Robert Kaplan, Robert Wright
Chúng ta đang sống trong một kỷ nguyên thịnh vượng chưa từng có, nhưng khi quả bong bóng tài chính tan vỡ, chúng ta sẽ lâm vào một cuộc suy thoái toàn cầu. Các quốc gia không còn chiến tranh nhưng nội chiến lại đang lan tràn. Con người đã ý thức được sự phụ thuộc lẫn nhau về môi trường, nhưng hệ sinh thái toàn cầu đang trong giai đoạn khủng hoảng tột cùng. Tuỳ thuộc vào cách nhìn, chúng ta hoặc đang tiến tới kỷ nguyên vàng, hoặc trên bờ vực thảm hoạ. Rorbert Wright và Rorbert Kaplan -hai trong số những quan sát viên am hiểu nhất của Hoa Kỳ về tình hình thế giới và điều kiện sống của con người -gần đây đã gặp nhau ở Washington, D.C để trao đổi những quan điểm trái ngược về tiến trình lịch sử.
Chiếc xe tải nhỏ của tôi và Hoà bình thế giới
Robert Wright
Những ai biết tôi chắc sẽ rất ngạc nhiên khi thấy tôi đóng vai một người lạc quan, nhưng khi ở cạnh Rorbert Kaplan, sẽ không khó để ra về với điệu bộ vui vẻ và lạc quan về thế giới.Vậy đâu là cơ sở cho những quan điểm tương đối lạc quan của tôi? Những chẩn đoán và phương thuốc của tôi được xây dựng dựa trên khái niệm “trò chơi có tổng khác 0” trong lý thuyết trò chơi. Anh có thể chứng kiến “trò chơi có tổng bằng 0” trong một trận thi đấu thể thao như tennis đơn: Mỗi điểm ghi được trong trận đấu là tốt cho cầu thủ này, nhưng lại là xấu cho cầu thủ kia. Chính vì thế, số phận của cầu thủ hai bên có quan hệ nghịch. Trong “trò chơi có tổng khác 0“, vận mệnh của các cầu thủ có thể liên quan theo hướng cùng có lợi; kết quả có thể là cùng thắng hoặc cùng thua, phụ thuộc vào việc họ đã chơi như thế nào. Trên thực tế, trong một trận tennis đôi, những cầu thủ trong cùng một đội luôn có “quan hệ có tổng khác 0“, bởi lẽ cả hai sẽ cùng thắng hoặc cùng thua.
Ngày nay, chúng ta tham gia rất nhiều “quan hệ có tổng khác 0“, mà chúng ta thậm chí không để ý. Ví dụ, khi mua một chiếc xe tải nhỏ của hãng Honda, tôi đã tham gia vào “quan hệ có tổng khác 0″ với những người công nhân ở rất nhiều quốc gia khác nhau. Nội dung thương vụ này là tôi góp một phần nhỏ trả lương cho công nhân và họ chế tạo cho tôi chiếc xe. Ðặc trưng của toàn cầu hoá là nó đã gắn chúng ta vào những “quan hệ có tổng khác 0” như thế này. Nó khiến số phận của chúng ta liên quan mật thiết đến số phận của những con người ở cách rất xa. Ðó là một quá trình tinh tế mà chúng ta thường không nghĩ đến, nhưng đôi khi mối liên hệ giữa các số phận như thế trở nên hết sức hiển nhiên, như trường hợp khủng hoảng châu Á, khi chúng ta nhận ra rằng khủng hoảng tài chính có thể ngay lập tức lan rộng khắp thế giới; hay khi virus lan khắp mạng Internet, và ta nhận ra, rằng người sử dụng máy tính trên mọi châu lục đều dễ bị tổn thương, rằng số phận của họ liên quan quan chặt chẽ với nhau.
