trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
17.3.2005
Nguyên Nguyên
Phải chăng người Việt cổ đã biết tiếng Anh: I = Ai = Tôi?
 

Xin thử để ý đến hai câu đàm thoại sau:

A hỏi B: “Cậu có biết ai đã gửi bó hoa thật đẹp cho tôi hôm nay không?”

B đáp: “Ai biết đâu.”

Ở câu A hỏi B, ai mang nghĩa “who” tiếng Anh. Một đại danh từ dùng chỉ ngôi thứ ba, tức một người nào đó, còn là một ẩn số, thường không phải hai người đang đối thoại với nhau. Không phải A, và rất có thể cũng không phải B.

Nhưng ở câu đáp của B (“Ai biết đâu”), ai có thể mang một lúc hai ý nghĩa. Thứ nhất, ai có nghĩa ‘tôi vàhoặc một vài người thân thuộc chung quanh’. “Ai biết đâu” = ‘Không ai ở đây biết hết’. Và thứ hai, có thể chỉ đơn thuần: ‘tôi’. “Ai biết đâu” = ‘Tôi đâu có biết’. Tức ngay trong tiếng Việt, ai cũng có thể mang nghĩa ‘tôi’, theo lối đối đáp tiêu biểu: “Ai biết đâu” của B. Tức, tiếng Việt có thể có: ai = tôi, mang phát âm y hệt như từ chỉ ‘tôi’ của Anh ngữ: I.

Sau đây chúng ta thử chứng minh trong tiếng Việt cổ ai chính là một dạng của đại danh từ chỉ ngôi thứ nhất, chỉ: ‘tôi’.

‘Tôi’ trong các ngôn ngữ chung quanh

Người Miến Điện gọi ‘tôi’ bằng tjano cũng khá gần với tôi, hay ta.

Người Hoa theo tiếng phổ thông phát âm ‘tôi’ như wo. Quảng Đông biến thành ngộ. Triều Châu và Phúc Kiến, tức người Mân Việt thời xa xưa, biến âm thành wa. Wa sinh ra nhiều biến thể:

  • Ở nước Nam thời cổ nó giữ y nguyên: wa. Người Mường hiện còn giữ lối phát âm wa dùng chỉ ‘tôi’. Người Việt di dân vào phía Nam ở thời các chúa Nguyễn, vẫn giữ lối phát âm đó. Nhưng bị quốc ngữ trờ tới biến âm thành qua.
  • Quốc ngữ cũng ký âm lệch lạc wa sang thứ tiếng thường gọi Hán-Việt, thành ngã cũng chỉ ‘tôi’.
  • Âm wa (hay gua) Phúc Kiến cũng di tản sang Nhật, trở thành watashi = tôi. Trong watashi để ý có âm wa và âm ta.
  • Người Chiết Giang, tức hậu duệ dân U Việt của Câu Tiễn xa xưa, gọi ‘tôi’ bằng ano. Ano có vẻ giống wa bị lột đi w, và cũng có liên hệ âm vận với … ai.
  • Người Thượng Hải (Shanghai) lại mang ảnh hưởng Quảng Đông, xưng tôi bằng ngoh. Tuy nhiên ai cũng còn vết tích ở từ dùng để chỉ ‘chúng tôi’: a-la.
  • Người Sơn Đông gọi ‘tôi’ bằng ngan có thể biến chuyển với an.
  • Người Hẹ, tức Hakka hay Khách Gia, đặc biệt dùng ngai để chỉ ‘tôi’.

Theo Henri Roux (14), người dân tộc Tsa (Kha) Khmu (người Khờ Mú), ở thượng du Tây Bắc xưng tôi bằng Ô một nguyên âm khá gần ai, và ‘anh’, ‘cô’, ‘ông’, ‘bà’ (tức ‘you’) bằng , rất gần với mimầy tiếng Việt. Người P’u-Noi, có gốc Miến-Điện (Myanmar), xưng ‘tôi’ bằng hay găn và ‘you’ (‘vous’) bằng no, rất giống tiếng Thượng Hải: nong. Nonong có thể đã bị tiếng Việt rời sang ngôi thứ 3: . Người A-Kha hay Kha Kô, ở biên giới Việt Lào, gọi ‘tôi’ như nga hay ngan, giống ngãwa (Mường Phúc Kiến). ‘You’ (anhchị) cũng là no như P’u-Noi.

Theo trích dẫn trong quyển Mã Lai của Bình Nguyên Lộc [1]:

  • Tiếng dùng chỉ ‘tôi’ của người Mạ tại vùng cao nguyên Trung Bộ: ai

  • ‘Tôi’ trong ngôn ngữ người Khả Lá Vàng, tức một thứ người dân tộc ở biên giới Việt-Lào nói một thứ tiếng Việt tối cổ, cũng là: ai

  • ‘Tôi’ trong ngôn ngữ Mã Lai đợt 2, tức giống Austronesian Nam đảo, chính là ‘Kita’, mang âm ‘ta’ giống như ‘ta’ của tiếng nước ta.



Tra một quyển từ điển Anh-Mã Lai [2], chúng ta sẽ thấy, các từ chỉ ‘tôi’ ở tiếng Mã Lai hiện đại là: Aku, saya, hamba, patik. Để ý đến aku, có vẻ rất gần với ai, trong các tiếng Khả Lá Vàng và Mạ. Aku cũng lại rất giống với ako cũng chỉ ‘tôi’ trong tiếng Tagalog của người Phi-luật-Tân.

Những tiếng các dân tộc khác có từ chỉ ‘tôi’ mang âm gần giống với ai (theo [3]):

  • Tiếng Bồ Đào Nha (Portuguese): Eu (đọc ê-u-u)
  • Ấn Độ Hindi: mai
  • Lào: kôi. Tuy không giống ai nhưng lại giống tôi, trong âm vận.
  • Fiji (đảo gần Tân Tây Lan): au
  • Tahiti: au



Do đó có rất nhiều dân tộc khác nhau ở miền Nam Á thường xưng hô ‘tôi’ với nhau bằng những từ có âm gần giống hay bà con thật gần với ai. Đặc biệt nhất, người Mạ ở phía Nam, và người Khả phía Bắc dùng thẳng ai để chỉ ‘tôi’. Xuất xứ của ai có vẻ từ tiếng Mã Lai, như còn dùng hiện nay: aku, rất gần với ako của Phi Luật Tân.

Tuy nhiên ta cần thêm một hai dẫn chứng sau đây mới có thể đi đến một kết luận chung cuộc: người Việt thời cổ đại cũng biết tiếng Anh như ai, họ đã xưng ‘tôi’ bằng I của tiếng Anh, phát âm ai, cũng như ai. Giống y hệt người Anh người Mỹ người Úc người Gia Nã Đại người Tân Tây Lan,…, khi họ xưng tôi bằng tiếng Anh: I. Dẫn chứng này dựa trên một số quan sát bỏ túi về một hai tính đặc trưng của ngôn ngữ người Mường, người Quảng Đông, và người Hẹ, tức Hakka, hay Khách gia.

