trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
14.1.2006
Jacques Arnould
Phải dám yêu, dám để cho yêu và có thể, khám phá ra sự hiện hữu của Thiên Chúa
 
Ông Jacques Arnould

Người có đức tin – cũng như là người của khoa học – phải chăng sẽ không xáo động trước hàng loạt những thiên tai xảy đến trong năm nay? Làm sao còn có thể tiếp tục tin được rằng một Thiên Chúa của tình yêu đã sinh ra, cách nay lâu lắm rồi, vào ngày Noël?

Chính con người như một con người sẽ bị rúng động. Con người, với tư cách linh mục, đã phải chủ sự đám táng cho ba cậu bé, ba anh em ruột, bị sóng thần cuốn trôi khi đang chơi đùa trên bãi biển và xác của các em được tìm thấy vào cuối tháng 12 năm 2004, vào tháng tư và tháng sáu. Tôi có thể gây sốc cho quý vị, nhưng tôi không vì thảm hoạ này mà đặt lại vấn đề về đức tin của tôi vào Thiên Chúa, vốn dĩ đã mỏng manh, hạn hẹp, khập khiễng. Tôi liên tưởng đến triết gia Hans Jonas (1903-1993), người đã tự vấn rằng làm sao còn có thể nói về Chúa sau Auschwitz và đến phiên tôi, tôi tự hỏi: làm sao còn tin vào Chúa sau cơn sóng thần? Trước sự kiện không thể hiểu nổi, không thể chịu đựng được như vậy, làm sao tôi còn có thể xướng lên được nữa những từ ngữ ai cũng biết ai cũng rõ về sự toàn năng, về sự tốt lành và ngay cả về sự tạo dựng của Chúa?

Chúng ta không được tự chế giễu. Những thảm họa tương tự kéo chúng ta ra khỏi vòng kiềm toả của lý trí và đẩy chúng ta vào vùng luân chuyển giữa sự khép kín trong cơn điên rồ hay sự rộng mở hướng về hy vọng. Khi tôi chứng kiến lòng can đảm của những người đã mất mát rất nhiều trong cơn sóng thần, tôi biết rằng có thể chọn lựa hy vọng, để bám víu vào đó và ngay cả để tái thiết cuộc đời. Dĩ nhiên, điều ấy cũng chưa đủ: người giữ được niềm hy vọng chỉ chờ đợi được thoát khỏi cảnh khốn quẫn – và như thế đã tuyệt lắm rồi!

Ai chọn lựa hy vọng sẽ can đảm theo đuổi con đường của mình. Cần nhớ rằng truyền thống Ki-tô giáo kết hợp hy vọng, tình yêu và đức tin: con đường của hy vọng được “lát” bằng sự quan tâm lẫn nhau, bằng hoà giải, bằng lòng đồng cảm. Còn phải dám yêu, dám để cho yêu và có thể, khám phá ra sự hiện hữu của Thiên Chúa. Dù không biết phải diễn tả thế nào…

“Nói” về Chúa sau trận sóng thần thì khó. Và nói về Chúa sau… Noël, một sự kiện mà khoa học góp công góp sức hàng ngày để giải huyền nó ngày càng rõ hơn?

Các văn bản của Sáng thế ký [1] không còn được đọc như một câu chuyện hoàn toàn mang tính lịch sử hay khoa học nữa. Chúng tôi thích nói rằng đó là một huyền thoại. Tôi không phủ nhận chiều kích huyền thoại của câu chuyện về sự tạo dựng thế giới trong bảy ngày hay sự xuất hiện của Adam và Eve, nhưng cần phải đặt lại những giới hạn cho thể loại văn học này: trước tiên, câu chuyện luôn chứa đựng một lời giải thích, một thông điệp; tiếp đến, nó không loại bỏ toàn bộ những quy chiếu mang tính lịch sử. Nhân loại không phát xuất từ ông Adam và bà Eve. Vì thế, nhân loại đã bắt đầu từ một ngày! Tương tự đối với Chúa Giê-su, ngày 25 tháng chạp hoàn toàn không liên quan gì đến sổ hộ tịch, nhưng Giê-su đã được sinh ra vào một ngày nào đó và ở một nơi nào đó. Giê-su, đối với Ki-tô hữu, không phải là một huyền thoại.