Về mặt lý thuyết, khi toàn cầu hoá khiến cho quan hệ giữa các quốc gia ngày càng mang đặc tính “có tổng khác 0“, ta có thể hy vọng nhiều hơn ở cách giải quyết những vấn đề này thông qua sự hợp tác được thể chế hoá. Ðó không phải là một nhận thức mang tính mở đường. Một thời gian dài, các nhà khoa học chính trị đã nói nhiều về sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng tăng giữa các quốc gia và logic ngày càng tăng đằng sau sự hợp tác. Nhưng tôi cho rằng, sớm hơn người ta tưởng, quá trình này diễn ra nhanh đến nỗi chúng ta sắp tiến tới một hệ thống các quan hệ hợp tác được thể chế hoá giữa các quốc gia, một sự hợp tác triệt để đến mức có thể coi như một sự cai trị toàn cầu. Tôi không muốn nói đến Chính phủ toàn cầu, một cơ quan quyền lực tập trung duy nhất. Tôi hình dung một sự kết hợp linh hoạt hơn giữa các tổ chức toàn cầu và khu vực. Song tôi cũng tiên lượng việc hy sinh một phần đáng kể chủ quyền quốc gia cho các tổ chức xuyên quốc gia. Chúng ta đã từng chứng kiến sự đầu hàng phần nào của chủ quyền quốc gia khi thiết lập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), và tôi cho rằng chúng ta cũng đã có một sự đầu hàng tương tự (một sự đầu hàng có chủ ý) khi 174 nước ký Công ước về vũ khí hoá học.
Tôi hoàn toàn tin rằng, xu thế quản trị toàn cầu này vẫn đang tiếp diễn, mặc dù tôi còn tin tưởng chắc chắn hơn, rằng điều đó không thể được hình thành trong một sớm một chiều. Những lĩnh vực “tổng khác 0” liên tục được mở rộng trong một thời gian dài: ta có thể trở về Thời kỳ Ðồ đá, khi chính thể phức tạp nhất trên trái đất chỉ là các thị tộc săn bắn-hái lượm, lập đồ thị tiến hoá đến trình độ những bộ lạc, đứng đầu là những tù trưởng; tiếp đó là những nhà nước cổ, rồi đến hệ thống những quốc gia dân tộc hiện đại, vv và vv… Yếu tố chủ chốt thúc đẩy sự tiến hoá của xã hội và hình thức cai trị từ thấp lên cao hơn là công nghệ. Ðôi khi, đó là công nghệ thông tin, bởi việc phát minh ra chữ viết thường đi đôi với sự tiến hoá của những nhà nước cổ đại đầu tiên. Ðôi khi, đó là công nghệ vận tải và đôi khi, trớ trêu thay, đó là công nghệ vũ khí. Công nghệ vũ khí có thể làm tăng gấp bội các quan hệ mang đặc tính “tổng khác 0” – chắc chắn là vũ khí hạt nhân đã khiến cho chiến tranh mang đặc tính “tổng khác 0″ cao độ, biến nó thành một trò chơi mà cả hai bên cùng thua, trong đó mục tiêu của trò chơi không bao giờ đạt được. Vì thế, vũ khí hạt nhân củng cố những lý lẽ ủng hộ việc thiết lập một hệ thống an ninh chung, được theo đuổi thông qua các định chế xuyên quốc gia, chẳng hạn như Liên Hợp Quốc.
Chúng ta không biết tường tận tương lai của sự phát triển công nghệ, nhưng chúng ta có một ý tưởng tuyệt vời. Công nghệ thông tin sẽ tiếp tục phát triển và lôi kéo con người vào những mạng lưới những thương vụ, tương tác và phụ thuộc lẫn nhau. Công nghệ vũ khí sẽ phát triển, nhưng có lẽ quan trọng hơn, ngày càng có nhiều người biết đến công thức chế tạo các vũ khí huỷ diệt hàng loạt. Do đó, hầu hết các quốc gia đều chia sẻ lợi ích chung trong việc kiểm soát sự phát triển và sử dụng những loại vũ khí này. Sự phát triển công nghệ sẽ tiếp tục công việc nó đã làm trong một thời gian dài, đó là mở rộng lãnh địa của những “quan hệ có tổng khác 0“, khiến cho số phận của con người và các quốc gia phụ thuộc vào nhau hơn nữa, một quá trình đang thúc đẩy các chính thể phát triển đến một cấp độ cao hơn, cấp độ toàn cầu.
Bản thân việc số phận của con người trên thế giới ngày một liên quan đến nhau hơn, tự nó không phải là một tin mừng. Có thể anh cũng đã nhận thấy, trên thực tế, có rất nhiều “động lực tổng khác 0” là “những trò chơi có tổng âm“, những trò chơi mà cả hai bên cùng thua, trong đó mục tiêu của trò chơi thậm chí bị phá vỡ. Sự nóng lên của trái đất là một ví dụ của “những trò chơi có tổng âm” như thế – mặc dù chúng ta chỉ muốn tránh những hậu quả xấu. Tôi nghĩ rằng cần phải kêu gọi một sự hợp tác được thể chế hoá và cả sự hy sinh thực sự một phần, dù nhỏ, chủ quyền quốc gia.