Biến chuyển qua lại giữa Âu và Ngâu (Ngu)

Những ai hâm mộ truyện chưởng của Kim Dung đều nhớ đến một nhân vật lợi hại thuộc hàng Võ Lâm Ngũ Bá, tên Âu Dương Phong biệt hiệu Tây Độc. Tây Độc xuất xứ từ Bạch Đà Sơn ở miền Tây Vực. Tức mang mạng Kim, phiá Tây, màu trắng, theo thuyết Ngũ Hành. Phát âm tên của Tây Độc theo quan thoại là Ou Yang Feng và theo tiếng Quảng Đông hay Hongkong có thể là Ou Yeung Fong. Hoặc cũng có thể là Ngu Yeung Fong.

Âu Dương hay Ngâu Dương. Tức, âm Ou tức Âu – quốc ngữ, có biến chuyển qua lại với Ngâu hay Ngu.

Một điểm quan trọng liên hệ đến nhiều vấn đề cổ sử Việt, đặc biệt biến chuyển từ Âu sang Ngu, có thể tìm thấy trong quyển sách về người Mường của Cuisinier [5]. Đó chính là truyện tích Mường, tương đương với truyền thuyết Việt về tình vợ chồng giữa bà Âu Cơ với Lạc Long Quân, song thân của Hùng Vương. Theo truyện cổ Mường, một người con gái Mường có tên là Ngu Kơ lấy một hoàng tử con vua Yịt (Việt) mang tên Long Wang. Sau đó bà Ngu Kơ đẻ ra một cái trứng nở thành 50 con trai và 50 con gái. Và rồi cơm không lành canh chẳng ngọt, Ngu Kơ và Long Wang phải chia tay, đôi ngả đôi ta. Long Wang vốn loài cá nên mang phân nửa số con ra cửa sông. Còn bà Ngu Kơ, vốn gốc loài nai có hoa hình ngôi sao (cerf solaire), dẫn con lên rừng và trở thành nữ hoàng ở chốn đó. Dân Mường kính mến bà Ngu Kơ nên ưa lập đền thờ hoặc làm cờ có hình con nai có hoa hình sao, để thờ tụng bà.

Truyện cổ này rất giống truyền tích Việt về bà Âu Cơ và thái tử Sùng Lãm, tức Lạc Long Quân. Âu Cơ, người Mường đọc thành Ngu Kơ. Theo sát với quy lệ biến âm qua lại giữa ÂuNgu. Với một ít trực giác, ta có thể thấy rằng nếu giải thích được tại sao ngài Mường phát âm Âu Cơ thành Ngu Kơ, sẽ giải đáp được một số gút mắt rất quan trọng trong cổ sử Việt. Trong đó có việc tìm hiểu phải chăng người Việt ở thời cổ đại xưng ‘tôi’ với nhau bằng ai giống y như người nói tiếng Anh.

Trước hết, người Mường là ai? Đại khái, họ là khối người dân tộc lớn nhất nhì, sau người Kinh. Ngôn ngữ của họ được xếp chung với tiếng Việt thành nhóm Việt-Mường thuộc khối ngôn ngữ Nam-Á (Austroasiatic). Nhiều thuyết cho rằng ngày trước họ vẫn chung sống với người Kinh, nhưng không chịu được ách đô hộ của người Tàu ở Bắc phương, nên bỏ lui về miền rừng núi. Có nhiều nhà lãnh đạo nước Nam có gốc gác người Mường, như Lê Lị (tức Lê Lợi [6]), như Đinh Bộ Lĩnh,… Về chủng tộc, muốn cho gọn và chắc ăn, ta có thể xếp họ vào một chủng nào đó trong khối Bách Việt ở thời cổ đại xa xưa. Có thể có bà con rất gần với nhóm Lạc Việt, nhóm người Việt nguyên thủy [7].

Trở lại với lối gọi Âu Cơ như Ngu Kơ của người Mường. Tạm chấp nhận người Mường mang gốc một trong nhiều chủng của khối Bách Việt ở miền Hoa Nam nước Tàu. Tra cứu một quyển từ điển tiếng Quảng Đông [4], ta sẽ thấy nguyên âm trong ngữ ngôn người Quảng ưa biến chuyển qua lại với âm bắt đầu bằng ng. Xin liệt kê tiêu biểu:

ăi (yêu thương) => ngai. Tức ăi cũng có thể phát âm như ngai theo tiếng Quảng Đông

an (tôi, chúng tôi) => ngan* => Biến chuyển qua lại phát âm chỉ ‘tôi’: an <=> ngan

an => ngan: phát âm người Quảng Đông nhại người Sơn Đông

oi (ngoài, phía ngoài) => ngoi (ngoi mang nghĩa: ‘ngoài’, có thể phát âm như oi)

ou (Âu châu) => ngâu (Âu Cơ => Ngâu Cơ hay Ngu Kơ)

ou (lão bà) => ngou (ou <=> ngou – phát âm hoán chuyển nhau)

o (ngộ độc, bệnh) => ngo

oh (ngu xuẩn) => ngoh (đặc biệt: ngo = ngu, ngoh xuất hiện từ Mã Lai, lên Phúc Kiến, sang Thái Lan và Việt Nam [13]. Người Hoa ưa dùng ‘ch’un xun’ hơn, tức: xuẩn)

ap (vịt) => ngap (vịt quay: xíu ngap). Tiếng Hán quốc ngữ: vịt = áp. Rất có thể xưa: ngap.

on (an ổn) => ngon

ug (ốc: nhà) => ngug

ung (ung choy: rau muống) => ngung

Biến chuyển giữa các âm bắt đầu bằng ng với âm tự bị lột mất ng đi, của tiếng Quảng Đông cho thấy, người Mường có thể có liên hệ chủng tộc rất gần với người Quảng Đông. Và cũng cho thấy biến âm từ Âu Cơ trong tiếng người nước Nam sang qua Ngu Kơ ở tiếng Mường, có thể xem như phản ánh biến chuyển qua lại, giữa từ ‘nguyên âm’ với từ có âm đầu ng, trong tiếng Quảng Đông. Đối với các thứ tiếng không dùng các mẫu tự (như a-b-c) ghép lại với nhau, một từ có hai ba cách phát âm hơi khác nhau vẫn thường xảy ra. Thí dụ: người Quảng Đông, người Hẹ, … thường có hai cách phát âm cho âm n. Nam được phát âm: hoặc nam hoặc lam. Hoặc như trong tiếng Việt, thời Nôm: làm lụng được phát âm như nàm nụng. Rất bình thường (xem [12]).