Trong mối tương quan mà chúng ta, những Ki-tô hữu, duy trì với lịch sử, tôi có ấn tượng mạnh bởi vị trí mà ý tưởng về sự khởi đầu chiếm giữ. Cha Teilhard de Chardin, người mà chúng ta kỷ niệm ngày giỗ năm mươi năm trong năm nay, nói rằng: “Tất cả mọi sự khởi đầu đều vượt khỏi chúng ta”.

Chính xác là vậy. Đã có “con người đầu tiên”, nhưng tôi sẽ không bao giờ biết hắn là ai, lẫn vào lúc nào hắn ta xuất hiện… Chắc vì lý do đơn giản này mà định nghĩa về con người có thể thay đổi chăng! Thomas d’Aquin cũng đã phát biểu như thế về vũ trụ: hình như có một khoảnh khắc vô tận, nhưng, đối với người có đức tin, thì đã có một sự khởi đầu vì nó được Thiên Chúa tạo dựng.

Sự thấm nhập của đức tin không làm cho chúng ta sợ hãi. Nếu những sự khởi đầu vượt thoát khỏi chúng ta, chúng ta nhất thiết phải đặt niềm tin vào một sự việc khác để có thể phát biểu điều gì đó về nó. Chúng ta biết gì về sự sinh ra của chính chúng ta, nếu không phải là do cha mẹ chúng ta kể lại? Như thế, nói về sự giáng sinh ra của Chúa Cứu Thế vào ngày Noël, cũng tương tự: đối với người Ki-tô hữu, sự ra đời này mang tính lịch sử và không thể nắm bắt ngay khi kể, mà nên đón tiếp, chấp nhận trong đức tin. Cũng chẳng có bằng cớ nào để nắm bắt, nhưng là một mầu nhiệm để chiêm ngắm.

Chúng ta chỉ là những cư dân của một dải thiên hà nào đó mà ta cũng chẳng biết rằng ở đó có tồn tại hay không những sự sống khác. Làm thế nào để những nghiên cứu của ông, một nhà vật lý thiên văn, có thể dung hoà với việc suy gẫm về nguồn gốc vũ trụ trong Sáng Thế Ký của một tu sĩ?

Chúng ta bước đi trên những con đường mòn đã được cắm cọc tiêu chí của nền văn hoá khoa học hiện đại! Quý vị nói với tôi về sự không tương thích của Thánh Kinh, nhưng quý vị có biết rằng một trong những nhận thức về khả năng có tồn tại sự sống ngoài trái đất thuộc về Etienne Tempier, giám mục Paris năm 1277? Trong bản kết án của ngài về những luận đề theo triết học Aristote mà những nhà thần học thời đó bảo vệ, Thomas d’Aquin chẳng hạn, ngài đã khẳng định rằng người ta không thể giảm thiểu sự tạo dựng vào một thế giới duy nhất có sự sống, Trái đất. Làm sao lại dám giới hạn sự tạo dựng toàn năng của Chúa! Cũng đừng quên rằng vào cuối thế kỷ XIX, mặt trăng hay sao hoả vẫn còn được chấp nhận là nơi có người ở và ta có thể dễ dàng bắt nhịp cầu liên lạc với họ!

Cái nhìn về vũ trụ do khoa học đem lại đã làm đảo lộn những suy tư của chúng ta, thường được thừa hưởng từ nền văn hoá tôn giáo. Thử thư thái đọc Thánh Vịnh số 8: “Ngắm tầng trời tay Chúa sáng tạo, muôn trăng sao Chúa đã an bài, thì con người là chi mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì mà Chúa phải bận tâm?” [2] Đúng vậy, chúng ta chỉ là hạt bụi của các vì sao, như Hubert Reeves [3] đã nói như thế. Nhưng Thánh Vịnh lại tiếp “Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy, ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên.”