Vì thế, khi lập luận rằng lịch sử đang tiến đến chỗ ngày càng nhiều “những quan hệ tổng khác 0″, tôi chỉ muốn đưa ra một nhận xét, tự thân nó không phải là tốt hoặc xấu. Ðó chỉ là một điều mà chúng ta cần phải suy ngẫm. Nhưng quá trình phát triển lịch sử nhân loại có một đặc điểm ít nhất là đáng mừng, và trong chừng mực nào đó là một lối thoát. Ðó là cái mà tôi gọi là chiếc la bàn đạo đức mở rộng. Triết gia Peter Singer cũng đã từng viết về điều này. Nếu quay trở lại thời Hy Lạp cổ đại, ta thấy đã có thời các công dân của một thành bang ở Hy Lạp xem công dân của những thành bang Hy Lạp khác không phải con người. Họ thoả sức tàn sát và cướp bóc mà không hề có bất cứ một sự ăn năn hối cải nào. Sau đó, những người Hy Lạp này trải qua một quá trình khai sáng và họ kết luận rằng những người Hy Lạp khác cũng là người. Chỉ có những người Ba Tư mới không phải là con người. (Một tiến bộ còn hạn chế, đúng vậy, nhưng dù sao đó cũng là một tiến bộ). Ngày nay, tôi nghĩ, chúng ta đã tiến bộ hơn nhiều, đặc biệt là tại các quốc gia phát triển về kinh tế. Theo tôi, đại bộ phận dân chúng của những nước này nói rằng con người ở bất cứ đâu, bất kể chủng tộc, tín ngưỡng và màu da, đều đáng được hưởng một sự tôn trọng tối thiểu.
Nếu anh hỏi tôi tại sao điều đó lại xảy ra, tôi giải thích bằng động lực cơ bản của lịch sử – sự phát triển của “những quan hệ có tổng khác 0“. Nếu nghiên cứu lại Hy Lạp vào thời đại khai sáng hạn chế của họ, anh sẽ thấy rằng “những quan hệ tổng khác 0” giữa các thành bang Hy Lạp ngày một tăng lên bởi họ cùng chống lại người Ba Tư. Họ cần nhau hơn, họ là “những người cùng hội cùng thuyền”, và để hợp tác với nhau họ phải dành cho nhau ít nhất là một sự tôn trọng tối thiểu. Và nếu anh hỏi tại sao ngày nay tinh thần quốc tế về đạo đức lại lên ngôi ở các quốc gia tiên tiến về kinh tế và hội nhập toàn cầu, tôi cũng sẽ giải thích tương tự. Nếu anh hỏi tại sao tôi không nghĩ rằng ném bom vào Nhật Bản là một ý tưởng hay, tôi sẽ trả lời “vì một lẽ: họ đã chế tạo chiếc xe tải nhỏ của tôi.” Tôi tự hào nói rằng tôi có những lý do cao quí hơn, nhưng tôi vẫn nghĩ rằng chính sự phụ thuộc lẫn nhau rất cơ bản và cụ thể này đã buộc người ta phải dành cho nhau một sự tôn trọng tối thiểu, buộc người ta phải nghĩ đôi chút về phúc lợi của những người cách nửa vòng trái đất. Tôi tin rằng động thái này sẽ tiếp tục tăng lên và còn kéo dài trong tương lai, bởi trong một thế giới mà bệnh tật có thể tràn lan qua biên giới trong tích tắc thì người Mỹ cũng buộc phải lo lắng cho sức khoẻ của người dân ở châu Á hay châu Phi. Trong một thế giới mà khủng bố có thể nắm được những công nghệ chết người chưa từng có, thì người Mỹ cũng phải lo lắng về những bất đồng chính trị trước khi nó trở thành mũi nhọn của chủ nghĩa khủng bố. Một đặc điểm của xã hội toàn cầu hoá nằm ở chỗ những thảm hoạ có thể xẩy ra ở cấp độ toàn cầu. Do vậy, chúng ta hiện đang trong vào một tiến trình, mà hoặc chúng ta ý thức được những đòi hỏi đạo đức và chính trị của số phận chung, hoặc những điều tồi tệ sẽ không tránh khỏi.
Thế giới hiện đại, xét theo nhiều góc độ, là mất phương hướng và bất ổn. Mọi thứ thay đổi rất nhanh, nhưng tôi nghĩ rằng nếu xem xét một thời gian quá khứ lâu dài, ta có thể tự định hướng. Lịch sử không phải chỉ là một chuỗi những điều tồi tệ, nó là một quá trình có định hướng; nó có một mũi tên. Và tôi nghĩ nếu chúng ta sử dụng mũi tên này để tự định hướng, tôi dự đoán rằng những đặc trưng của thập kỷ tới sẽ không phải là sự hỗn loạn.