Người Quảng Đông là ai? Thoạt tiên họ chính là một trong nhiều chủng thuộc khối Bách Việt ở thời Xuân Thu Chiến Quốc xa xưa. Khối Bách Việt là một khối chủng tộc thuở ban đầu khác hẳn với Hoa chủng. Bách Việt ở phía Nam sông Dương Tử thường gọi Hoa Nam hay Giang Nam. Trong khi văn minh Hoa Hạ của người Hoa nguyên thủy ló dạng tại lưu vực sông Hoàng Hà, nằm song song về phía Bắc của sông Dương Tử. Hoa chủng có nguồn gốc của chủng Mông Gô Lích, ở phía Tây-Bắc nước Tàu. Người Hoa từ xưa ưa gọi những chủng dân khác với họ bằng những từ miệt thị, tóm tắt là ‘rợ’ hay ‘man di’ [7]. Đông Di, tức một số bộ lạc sinh sống ở nước Tề ngày xưa, ở phía Đông. Tây Nhung, phía Tây. Bắc Địch ở phía Bắc. Và Nam Man ở phía Nam. Nam man cũng có thể đồng nghĩa với khối Bách Việt. Mặc dù rằng rất nhiều nước có chủng Việt cũng sinh sống phía Bắc Dương Tử, như số lớn cư dân nước Sở lúc ban đầu, dân nước Tề (tỉnh Sơn Đông ngày nay), và đặc biệt hai nước Ngô và Việt (nằm ngay sát phía Nam sông Dương Tử) [8].

Khối Bách Việt thường được gọi tắt Yueh (Việt) hay Lạc bao gồm nhiều chủng giống nhau, và là tiền thân của đông đảo các khối dân tộc vùng Đông Nam Á ngày nay. Thông thường, ngôn ngữ ngày nay của dân Đông Nam Á được gộp chung vào nhóm Nam-Á, tức Austro-asiatic. Trong khối Bách Việt cũng có nhiều chi, với chừng 4 chi lớn [1]. Hai chi lớn nhất mang tên: chi Âu và chi Lạc. Tuy vậy Lạc và Việt vẫn thường xuyên bị gọi lẫn lộn với nhau. Cũng như Âu với Việt.

Đại khái:

  • Chi Âu là tiền thân dân Thái – tức Thái Lan ngày nay. Bao gồm: Ba-Thục (tức khu Tứ Xuyên ngày nay), Điền Việt (tức Nam Chiếu, rồi Đại Lý – của Đoàn Dự, và sau cùng Vân Nam), Đông Âu (phía bắc Phúc Kiến), và lớn nhất là Tây Âu (chiếm địa bàn Quảng Đông-Quảng Tây và Quí Châu ngày nay [17]), cùng một số đông các nước nho nhỏ khác.
  • Chi Lạc gồm có: Ngô, Mân Việt (tức Phúc Kiến ngày nay), phần phía Nam của Nam Việt (tức Giao Châu), và nổi tiếng nhất chính là nước U Việt của Câu Tiễn đã từng dứt điểm nước Ngô, v.v.

Như vậy trước khi bị nhà Hán xâm chiếm, khu vực phía Bắc Nam Việt chạy dọc đến gần Điền Việt, chính là địa bàn nước Tây Âu. Tây Âu xa xưa chính là Lưỡng Quảng ngày nay cộng với tỉnh Quí Châu, gốc Thái. Người Quảng Đông chính là người Tây Âu thời xa xưa, mang chủng Thái, đã hoàn toàn đồng hoá theo Hán tộc [9]. Tên nước Âu Lạc, có nhiều khả năng, mang ý nghĩa một cuộc nhất thống giữa chủng Âu, đa số là binh lính của Thục Phán, với chủng Lạc sinh sống tại nước Văn Lang – khi Thục Phán An Dương Vương đánh chiếm Văn Lang, vào năm 258 trước Công Nguyên. Biến chuyển chính trị này rất phù hợp với truyền thuyết về hôn nhân giữa bà Âu Cơ (họ Âu) với Lạc Long Quân (họ Lạc). Cùng với nhận xét thông thường: dân Âu ưa chiếm địa bàn núi rừng, trong khi dân Lạc xưa cư ngụ ở vùng bình nguyên, gần sông gần biển. Âu Cơ dẫn con lên núi, Lạc Long Quân xuôi về miền biển, trong cả hai truyền thuyết Việt và Mường.

Âm ng trong tiếng Phổ Thông Mandarin

Xin trở lại ảnh hưởng biến chuyển từ nguyên âm sang âm ng trong tiếng Quảng. Phát âm theo kiểu ‘quan thoại’ ở Hoa Bắc hoàn toàn không có âm ng. Phát âm với ng chính là phát âm nguyên thủy của tiếng Nam-Á (Austro-asiatic), và tiếng Nam-đảo (Austronesian). Trong đó có tiếng Mã Lai, Thái, tiếng Việt, và tiếng Tây Âu tức tiếng Quảng xưa [10] & [13].

Âm vận tiếng quan thoại, tức tiếng phổ thông – thuộc nhóm Hán-Tạng – không có ng. Tức không có chuyện thay đổi qua lại, rất bình thường, giữa những âm như Âu, sang qua từ có âm bắt đầu bằng ng như Ngâu, vẫn còn thấy trong tiếng Quảng.

Những từ có phát âm ng, trong tiếng Việt hoặc Quảng, có tương đương trong tiếng quan thoại, thông thường bằng âm y âm w hay một ‘nguyên âm’.

  • ng tương đương âm y trong quan thoại:

    Ngữ ngôn= yu yan

    Nga (=> nha: răng)= ya

    Nguyện vọng= yuan wang

    Nguyệt (tháng trăng)= yue

    Ngap (ap: vịt)= ya

  • ng biến thành âm w trong quan thoại:

    Ngui (Ngụy, nước Ngụy)= Wei

    Ngộ (= tôi)= Wo

    Ngũ (số 5)= wu

    Ngọ (trưa)= wu

    Ngoi (= ngoài)= wai

    Nguy hiểm= wei xian

  • ng cũng tương đương với một ‘Nguyên âm’ trong quan thoại:

    Ngẫu (ngẫu nhiên)= ou. (Ngẫu nhiên: ou ran)

    Ngâu (=Âu)= Ou (Âu châu: Ou Zhou)

    Ngu (ngu si ngu xuẩn)= ‘ou’ hay ‘yu’. (Ngu xuẩn: ou chun) [13]

    Ngỗng= E. (Thiên nga: tian e)