Sự vĩ đại của con người, gần như Prométhée [4] . Trong mắt tôi, Thánh Vịnh này là bài ca của thiên văn lý học hiện đại: Nó nói đến vị trí khiêm tốn mà con người chiếm ngụ trong lòng vũ trụ, mà những hình ảnh do viễn vọng kính mang về không ngừng minh họa điều đó. Nhưng nó cũng nói đến tài năng không thể tưởng được của con người, khả năng tưởng tượng và thiết lập những cỗ máy nhằm quan sát hoàn vũ bao la này. Chính điều này làm chúng ta vừa khiêm tốn vừa tự hào. Tôi là một sinh vật lạ kỳ, đơn nhất, nhưng xung quanh tôi cũng còn có những sinh vật kỳ lạ và đơn nhất khác, mà bên họ, tôi sống và tôi trưởng thành.

Ít là, làm sao còn có thể tin vào câu chuyện ông Adam và bà Eve, trong khi khoa học bảo với tôi rằng Neandertal là con người, rằng ít ra cũng đã có từ ba đến bốn chủng loại người xuất hiện trước khi Homo sapien và con người như chúng ta được biết đến như hiện nay?

Đừng nói về chuyện tin vào nghiã đen của câu chuyện cổ tích Adam và Eve, cũng đừng nói đến chuyện tin vào thuyết Darwin! Giáo hội công giáo, từ ít là năm mươi năm nay, đã mời gọi đọc Kinh Thánh theo cách khác, soi chiếu cách đọc này bằng sự góp phần của truyền thống, từ các Giáo Phụ [5] cho đến những công trình mới nhất.

Quý vị đề cập đến khám phá đáng kinh ngạc mà các nhà cổ sinh vật học đã thực hiện: có thể đã có nhiều nhóm Homo sapiens và Neandertal cùng tồn tại và chung sống với nhau nhưng lại không thể lai tạo giữa họ với nhau được. Ðó là những chủng loài khác nhau, nhưng đều mang tính người!

Như vậy Thánh Kinh kể cho chúng ta chuyện gì, nếu không phải là sự nhìn nhận của Adam rằng người đứng trước hắn mà không phải là… hắn, nhưng là người khác, người mà hắn sắp trở thành bạn đồng hành. Tôi không tự hỏi rằng Adam và Eve có tồn tại hay không, cũng không tự hỏi có thể đã có nhiều Adam và Eve hay không.

Đó không phải là tiêu điểm của bản văn Thánh Kinh. Đúng hơn nó khẳng định sự tạo dựng của Thiên Chúa và trong lịch sử nhân loại mà tôi thuộc về. Con người không phải rơi từ trời xuống, một dạng thần linh bị truất phế. Nó là một “sản phẩm” được nặn ra từ đất, phải đối diện với khổ đau, với cái chết, với điều ác, với tội lỗi…

Tin vào tội tổ tông có còn cần thiết cho đức tin người Ki-tô hữu?

Nếu quý vị loại bỏ khỏi đức tin cỗ máy thần thoại của quả táo và con rắn biết nói, quý vị đang ở tâm điểm của thông điệp Phúc âm! Thánh tông đồ Phaolô đã cậy đến câu chuyện này để khẳng định rằng con người, chìm đắm trong tội lỗi như toàn nhân loại, có thể được cứu thoát. Đó không phải không đáng kể. Tôi nghĩ đến những lời về thánh thể: linh mục khẳng định rằng bánh và rượu, đã trở thành mình và máu của đấng Ki-tô đối với những người tín hữu, không giành cho một người ưu tú, cho các thánh và những người được tuyển chọn, nhưng lại được ban cho tất cả mọi người mà trước tiên là những người tội lỗi!

Con người hiện đại có vẻ ưa thích thông điệp của bậc “thông thái” như Giêsu và bỏ qua những tín điều bao quanh ngài về thần tính, về tội lỗi…

Như những chân dung tôn giáo khác, mà còn vượt trội lên trong số đó nữa, Giêsu lôi cuốn con người ngày hôm nay. Sự khôn ngoan thông thái của ngài, giọng tiên tri của ngài ảnh hưởng đến những ai đang tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đời họ. Rời bỏ để lánh xa mọi tiêu chí tôn giáo, để tự tuyên xưng mình không có đức tin. Tôi chỉ có thể tôn trọng sự chọn lựa này.