Mong phúc, lường hoạ
Robert Kaplan
Thế này nhé, Bob, trong khi anh bền bỉ hướng tới nhận thức về trình lịch sử lâu dài và rộng lớn thì tôi chỉ dự báo 10 đến 15 năm tới đây, tập trung vào chính sách đối ngoại – mà thường có hiệu quả nhất khi được hình thành dưới ánh sáng của những kịch bản xấu nhất, với hy vọng rằng những kịch bản như vậy sẽ không xảy ra. Tôi lưu ý anh rằng, chủ nghĩa bi quan mang tính xây dựng là một truyền thống rất sâu đậm trong lịch sử Hoa Kỳ. Nó là cơ sở của Hiến Pháp Hoa Kỳ. Nếu anh đã từng đọc các Luật Liên bang thì anh sẽ thấy rằng Hoa Kỳ trở thành đất nước của những người lạc quan, chính xác sau 22,5 năm, bởi trước đó chúng ta đã may mắn có các hệ thống chính phủ do những những bi quan chủ nghĩa xây dựng. Cách mạng Pháp, ngược lại, được xây dựng dựa trên chủ nghĩa lạc quan, trên cơ sở niềm tin rằng, các tầng lớp tinh hoa trong xã hội có thể tạo nên những kết quả tích cực từ trên xuống, và nó đã dẫn đến máy chém và sự chuyên quyền của Napoleon. Alexander Hamilton, người mà tôi coi là vĩ đại nhất trong những bậc Cha già Khai quốc, từng nói rằng, chớ nên nghĩ rằng thế giới sẽ bớt chiến tranh đơn giản chỉ vì ngày càng thêm dân chủ. Trong Federalist số 6 [1] , ông nói sẽ có rất nhiều các cuộc chiến tranh, từ chiến tranh thương mại đến các cuộc chiến tranh mở mang lãnh thổ. Vì thế, với tinh thần của The Federalist Papers như trên, tôi sẽ trình bày một kịch bản về những vấn đề khiến tôi lo ngại trong vòng 10 đến 15 năm tới.
Năm 1994, tôi đã từng viết rằng, dù một phần thế giới đang tiến đến sự phồn thịnh về kinh tế, thì một phần khác, với rất đông dân cư, lại đi theo một hướng khác, do tác động của những vấn đề như dân số, khan hiếm tài nguyên và bệnh tật. Bây giờ, sau bảy năm, hãy để tôi nói cho anh biết tôi nhìn nhận sự việc ra sao. Những tên thực dân châu Âu từng thực hiện rất nhiều điều khủng khiếp, nhưng trong chừng mực nào đó, họ cũng đã mang lại trật tự cho vùng cận Sahara của châu Phi, vùng Nam và Trung á. Sản phẩm của hệ thống thuộc địa bắt đầu tan rã vào thập niên 90, khi chúng ta chứng kiến sự suy yếu hoặc sụp đổ hoàn toàn của một số khu vực “ngoài lề”. Tôi sử dụng thuật ngữ “ngoài lề” không phải bởi trình độ của họ thấp kém, mà bởi họ có số dân số ít ỏi, nền kinh tế nhỏ bé và không có ảnh hưởng nhiều đến những nước trong khu vực. Somalia, Sierra Leone, Tajikistan, Haiti, và Rwanda chắc chắn không phải là những quốc gia then chốt, dù nhìn nhận dưới góc độ nào, nhưng hãy xem họ đã làm cho cộng đồng quốc tế rạn nứt ra sao.
Có nhiều lý do khiến tôi tin rằng, chúng ta sẽ phải chứng kiến một sự suy yếu, sự biến chất, hay thậm chí sự phá sản của các xã hội rộng lớn, phức tạp và hiện đại hơn trong vòng 10 đến 15 năm tới tại những nơi như Nigeria, Bờ biển Ngà, và Pakistan. Và chúng ta cũng sẽ chứng kiến những cuộc khủng hoảng nghiêm trọng ở những nước như Brazil hay Ấn Ðộ. Sự tan rã của sản phẩm do hệ thống thực dân để lại cũng sẽ tạo nên khủng hoảng ở những nơi không có một kịch bản can thiệp nào, hoặc ở những nơi kịch bản can thiệp này tồi tệ hơn những gì đã xảy ra ở Bosnia và Sierra Leone. Vấn đề không phải ở chỗ chính phủ ở những nước này quá yếu kém. Các chính phủ ấy đang làm tất cả những gì có thể. Các nguyên nhân, thực ra, phức tạp và khó giải quyết hơn nhiều.