    Ngạo (ngạo mạn)= ao. (Ngạo man: ao man)

Như vậy rất có thể việc hội nhập một số nguyên âm vào các từ có âm ng ở tiếng Quảng, và một số trong tiếng Việt, bắt nguồn từ việc Hán hoá tiếng nói của người địa phương. Trong trường hợp Ngu Kơ => Âu Cơ, rất có thể người Văn Lang xưa vẫn phát âm như Ngu Kơ. Nhưng qua ảnh hưởng ngàn năm đô hộ Bắc phương, cả tiếng Việt lẫn tiếng Quảng đều ngả sang Âu Cơ. Người Mường bị biệt lập nên vẫn phát âm Ngu Kơ [11]. Cũng rất có thể NgâuÂu đã biến chuyển qua lại với nhau trong tiếng Việt cổ, như trong tiếng Quảng ngày nay. Nếu như vậy, chúng ta chỉ cần tìm một nhóm người nào đó, có một số đặc tính giống chủng Lạc Việt, có từ mang nghĩa ‘tôi’ phát âm như ai hoặc ngai. Với lưu ý: ở phía trên chúng ta đã ghi nhận được nhiều nhóm người (như P’u Noi & Sơn Đông) xưng ‘tôi’ bằng ngan, biến chuyển với an.

Người Hẹ và lối xưng ‘Tôi’

Nhóm người xưng ‘tôi’ bằng ngai đó chính là người Hẹ, tức Hakka, hay Khách Gia. Người Hẹ xưng ‘tôi’ bằng ngai và có thể biến nhanh sang ai.

Người Hẹ là ai? Đại khái, cho đến ngày nay vẫn có rất nhiều giả thuyết về gốc gác người Hẹ. Còn được gọi: người Hakka, hay Khách Gia – mang nghĩa ‘người Khách’, đối nghĩa với ‘chủ nhân’. Bởi dù ở đâu, người Hẹ, tức Khách gia, lúc nào cũng xem mình như người ở tạm, người khách. Trải qua hơn 2000 năm, người Hẹ vẫn còn giữ rất nhiều tập tục, thói quen xưa cũ, và phương ngữ riêng biệt của họ. Mặc dù rằng hôn nhân giữa người Hẹ với những Hoa chủng khác vẫn thường xảy ra. Thường họ được gọi người Do Thái của Trung Hoa. Rất nhiều người Hoa nổi tiếng có gốc Hakka. Trong đó phải kể đến: tài tử Châu Nhuận Phát, Đặng Tiểu Bình, tiểu thuyết gia Hàn Tố Âm (Han Suyin), Tôn Văn, anh chị em nhà họ Tống: Tống Khánh Linh, Tống Mỹ Linh, Tống Tử Văn, Lý Quang Diệu (Lee Kwan Yew), lãnh tụ Hồng Tú Toàn của Thái Bình thiên quốc – chống đối nhà Thanh thời thập niên 1830, v.v.. Cũng có giả thuyết cho rằng Mao Trạch Đông có mang giòng máu Hẹ.

Đại khái các giả thuyết cho rằng người Hẹ [16] có thể xuất xứ từ: (i) Khu vực phiá Bắc nước Tàu, chung quanh Sơn Đông, Hà Bắc, Sơn Tây, Hà Nam và bình nguyên sông Hoàng Hà; hoặc (ii) Người Hung Nô, ở phía Tây Bắc, bên ngoài nước Tàu; hoặc (iii) từ khối người Bách Việt ở miền Giang Nam. Đa số có vẻ thích giả thuyết (i) bởi theo giả thuyết này người Hẹ ‘rất có khả năng’ mang trong huyết quản chủng Hán nguyên thủy và thuần túy [15]. Cũng rất có khả năng, theo thiển ý, người Hẹ xuất thân từ đám Bộc Việt [1] – cũng một thứ Yueh (Việt) tộc – ở vùng Hà Bắc và Sơn Đông. Hay chính họ là đám Bộc Việt, rất cứng đầu và phụ nữ không chịu bó chân theo tập tục Hoa chủng. Hiện nay tổng số người Hẹ tại Trung quốc đếm chừng 33 triệu. Nếu kể toàn cầu: khoảng 50 đến 60 triệu. Tại Trung quốc, người Hẹ tập trung nhiều nhất tại Quảng Đông, Giang Tây, Phúc Kiến… Đông nhất tại các nước ngoài là ở Taiwan, Mỹ Châu, Mã Lai và In-đô-nê-xia. Nhiều cuộc nghiên cứu dùng DNA vẫn không cho được kết quả mong muốn. Bởi người Tàu được hợp chủng quá nhiều, nên nghiên cứu dùng DNA không phân biệt được người Hakka xuất xứ từ Hoa Bắc hay Hoa Nam.

Thế tại sao, chúng ta lại chú ý đến người Hẹ? Đây là một phát hiện, cũng hết sức bất ngờ, của loạt bài này. Đó là, ngôn ngữ người Hẹ rất giống… tiếng Việt Nam. Tức, ngoài việc tương đồng với phương ngữ Phúc Kiến như trình bày trong loạt bài chữ Nôm [12], tiếng Việt – trong phát âm Nôm-na ngày trước – rất có thể có bà con rất gần với người Hẹ. Nói một cách khác, những đợt di tản diaspora của người Hẹ từ thời Tần Thủy Hoàng, suốt qua đến thời Mãn Thanh chiếm cứ nước Tàu, thế nào cũng có đợt cuối cùng dừng chân tại nước Văn Lang, hay Âu Lạc, hoặc An Nam sau này. Nếu để ý, nhóm người Đông Di (xưa ở khu Sơn Đông) cũng có loại xâm mình, nhuộm răng y hệt như đám Bách Việt – thường gọi rợ Lạc Di hay Lai Yi [1] & [22], ta sẽ thấy một số điểm tương đồng (thí dụ: ngôn ngữ), giữa người Lạc Việt (tức người Việt sau này) với người Hakka cũng rất có khả năng. Bởi theo nhiều thuyết, người Hakka có xuất xứ từ khu vực gần hoặc tại Sơn Đông.

Có một số từ, giữa Hẹ và Việt, giống nhau đến nỗi có thể xem như không cách nào giải thích được. Tất nhiên sau hàng ngàn năm Hán hoá, nhiều từ phải khác đi. Nhưng những từ còn giống, giống như hai giọt nước (xem [20]).