Vì lẽ này, tôi thường gặp những người phải đối diện với những khủng hoảng trầm trọng, với sự đau khổ, với cái chết. Khoa học không cho họ bất cứ giải pháp nào, cũng chẳng hơn gì so với sự khôn ngoan của con người. Như thế có thể đặt câu hỏi về Chúa… Chưa nói đến việc thờ phượng, tín ngưỡng, tôn giáo, tín điều, mà chỉ nói về Đấng khác, huyền diệu, khó có thể nói được (tôi sẽ trở lại…). Lúc này đây, các truyền thống tôn giáo, hệ thống tín ngưỡng đem lại điều gì. Ðó chỉ là trụ đỡ, hoặc đôi nạng để con người đi tìm Ai đó, ẩn khuất phiá bên kia con người.

Như vậy người Ki-tô hữu có nên sợ thuyết tiến hóa không?

Câu trả lời của tôi là không! Mối quan tâm của tôi đối với những câu hỏi xoay quanh khoa học và đức tin được ghi dấu từ khi tôi đọc cuốn sách của Jacques Monod, “Le Hasard et la Nécessité» («Tình cờ và Tất yếu”). Ông đã kết luận như thế này trong cuốn sách: “Giao ước cũ bị bãi bỏ; con người cuối cùng biết được rằng hắn cô độc giữa cõi bao la lạnh lùng của vũ trụ mà từ đó hắn đã tình cờ trồi hiện. Chẳng ai lo cho số phận của hắn, cũng chẳng ai hoạch định sẵn nghĩa vụ của hắn cả. Tự hắn chọn lựa giữa Thiên đàng và Cõi tối.”

Đó là thách thức do khoa học đặt ra: chọn lựa giữa Thiên đàng và Cõi tối, khi biết rằng tất cả không được định nghĩa theo cùng cách thức. Chúng ta ngày càng biết nhiều hơn về vũ trụ này, sự sống hay chính chúng ta. Nhưng câu hỏi vẫn luôn là một: đâu là chọn lựa mà chúng ta thực hiện, đâu là ý nghĩa mà chúng ta giành cho cuộc đời? Người Ki-tô hữu, như vậy, dám nhìn bằng đôi mắt của một đứa trẻ…

Jacques Arnould, tu sĩ Dòng Đa Minh, 44 tuổi, đặc trách các vấn đề luân lý tại Trung tâm nghiên cứu không gian quốc gia của Pháp (Centre national d’études spatiales)

Bản tiếng Việt © 2006 talawas


[1]Sáng thế ký, cuốn sách đầu tiên trong bộ Thánh Kinh, và Thánh Vịnh cũng thuộc bộ sách này. (ND)
[2]Theo bản dịch của Nhóm các giờ kinh phụng vụ, nxb TP HCM, 1999 (ND)
[3]Hubert Reeves (1932-) nhà vật lý thiên văn người Canada. Chuyên gia về vật lý thiên văn nguyên tử và vũ trụ. Ông có công đóng góp rất lớn trong việc phổ biến các kiến thức về thiên văn. (theo Petit Larousse).
[4]Prométhée: nhân vật thần thoại Hy Lạp đã đánh cắp lửa trời cho con người. (ND)
[5]Giáo Phụ (Fathers of the Church, Père de l’Église): danh từ chuyên môn chỉ các tác giả Ki-tô giáo ở thời Cổ Đại (khoảng từ thế kỷ II-VII) mà các tác phẩm của họ góp phần rất lớn trong việc bảo vệ, gìn giữ và phát triển đức tin Ki-tô giáo. Chính họ đã xây dựng nên những Truyền thống duy trì cho đến nay nơi các Giáo hội Đông phương (Orient) và Tây phương (Occident).

 
© talawas 2026