Trước hết, tất cả các xã hội này đang trên đà hiện đại hoá. Mặc dù lịch sử đã chỉ cho chúng ta thấy rằng, các thể chế dân chủ hiện đại mang lại sự ổn định nhưng nó cũng cho thấy rằng, tiến trình xây dựng và phát triển các thể chế dân chủ hiện đại lại gây ra bất ổn. Khi các nền dân chủ thị trường tự do phát triển, ngày càng có nhiều tham gia vào quá trình chính trị. Và tất cả họ đều tràn đầy những khao khát, tham vọng và đòi hỏi mà các định chế cai trị thường không thể theo kịp. Vì vậy, đây đó phải có đổ vỡ. Chính sự tăng trưởng kinh tế, chứ không phải sự đói nghèo, đã gây ra những biến động chính trị.
Một thách thức khác đối với sự ổn định của các quốc gia dân tộc là vấn đề dân số. Ta vẫn nghe rất nhiều về việc dân số thế giới đang già đi ra sao, nhưng đó là xem xét trong một thời gian rất dài trên phạm vi toàn thế giới. Còn nếu như như chỉ xem xét 20 – 30 nước trong vòng 10 đến 20 năm tới, anh sẽ chứng kiến sự gia tăng đột biến dân số trẻ, cái mà các nhà dân số học gọi là “youth bulges”. Khi xem tivi và chứng kiến sự rối loạn hoặc bạo động ở Indonesia, Bờ Biển Ngà, Gana và Bờ Tây, theo anh có gì giống nhau? Tất cả các vụ bạo lực đều do những người trẻ tuổi, khoảng từ 15 đến 29, thất nghiệp và bất mãn, gây ra. Trớ trêu thay, ở chính những nước đang hỗn loạn và đứng trên bờ vực hỗn loạn, tỷ lệ đàn ông trẻ lại tiếp tục tăng lên. Nói cách khác, chính những nước có kim tự tháp dân số với phần đáy phình to nhất lại là những nước có ít khả năng ổn định nhất.
Và nếu những phân tích trên chưa đủ, anh hãy xem xét tiếp vấn đề đô thị hoá. Thế kỷ 21 là thế kỷ đầu tiên trong lịch sử thế giới khi hơn nửa nhân loại sống ở thành phố. Thậm chí, ở Châu Phi cận Sahara dân đô thị cũng chiếm gần 50%. Quản lý các xã hội đô thị khó khăn hơn nhiều so với quản lý các xã hội nông thôn. Ở nông thôn, người ta có thể tự cung cấp thực phẩm, vì thế khi những hàng hoá thiết yếu tăng giá, họ ít bị ảnh hưởng hơn. Xã hội nông thôn không đòi hỏi cơ sở hạ tầng kỹ thuật phức tạp như hệ thống thoát nước thải, nước sạch, điện và nhiều thứ khác như ở thành phố. Quá trình đô thị hoá khuếch đại sai lầm của những nhà lãnh đạo tại các nước đang phát triển, đồng thời làm giảm những thành công của họ.Việc thoả mãn nhu cầu của người dân thành thị khó khăn hơn việc thoả mãn nhu cầu của người dân ở nông thôn, nhất là khi dân số ở thành thị phát triển quá nhanh khiến việc quản lý không theo kịp.
Tiếp theo là vấn đề khan hiếm tài nguyên, đặc biệt là nước. Tôi đã nghỉ hè ở một làng nhỏ ở Bồ Ðào Nha mà chỉ có nước máy trong khoảng 8 giờ một tuần. Chúng tôi phải lái xe khoảng nửa dặm tới máy nước công cộng của địa phương đó để lấy nước. Những ai chưa từng đi xa trong tình trạng thiếu nước không thể hình dung được thế nào là không có nước để tắm hoặc xả nước bồn cầu. Từ bốn năm nay, một dải quốc gia Nam á, từ Afghanistan và Pakistan tới Ấn Ðộ, bị hạn hán. Ðập quá thấp, không đủ nước để uống hoặc sản xuất điện. Vì thế, vào mùa hè, ở những thành phố nóng bỏng của tiểu lục địa này, việc sử dụng điều hoà nhiệt độ ngày càng ít hơn. Sự ngột ngạt này dĩ nhiên không nhất thiết gây nên những cuộc khủng hoảng chính trị, nhưng tất cả là một phần của những nhân tố nền tảng làm cho những cuộc khủng hoảng hiện tại thêm trầm trọng. Tình trạng này làm tồi tệ thêm những căng thẳng về sắc tộc và khiến cho mâu thuẫn xã hội càng khó giải quyết. Tóm lại, dân chúng tức giận. Mới đây, ở Karachi và Pakistan đã xẩy ra một làn sóng bạo động sau một thời gian dài thiếu điện vì không có nguồn nước.