Thí dụ:

  • Gắp (dùng đũa gắp thức ăn) => tiếng Hẹ: gap
  • Chiếm (xâm chiếm) => chim
  • Bác (anh của Cha) => Bak (tiếng Hakka)
  • Bên (phía bên cạnh) => Ben (Hẹ)
  • Dễ (easy, dễ dàng) => Yi (Hẹ)
  • Diều (kite, thả diều) => Yao (Hẹ)
  • Dạ (yes boss) => Za

Chú thích: Tiếng Hẹ cũng như tiếng Hải Nam, có khuynh hướng phát âm một số âm bắt đầu bằng y của quan thoại thành ra z. Y như người Việt phía Bắc phát âm d ra dz hay dj. Thí dụ: yuan (qt) => viên (vườn) => zen (Hẹ); yong (Phúc Kiến) => dùng (hoặc dzùng, tiếng Việt) => zung (Hẹ).

  • Đáy (bottom, đáy sông) => Dai (Hakka)
  • Đoán (guess, dự đoán) => Dong (Hẹ)
  • Gà Mái (hen) => Gai Ma (Như nói lái, kiểu: yêu cầu (V) => Yiu kầu (Phúc Kiến)) [18]
  • Gả (marry, gả con lấy chồng) => Ga (Hẹ)
  • Gạch (bricks, lớp gạch) => Ged (Hẹ)
  • Hùng (strong, mạnh) => Hiung (Hẹ)
  • Kiệm (tiết kiệm) => giam (Hẹ)

  • Mất (chết, die) => Mok (Hẹ) {Quá kỳ lạ, tiếng Tàu thường dùng si tức ‘tử’ để chỉ ‘chết’. Nhưng người Hẹ và Việt lại dùng ‘mất’ (to lose, mất, đánh mất) cho động từ ‘chết’, to die} [18].
  • Mạch (lúa mạch, wheat) => Mak (Hẹ)
  • Mỗi ngày (every day) => mi ngit (Hakka)
  • Ngói (tile, mái ngói) => Nga (Hakka)
  • Nghiêm (nghiêm nghị) => ngiam (Hẹ)
  • Phật (Buddha, Bụt) => Fud (Hẹ)
  • Quạ (crow, chim quạ) => Vua (đọc ‘V’ theo tiếng Anh)
  • Thổi (thổi cơm, thổi còi) => Tui (Hẹ)
  • Tá (dozen, 12) => Da (Hẹ)
  • Vách (wall, vách tường: đọc kiểu Nam bộ: biách) => Biak (Hẹ)
  • Vượt (âm xưa: yượt quan thoại: yue) => Yed (Hẹ)
  • Vì (bởi vì) => Vui (Hẹ).

Chú thích: Tiếng Hẹ là tiếng có thể zuy nhất trong các thứ phương ngữ Hoa không có âm w. Âm w được thay thế bằng âm v, nhưng khác với Việt ngữ, v chỉ thay chỗ cho w mà thôi: wa (Quảng Đông) => Hoạ, Vẽ (V) => Wa (Mường) => Hẹ: Vak. Điểm này rất quan trọng, sẽ được phân tích kỹ hơn vào một dịp khác. W Quan-thoại Quảng Đông Mã Lai Thái,… chuyển thành => V chỉ cho Hẹ và tiếng … Việt. Xem: vạn, văn, vàng,… phía dưới. Một người bạn Sơn Đông cũng cho biết phương ngữ Sơn Đông cũng phát âm w của quan thoại như v kiểu Việt và …Hẹ.

  • Vạn (10000) => Van (Hẹ). Trong khi Bắc Kinh: wan; Quảng Đông: Man.
  • Văn (văn hoá) => Vun (Hẹ). Quan thoại: wen; Quảng Đông: man.
  • Vàng (yellow, màu vàng) => Vong (Hẹ)
  • Yến (chim yến) => Yen (Hakka)
  • ……….

Quan trọng nhất: Từ chỉ ‘tôi’ trong tiếng Hẹ là ngai, có thể biến chuyển sang ai như: ngan => an của người Sơn Đông, tìm thấy trong quyển từ điển Quảng Đông ghi phía trên.

Tôi = Ai = I

Trở lại với đàm thoại giữa A và B:

A: ‘Cậu biết AI đã lấy điện thoại di động của tôi không?’

B: ‘AI biết đâu’

Và để ý cả hai câu đàm thoại đều có thể dịch thẳng sang Anh ngữ dùng ‘who’ cho ai:

A: ‘Do you know who took my mobile phone?’

B: ‘Who knows!’

Chứng tỏ ai đã biến chuyển ý nghĩa từ một nghĩa cũ nào đó, để ứng biến với mức độ tăng gia phức tạp của ngôn ngữ, khi cọ xát với những tiếng nước khác có từ thích hợp cho thứ đại danh từ mang tính ‘ẩn số’. Trong tiếng Tây, đó là ‘Qui’ và tiếng Anh: ‘Who’.

Qua phần chứng minh phía trên, chúng ta thấy khá rõ, ai trong tiếng Việt ở thời cổ đại, và rất có khả năng, kéo suốt cho đến thời chữ quốc ngữ ra đời, mang nghĩa chính là: ‘Tôi’. Có phát âm y hệt như tiếng Anh: I.

Kết luận đó dựa trên những điểm chính, xin tóm tắt như sau:

  1. ai trong lối trả lời: ‘Ai biết đâu’ mang hàm ý ‘Tôi đâu có biết’
  2. Tại Việt Nam ngày nay, một số các dân tộc ít người vẫn dùng ai để chỉ ‘Tôi’. Đặc biệt người Mạ ở phía Nam và người Khả Lá Vàng ở phiá Bắc, đều dùng ai 100%. Người Tsa Khmu dùng âm hơi khác một chút: Ô
  3. Ở Trung quốc, một vài phương ngữ cho thấy dấu vết của ai. Nếu ghi nhớ, tiếng Quảng Đông có khuynh hướng biến âm qua lại giữa ngâuâu, có thể để ý ở Quảng Đông có một nhóm người gốc từ khu Sơn Đông, ở cực Bắc, xưng ‘tôi’ bằng ngan hay an. Khi dùng âm ng, khi lột mất ng: ‘an’.
  4. Người Chiết Giang gọi ‘tôi’ bằng Ano và Thượng Hải xưng ‘chúng tôi’ bằng A-La.
  5. Đặc biệt người Hakka, tức người Khách Gia hay Hẹ, vừa chia sẻ nhiều từ rất cơ bản với tiếng ‘Nôm’, vừa xưng ‘tôi’ bằng ngai hay ai.
  6. Tiếng Mã Lai cũng có từ aku mang nghĩa ‘tôi’. Tiếng Tagalog của người Phi biến âm chút đỉnh thành ako.

Như vậy: Từ chỉ ‘Tôi’ ngày xưa, trong tiếng Nôm, chính là … ai. Có phát âm y hệt như tiếng Anh: I.

