đại cương học được gọi dưới cái tên mỹ miều là nhà văn hoá hay không. Có thể đây là xu hướng của thời cuộc, hay nói theo một sáo ngữ quen thuộc là mặt trái của nền kinh tế thị trường. Cái mỹ hiệu nhà văn hoá, hoặc nhà hoạt động văn hoá thì với ai đó cũng đã là danh giá lắm rồi, nhưng không phải với Phan Ngọc. Bởi, tác giả Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều thì chỉ có một, còn nhà văn hoá sản xuất mỗi tuổi một cuốn thì hẳn có thể lấy xe để chở, lấy đấu để đong. Tôi nghĩ, Phan Ngọc vốn không phải là người vọng động, trí nhàn mà tâm lại chẳng nhàn.
Phan Ngọc là người rất cực đoan, tuy không phải là người tự kỷ trung tâm. Trong học thuật ông thường cứ nói chắc như đinh đóng cột. Không thấy đâu một chút hoài nghi khoa học, nhất là trong cái thời buổi huy hoàng của thuyết tập mờ, thuyết bất định này. Ví như, bản sắc văn hoá Việt Nam (lần định nghĩa gần đây nhất) là tổ quốc, gia đình, thân phận, và diện mạo, người Việt Nam là người tổ quốc luận, văn hoá làng xã là tinh hoa của văn hoá dân tộc, trong văn học chỉ có ảnh hưởng đồng thời. Tự lực văn đoàn là gidien từ đầu đến chân, hoặc các nhà thơ Ðường thì làm thơ bao giờ cũng làm câu cuối trước….
Có lẽ, sự cực đoan trong khoa học là cần thiết. Nhưng đó phải là sự đi đến tận cùng một luận điểm, một vấn đề. Ðiều này có thể tạo ra những nhược điểm, thậm chí những sai lầm, nhưng là một thứ sai lầm khoa học gõ mạnh vào đầu óc ưa nằm dài của bạn đọc, kích thích sự suy nghĩ đã trở nên cùn mòn, khai khẩn những tiếng nói đối thoại. Dám thử và dám sai còn ngàn lần tốt hơn những người sợ sai không dám thử. Cái sai hôm nay sẽ là điều kiện, là tiền đề cho cái đúng hôm mai. Lịch sử khoa học chẳng phải là một hành trình đi từ cái sai này đến cái sai khác hợp lý hơn đó hay sao? Vốn xuất thân là nhà khoa học “ngoài lề” tôi mong rằng trên chính đạo này, Phan Ngọc không ngoài lề.
(Hà Nội, 2000)