Thêm vào đó là vấn đề thay đổi khí hậu. Trong cuộc thảo luận này, tôi chỉ muốn nói, rằng vấn đề trái đất nóng lên đã bị thổi phồng, rằng điều đó không tồn tại, đó không phải là vấn đề thực sự. Dù anh có giải quyết được vấn đề nóng lên của trái đất thì trong những thập kỷ tới, những thay đổi khí hậu bình thường vẫn cứ gây ra bão lụt và những biến động khác với sức tàn phá nặng nề, bởi vì, lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, có hàng trăm triệu người sống trên những vùng có môi trường dễ gặp rủi ro – những nơi mà có lẽ chưa bao giờ con người nghĩ rằng có thể sinh sống. Cho nên, ngay cả khi không có sự nóng lên của trái đất, người ta cũng sẽ chứng kiến những hiện tượng tự nhiên có thể gây ra bất ổn chính trị.
Cuối cùng, một yếu tố khác có thể gây ra những cuộc khủng hoảng thể chế nghiêm trọng ở rất nhiều nước là dân chủ. Mọi người đều muốn dân chủ, điều này không thể bác bỏ. Nhưng dân chủ luôn có xu hướng đến sau. Dân chủ sẽ là cái đỉnh cuối cùng của những mô hình phát triển khác, khi chúng ta đã có các tầng lớp trung lưu phải đóng thuế thu nhập, các thể chế do các quan chức có học thức lãnh đạo, khi các vấn đề chủ yếu của xã hội (như vấn đề biên giới lãnh thổ) đã được giải quyết và chúng ta có một chính thể thực hiện đúng chức năng. Khi đó, và chỉ khi đó, toàn xã hội mới có thể tương thích với những chính phủ yếu của thiểu số. Khi đó, và chỉ khi đó, dân chủ mới có thể giải phóng toàn bộ tiềm năng của quốc gia. Ngay bây giờ, chúng ta đang chứng kiến dân chủ phát triển ở nhiều nơi trên trái đất, đi kèm với thất nghiệp và lạm phát, khủng khiếp như ở Ðức những năm ba mươi, khi Hitler nổi lên nhờ các điều kiện dân chủ, hay ở Italia đầu những năm hai mươi, khi Mussolini lên nắm chính quyền. Những lập luận của tôi không chống lại dân chủ, nhưng tôi tin rằng dân chủ cũng sẽ là một nguyên nhân khiến xã hội mất ổn định.
Nếu anh có cảm giác rằng tôi cố tình gieo rắc tâm lý bi thảm, thì đó là do cách thức của anh nhằm tránh thảm hoạ ngay ở nơi nó nảy sinh. Nên nhớ rằng Klemens von Metternich đã rất giỏi trong việc tạo ra một trật tự thời hậu Napoleon, và điều đó đã mang lại cho châu Âu hàng thập kỷ hoà bình và thịnh vượng – khiến cho nhiều nhà chính trị ở Pháp và Anh đã mất đi cảm giác về các bi kịch. Tất cả những gì họ thấy trước đều là những viễn cảnh lạc quan, và cứ thế, họ đã nhầm lẫn và tính toán sai lầm để bước vào Chiến tranh Thế giới thứ Nhất. Xin hãy hiểu những lo ngại của tôi trong tinh thần như thế.
Về lâu dài, chúng ta thảy đều phụ thuộc lẫn nhau
Robert Wright
Quả thực, tôi có thể coi là một người theo chủ nghĩa bi quan. Tôi nghĩ, nó hướng ta đến những vấn đề cần quan tâm. Ðặc biệt, tôi rất mừng khi biết rằng cuốn sách của anh đã thu hút được sự quan tâm của người Mỹ, bởi nó cho thấy rằng người Mỹ ngày càng thức tỉnh về một thực tế là số phận của họ gắn liền với số phận của nhân loại trên toàn thế giới. Nhưng tôi không muốn cường điệu chủ nghĩa bi quan. Và cụ thể, ở đây tôi cũng không muốn làm rùm beng vấn đề đó như vấn đề toàn cầu hoá, và sự thay đổi công nghệ kèm theo nó chính là một phần của một thứ lực lượng tồi tệ. Quả thực, tôi là một trong những người nỗ lực ủng hộ toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá có thể có những tác động xấu nhưng tôi nghĩ rằng, suy đến cùng, toàn cầu hoá là một xu hướng tốt.