Có thể, theo lý do nhu cầu biến chuyển của ngôn ngữ, chúng ta thấy:

  • Đại danh từ no chỉ ngôi thứ hai (ông, bà , …= You) của người P’u Noi, rất gần với ‘Nong’ của Chiết Giang Thượng Hải, được dời sang chỉ ngôi thứ 3: ‘Nó’. Rất có khả năng, người Việt thời cổ đại cũng có một chút gốc gác Chiết Giang (Việt của Câu Tiễn Tây Thi), nên đã dùng no hay nong cho ngôi thứ hai: ‘You’. Sau này vì nhu cầu nào đó – họ chuyển sang qua ngôi thứ 3: . (xem [21])
  • Như vậy, người Việt đã chuyển AI từ ngôi thứ nhất (tôi, tớ, ta, mình, tui,…) sang qua ngôi thứ 3 đặc biệt cho ẩn số: Who, trong tiếng Anh. Có lẽ vào lúc phải cọ xát với tiếng Tàu, hoặc tiếng Tây.
  • Việc xê dịch từ, dời ngôi đổi chỗ, cũng đã được tìm thấy trong hệ thống số đếm. Thí dụ: số mười (10) là phát âm thu gọn của số 11 trong tiếng Khmer (Cam Bốt): ‘dup-muay’. Tiếng Việt dời ‘dup-muay’ (11) sang qua (10) khi chỉ xử dụng âm ‘muay’. ‘Muay’ sinh ra phát âm ‘Mười’ trong tiếng Việt, cho số 10. Tương tự: số tám (8) Cam Bốt đọc bram-bey (5+3). Tiếng Nôm cắt đi âm gọi (5) là bram và giữ bey (tức 3) => để chỉ số Bảy (7). Xin xem [19].

Cũng trong dịp tìm kiếm tài liệu để minh chứng ‘AI = I = Tôi’, bài này đã phát hiện được một số chi tiết khá quan trọng, như sau:

  1. Khối Bách Việt mang nhiều chi chủng tộc khác nhau. Điều này giải thích được các nhóm người dân tộc khác nhau tại Việt Nam, mặc dù ai cũng biết đa số xuất xứ từ miền Hoa Nam.
  2. Hai chi chủng tộc lớn nhất của khối Bách Việt: Chi Thái (tức Âu) và chi Việt (tức Lạc). Người Việt và sử Việt từ xưa đến nay ít khi chịu khó phân biệt hai chủng riêng biệt này. Ngược lại, ưa nhầm lẫn kháng chiến chống Tần của dân Tây Âu, là của người Văn Lang hay Âu Lạc [17].
  3. Theo dõi người Hẹ qua một số tính đặc trưng đã cho thấy họ rất có khả năng, là giống Bộc Việt ở phía cực Bắc nước Tàu (khu sông Bộc tỉnh Sơn Đông). Từ xưa đến giờ từ chối không chịu Hán hoá như nhiều chủng Việt khác và có ngôn ngữ khá giống tiếng Việt, cho một số những từ cơ bản chưa bị Hán hoá. Nếu quả vậy, giống Việt có thể đã có mặt tại miền Hoa Bắc trước khi Hoa chủng được hình thành, tại lưu vực sông Hoàng Hà.
  4. Đặc biệt, có thể đây là sợi giây liên kết đầu tiên giữa người Hẹ và người Việt. Để ý, nếu đối chiếu với quan sát đã ghi lại trong loạt bài chữ Nôm [9], thật sự chỉ có người Hẹ và người Sơn Đông trong toàn các khối chủng tộc nước Tàu mới có phát âm V như V: văn võ, như ven vu, theo kiểu phát âm Bắc Bộ cho một nhóm từ có phát âm tương đương W trong tiếng Hoa. Tất cả các chủng khác, kể cả những chủng lớn trong khối Đông Nam Á, như Mã Lai, Thái Lan, Nhật Bản, Trung Hoa,… chỉ dùng W: wen wu. Tuy vậy phân nửa kia của những từ bắt đầu âm V của Việt Nam, người Hẹ vẫn dùng Y: Vách => Biak giống kiểu Nam Bộ.
  5. Phát âm Y cũng vậy. Tiếng Hakka cũng xác nhận phân cực giữa âm Dz theo kiểu Bắc và âm Y theo kiểu Nam: Dùng => Zùng, trong khi: Diều => Yao
  6. Bình Nguyên Lộc trong quyển Mã Lai [1] đã thuật với phương tiện chật hẹp của thời 1960, ông đã bỏ tiền học tiếng Hẹ tại Chợ Lớn. Tuy vậy Bình Nguyên Lộc bởi không được đọc thẳng tài liệu của La Tượng Lâm (1933) – ngày nay thường được ghi trong internet: Luo Xiang Lin – đã đi đến kết luận nhầm lẫn rằng người Hẹ là hậu duệ của dân Thục (tức Tứ Xuyên), gốc Thái. Từ đó ông cho rằng người Hẹ chính là đám lính của Thục Phán An Dương Vương đi đánh Văn Lang. Từ nhầm lẫn đó, rất tiếc Bình Nguyên Lộc đã không liên kết được người Hẹ với người Bộc Việt ở khu vực sông Hoàng Hà, xuyên đến khu vực nước Sở. Nhiều kết luận về Mường của tác giả thuyết Mã Lai, cũng khác với các tìm tòi kiểu bỏ túi của loạt bài này. Hy vọng sẽ được trở lại đề tài này vào một dịp khác.
  7. Trong một website trên mạng internet [16], tác giả website cho biết có một hai điểm, tiếng Hẹ rất giống tiếng Anh, bởi ngày xưa có một số người La Mã sang định cư nước Tàu (ở vùng Cam Túc). Nếu vậy ai xuất xứ từ tiếng Hẹ (và một số tiếng thuộc nhóm Nam Á) chuyển sang tiếng Việt, để chỉ ‘Tôi’ nếu có giống tiếng Anh ‘ I ‘ – thì cũng nằm trong ảnh hưởng qua lại của tiếng nói những dân tộc thuở cổ thời.

Người Việt thời xa xưa cũng biết dùng ai để chỉ ‘tôi’, y như I trong tiếng Anh, như ai.


Ghi chú

[1] Bình Nguyên Lộc (1971). Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam. Nxb Xuân Thu (USA) tái bản.