Anh nói rằng thế giới ngày càng phân hai cực, và nhắc đi nhắc lại những luận điệu cũ rằng, toàn cầu hoá làm trầm trọng thêm bất bình đẳng về thu nhập trên toàn thế giới. Nhưng trên thực tế, kết luận này phụ thuộc vào cách thức nghiên cứu các số liệu ra sao. Nếu anh đối chiếu số nước giàu và số nước nghèo, chắc chắn anh phải lập luận như thế. Nhưng nếu anh đối chiếu số người trên thế giới, bỏ qua biên giới lãnh thổ, ta sẽ thấy rõ một thực tế là, số người nghèo đã giảm đi nhiều so với trước đây. Và thậm chí, nói một cách tương đối thì chúng ta vẫn chưa rõ có phải bất bình đẳng về thu nhập đang tăng lên hay không, và nhiều người cho rằng, khoảng cách về thu nhập thực ra đang thu hẹp lại trên phạm vi toàn thế giới. Rõ ràng là những người nghèo trên thế giới tập trung ở một số ít quốc gia rộng lớn (như Trung Quốc và Ấn Ðộ) – những nước đạt được nhiều tiến bộ hơn những quốc gia nhỏ (đặc biệt những nước ở châu Phi). Nhưng kể cả ở châu Phi, toàn cầu hoá cũng có những bằng chứng thuyết phục: những nước mở rộng thương mại và đầu tư nhất cũng là những nước đạt được nhiều thành tựu nhất về kinh tế.
Một ưu điểm khác của toàn cầu hoá là ở chỗ về bản chất nó chống chiến tranh. Tôi nghĩ rằng, khi con người và các dân tộc ngày càng phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế, chiến tranh ngày càng trở thành một trò chơi hai bên cùng thua trong số “những trò chơi có tổng khác 0” mà rõ ràng là không nên tham gia. Thế giới hiện đại vẫn còn rất nhiều cuộc chiến tranh, nhưng thế giới hiện đại có một đặc điểm rất đáng quan tâm, tuy chưa được cảnh báo đầy đủ: chúng ta ngày càng nghĩ nhiều hơn về chiến tranh như là sản phẩm của những nước nghèo. Không ai nghĩ một nước phát triển cao về kinh tế lại gây chiến với nước khác và đây thực sự là một bước ngoặt về nhận thức. Nếu nhìn lại gần như toàn bộ lịch sử, anh sẽ thấy một quy luật chung là các chính thể hùng mạnh muốn phát động chiến tranh với nhau. Ngày nay, chiến tranh giữa các quốc gia hầu hết đều chỉ bùng nổ ở một vài khu vực có thể gọi là “chưa toàn cầu hoá”. Tôi nói như thế không có ý miệt thị. Việc chưa được toàn cầu hoá không phải là lỗi của họ. Rất nhiều sự ngẫu nhiên của lịch sử và hoàn cảnh địa lý đã giải thích tại sao có những nước lại phát triển kinh tế nhanh hơn các nước khác. Nhưng chiến tranh thì luôn tiềm ẩn ở những khu vực nghèo đói nhất trên thế giới.
Nói đến các cuộc xung đột nội bộ, hay chiến tranh trong lòng các quốc gia, tôi đồng ý với anh rằng, đây là vấn đề có thể nghiêm trọng hơn. Anh lập luận rằng, sự phát triển kinh tế thường làm gia tăng xung đột. Tôi xin bổ sung thêm là hiện đại hoá, thông qua sự truyền bá công nghệ thông tin, cũng làm gia tăng các cuộc xung đột nội bộ. Như tôi đã đề cập trước đó, công nghệ thông tin có một số tác động thúc đẩy toàn cầu hoá, nhưng nó cũng có những tác động gây rạn nứt, bởi vì mỗi lần giảm cước thông tin là một lần những nhóm nhỏ, với nguồn tài chính nghèo nàn, dễ tập hợp hơn. Không phải ngẫu nhiên mà có sự trùng hợp của Cải cách Tin lành với sự phát minh ra nghề in. Sau khi Martin Luther đưa ra 95 Luận điểm (95 Theses) của mình, các nhà in đã nhận lấy trách nhiệm phát hành chúng ở các thành phố khác nhau. Luther đã tổ chức được quần chúng rộng rãi là vì giá thành in ấn rẻ đi đột ngột.