[2] Malay Dictionary . Pelanduk Publications (2003)

[3] Charles Hamblin (1988). Languages of Asia & The Pacific. Angus & Robertson Publishers

[4] Yang Mingxin (1999). A Concise Cantonese English Dictionary. Guangdong Higher Education Publishing House

[5] Jeanne Cuisinier (1946). Les Mường – Géographie humaine et sociologie. Institut d’Ethnologie. Université de Paris. France. Cách đây vài tháng, người viết nhờ một người bà con ở Sài Gòn, đi tìm và mua được quyển sách hiếm của tiến sĩ Jeanne Cuisinier viết về người Mường. Thật một công trình nghiên cứu hết sức đồ sộ, mà mãi đến ngày nay có vẻ chưa một học giả Việt nào bắt kịp. Khổ một nỗi quyển sách khá dày đó được in trên giấy khổ rất lớn – lớn hơn khổ foolscap chứ đừng kể đến A4 – và đóng bìa cứng, rất nặng. Rất khó đọc trừ phi đặt quyển sách trên bàn, và ngồi thẳng để đọc.

[6] Lê Lị biến thành ra Lê Lợi là một trường hợp khá kì cục trong tiếng Việt. Trước thời nhà Lê, tiếng Nam không có âm lợi. ‘Lợi tức’ được phát âm như lị tức rất giống tiếng Tàu: li xi. ‘Lợi hại’ được phát âm như lị hại => Tàu: li hai. Bao giấy đỏ cho tiền trẻ em vào dịp Tết gọi Lì Xì: Lị Thì, tức ‘lợi thì’. Đến khi, Lê Lị lên ngôi vua khởi đầu nhà Lê, một triều đại khá huy hoàng trong sử Việt, dân chúng phải kị húy, và sáng tác âm mới: Lợi thay thế cho Lị. Từ đó âm Lị dần dần lui vào bóng tối. Những sử gia thời sau, mỗi khi gặp chữ Hán lị 利 họ đều phát âm thành lợi theo thói quen kị húy. Bởi lúc đó Lê Lợi đã mất vài thế kỷ rồi cho nên họ phát âm lầm Lê Lị thành ra Lê Lợi, quên luôn tên cúng cơm Lê Lị của anh hùng áo vải đất Lam Sơn.

Nhượng Tống, dịch giả đầu tiên của Đại Việt sử ký toàn thư (của Ngô Sĩ Liên), đã truy tầm nguồn gốc Mường của Lê Lợi (theo trích dẫn của Bình Nguyên Lộc [1]). Từ đó ông vạch rõ ra nhiều chi tiết trong quyển Đại Việt sử ký toàn thư đã được viết theo chiều hướng ‘bợ đỡ’ gốc Mường ‘anh minh’ của nhà Lê.

[7] Ngày xưa, dân nước này thường gọi dân nước khác bằng ‘rợ’ hay man di. Có lẽ bắt chước người Tàu. Đặc biệt ít khi thấy dân nào… dám gọi người Hoa là man di, mọi rợ. Bởi họ có văn minh thấy rõ. Người An-nam khi xưa ưa coi thường người Chân Lạp (tức Cam Bốt bây giờ), hoặc người Chăm. Có lẽ họ không biết người Cam Bốt ưa dùng chữ ‘Yuồn’ để chỉ người Việt (cáp yuồn = tàn sát người Yiệt). Và người Chăm gọi dân Việt bằng Yavana. Cả Yuồn lẫn Yavana đều xuất phát từ tiếng Phạn: Yuavana, mang nghĩa man di, mọi rợ.

[8] Nicola Di Cosmo (2004). Ancient China and its Enemies – The Rise of Nomadic Power in East Asian History. Cambridge University Press.

[9] Một kiểm chứng bỏ túi so sánh ngôn ngữ Thái Lan và tiếng Quảng Đông cho thấy, hai bên còn chia sẻ với nhau ít nhất 150 từ có tính cách cơ bản. Thí dụ: ngu (stupid): Thái: ngoh, Quảng: ngoh. Mực (ink): Thái: muk, Quảng: mak (mặc). Ngục (jail): Thái khuk, Quảng yuk. Đá (kick): Thái te, Quảng tek. Than (charcoal): Thái: Than, Quảng: Than. Cha (father): Thai: Pho, Quảng: Fu. Và hệ thống số đếm từ 1-10 rất giống với nhau. Trong khi hệ thống đếm tiếng Việt (một đến mười, v.v.) chịu ảnh hưởng hệ thống đếm của Cam Bốt hơn. Truy cập mạng internet cho biết người Thái Lan xuất xứ từ phía Hoa Nam, đặc biệt nước Nam Chiếu tức Vân Nam ngày nay.

[10] Ngày nay người Hoa vẫn gọi Yueh (Việt) như tên tắt của Quảng Đông. Muốn phân biệt, họ gọi Việt Đông cho Quảng Đông, và Việt Tây cho Quảng Tây. Kịch nghệ Quảng Đông vẫn được gọi Việt Kịch (Yue ju). Thức ăn Quảng Đông: Việt thái (Yue tsai). Tiếng Quảng: Việt ngữ (Yue yu). Nhưng ‘Yueh’ chỉ Quảng Đông khác với ‘Yueh’ chỉ Việt Nam. Việt (Yueh) chỉ Quảng Đông yiết: 粤. Việt cho Việt Nam viết: 越. Chứng tỏ người Hoa đã biết từ xưa, chủng Việt ở Quảng Châu (Lưỡng Quảng) khác với chủng Việt ở Giao Châu (tức Bắc bộ ngày nay).

[11] Xin ghi nhận một điểm nhầm lẫn nhỏ của Bình Nguyên Lộc trong quyển ‘thuyết Mã Lai’ [1]: Bình Nguyên Lộc cho rằng người Mường phát âm Ngu Kơ theo kiểu quan thoại phía Bắc, trong khi chính thật, phía Bắc dùng âm Âu chứ không phải Ngu. Ngu là âm nguyên thủy của chủng Ngu (chủng Âu thuộc Bách Việt), xưa có bà con với dân Thái ngày nay.

[12] Nguyên Nguyên (2004) Từ chữ Nôm đến quốc ngữ (tổng cộng 8 bài). Có đầy đủ tại các báo mạng: khoahoc.net, aihuucongchanh.com, honque.net, perso.wanadoo.frcharite.

[13] ‘ngu’ là một từ rất độc đáo có mặt tại nhiều nước. Mã Lai: ‘dungu’ có vẻ giống với ‘đồ ngu’ hoặc ‘đú ngu’. Thượng Hải: ngà du có vẻ giống với ‘cà đú’. Quảng Đông: ngoh và cũng có từ phiên âm trong từ điển y hệt như âm Việt: ‘ngông’. Thái Lan: ngo. Hẹ (Hakka): ngou. Trong khi quan thoại không có âm ng nên chỉ một nguyên âm: ou hay yu 愚 .

[14] Henri Roux (1954). Quelques minorités ethniques du Nord-Indochine. France-Asie. Janvier-Février 92-93. Tome X. Đặc biệt, theo tài liệu này, người Thái đen và Thái trắng tại Bắc phần chính là hậu duệ người nước Ba và Thục (tức Tứ Xuyên ngày nay).

[15] Người Hoa, hiện nay rất hãnh diện đã đồng hoá đám dân Bách Việt xưa, ở phía Nam sông Dương Tử. Nhất là những vụ khai quật gần đây đã cho thấy có rất nhiều trung tâm văn minh nằm ở những khu vực của khối Yueh (Việt) ngày xưa: Chiết Giang (U Việt), Sơn Đông (rợ Đông Yi), Tứ Xuyên (rợ Tây Nhung Ba Thục), …. Để ý họ thường rêu rao các khối dân tộc lớn của họ, bao gồm: Hán, Mông, Tạng, Mãn, … như trong truyện Lộc Đỉnh ký của Kim Dung, nhưng không bao giờ nêu lên tên ‘Yueh’, như một chủng riêng biệt. Họ rất hãnh diện đã hoà nhập chủng ‘Yue’ (Việt) vào chung với chủng Hán.

[16] Xem website: asiawind.com/hakka/history.htm hay: asiawind.com/hakka/language.htm#english

[17] Tây Âu: Một nước có vẻ bị sử Tàu hiện đại che lấp. Gốc chủng Thái, rất hùng cường vào thời cổ đại. Cổ sử Tàu (Sử Ký của Tư Mã Thiên) chỉ biết đến sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất các nước ở miền Hoa Bắc (Bắc sông Dương Tử). Vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên, nhà Tần tiến xuống phía Nam xâm lấn Tây Âu. Họ giết được vua Tây Âu Trạch (hay Dịch) Hu Tống, nhưng dân và lính Tây Âu rút vào rừng kháng chiến theo kiểu du kích, cuối cùng giết lại được tướng Tần là Uất Đồ Thư. Quyển Hoài Nam Tử của Hoài Nam Vương Lưu An, cháu của Hán đế Lưu Bang, đã xác định dân ‘Việt’ đánh với nhà Tần chính là dân Tây Âu. Rất nhiều quyển sử Việt, cho đến ngày nay, vẫn thường cố ý nhầm lẫn dân Tây Âu là dân Việt để nêu ý chí kiên cường và bất khuất của dân Việt. Bởi lý do, vào thời cổ đại, người Hoa văn minh ở phía Bắc ưa dùng từ Lạc hay Việt để chỉ toàn khối dân tộc sống ở phía Nam sông Dương Tử. Tuy họ đã biết rất rõ một số các chi lớn của chủng Yueh (Việt) này. Điểm cần ghi nhớ, cho đến đời nhà Hán, chưa hề có chiến tranh hay đụng độ giữa người Hoa chính cống ở Bắc sông Dương Tử với Việt tộc ở bình nguyên sông Hồng. {Xem luận án của Taylor [23] }.

Một điểm thường nhầm lẫn nữa: nước Tây Âu Lạc. Thật ra không có nước nào ở cổ thời mang tên ‘Tây Âu Lạc’ cả. Chỉ có Tây Âu và Âu Lạc. Lỗi lầm này xuất phát từ Sử ký của Tư Mã Thiên. Thật ra với chữ Nho không có chấm, phẩy, Tư Mã Thiên viết chỉ có một lần ‘Tây Âu Lạc’ với hàm ý nước Âu Lạc nằm về phía Tây của Nam Hải, tức Quảng Đông ngày nay [1]. Điểm sơ suất này nhiều vị nghiên cứu cổ sử, ngày nay, vẫn thường bị vướng phải. Bởi có lẽ họ tin rằng những vị tiền bối, từ Tư Mã Thiên đến Leonard Aurousseau, khó mà viết… sai. Lỗi lầm này đã được Bình Nguyên Lộc [1] và Taylor (xem [23]) nhấn mạnh và sửa sai rất kỹ.

[18] Xin đặc biệt để ý 2 từ giống nhau như đúc giữa tiếng HẸ và tiếng VIỆT:

  • Gà mái = Gai Ma. ‘Ma’ đi theo sau ‘Gai’ tức ‘gà’ bất chấp văn phạm tiếng Hán: phải đọc ‘ma gai’, tức ‘mái gà’.
  • Mất = Mok. Tiếng Hẹ Mok có âm y như mất và cùng mang nghĩa: ‘chết’. Nghĩa Nôm chính của mất là mất mát, đánh mất. Nhưng mất rất có khả năng biến âm từ thất như trong ‘thất lộc’= chết. Thất = shi theo phiên âm quan thoại 失 . Thế tại sao người Hẹ cũng lại biến âm từ shi sang Mok như Việt?

‘Gà Mái’ và ‘Mất’ là hai dấu tích rất quan trọng có thể cho thấy tình bà con rất gần giữa Hẹ và Việt. Bởi dùng từ ‘mái’ đi sau ‘gà’ và dùng âm và từ ‘mất’ để chỉ ‘chết’ thì chỉ có dân Việt mới có thôi.
[19] Nguyên Nguyên (2004). Thử tìm hiểu số đếm 1-10 trong văn minh Đông Sơn. Honque.net, aihuucongchanh.com, perso.wanadoo.fr/charite, khoahoc.net.

[20] Từ điển tiếng Hẹ: sungwh.freeserve.co.uk/sapienti/hdindexc.htm Trang web người Hẹ có âm nhạc cổ truyền: mpichard.ca/hakka.htm

[21] Tiếng Chiết Giang Thượng Hải gọi NÓ bằng yi. Tương đương với tiếng Việt chỉ ‘nó’, ít dùng: ‘Y’.

[22] Bình Nguyên Lộc [1] ghi lại tài liệu khá rõ về đám rợ Lạc Yi hay Lai Yi ở Sơn Đông Hà Nam. Đám này còn được gọi Bộc Việt, phải di tản vượt sông Hoàng Hà chạy vào vùng đất sau này thành nước Sở ở thời Xuân Thu, để tị nạn chiến tranh với Hoa chủng ở thời … tiền sử. Một vài đám Lạc Di khác di tản lần mò sang Triều Tiên, rồi vượt biển sang Nhật Bổn. Thường gọi rợ Tam Hàn. Nhưng xin nhắc lại, tác giả Mã Lai không liên kết người Hẹ với dân Bộc Yiệt, hay rợ Lạc Yi. Theo phát hiện bài này, rất có khả năng, người Hẹ ngày nay chính là hậu duệ của đám rợ Lạc Yi ở Sơn Đông – Hà Nam – Hà Bắc. Và nếu vậy, chính người Hakka trước tiên đã di tản đến khu vực Hồ Động Đình, sông Dương Tử, sông Hán, của vùng đất trở thành nước Sở sau này.

[23] Keith Weller Taylor (1983). The Birth of Vietnam. University of California Press.

© 2005 talawas

 
© talawas 2026