Trong thế giới hiện đại, nhờ Internet, anh đang chứng kiến điều tương tự. Một điều không thể tránh khỏi là công nghệ thông tin đang hỗ trợ cho các nhóm ly khai như Hồi giáo ở phía Tây Trung Quốc hay xứ Basques ở Tây Ban Nha. Nhưng, về lâu dài, anh có thể tưởng tượng sự điên rồ ly khai chủ nghĩa này sẽ đi đến đâu, bởi trong khi lựa chọn giải pháp từ bỏ quốc gia dân tộc, thì đồng thời những nhóm người này cũng đồng thời tìm cách liên kết với những thực thể siêu quốc gia. Trên thực tế, những người ly khai Quebec đã từng nói rằng, họ đã có kế hoạch gia nhập Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAPTA) ngay sau khi tách ra khỏi Canada, và tôi rất tin rằng những nhóm ly khai ở châu Âu sẽ muốn gia nhập Liên minh châu Âu. Do đó, tôi hoàn toàn đồng ý rằng, toàn cầu hóa, trước mắt, sẽ gây cho chúng ta rất nhiều khó khăn, nhưng xét về lâu dài, đó cơ bản là một quá trình mang lại lợi ích cho con người và sẽ đưa toàn bộ thế giới đến một sự cân bằng lâu dài.
Trò chơi cảm hứng
Robert Kaplan
Trên tinh thần của cuộc thảo luận, tôi đưa ra một vài điểm khác biệt. Anh có xu hướng nhấn mạnh vào khả năng chọn lựa một cách đúng đắn và hợp lý của con người. Nhưng nếu anh nghĩ rằng con người luôn luôn xử sự theo những tính toán riêng tư có lợi và hợp lý nhất của họ, xin hãy đọc Mein Kampf [2] . Như Hamilton đã nói, “tình cảm của con người, nếu không bị ép buộc, sẽ không bao giờ tuân theo lý trí và công lý”. Người ta đã xây dựng Hiến pháp Hoa Kỳ để tổ chức và kiểm soát một cách tinh vi những tình cảm của chúng ta. Tôi không tin rằng chúng ta sẽ hành động hợp lý hơn so với những gì chúng ta đã từng làm trong quá khứ. Ðúng là đang có một vận động hướng tới một sự cai quản toàn cầu, nhưng một sự quản lý chung, thống nhất chưa chắc đã là một điều tốt. Ví dụ, Liên minh châu Âu có thể đã sẵn sàng trao quyền quản lý cho một chế độ chuyên quyền ôn hoà mà bỏ qua lợi ích của các giai cấp trung lưu lớp dưới. Tôi nghĩ rằng các phong trào dân tộc xuất hiện khắp châu Âu chính là sự phản ứng lại một chế độ chuyên quyền ôn hoà như vậy ở Brussels. Nếu có một sự quản lý chung toàn cầu thì nó phải là một mô hình không chỉ dành riêng cho tầng lớp ưu tú.
Còn những người cảm thấy bị gạt ra ngoài lề thì có trong tay những nguồn lực nhờ Internet. Cách mạng công nghiệp là một cuộc cách mạng của những thứ lớn lao – những máy bay, xe tăng và mạng lưới đường sắt to lớn – vì thế chỉ những nước lớn mới có thể lợi dụng những ưu thế mà Cách mạng công nghiệp tạo nên. Nhưng khi anh nói về vũ khí có thiết bị điều khiển, vũ khí sinh học và hàng loạt những vũ khí thời Hậu Cách mạng Công nghiệp, trong một thế giới mà chỉ với một giắc cắm điện thoại hoặc một chiếc đĩa cấy vi khuẩn cũng có thể mang lại cho anh sức mạnh, thì không chỉ những quốc gia lớn mới có thể hưởng lợi. Những thành phần phi quốc gia, vô thừa nhận, cũng có thể khuếch đại sức mạnh của mình thông qua công nghệ mới. Những mối quan hệ quyền lực ngày càng trở nên phức tạp hơn bao giờ hết. Anh có lý khi cho rằng công nghệ thúc đẩy sự phát triển của lịch sử, nhưng không nhất thiết là thúc đẩy một cách trật tự.
Ðối với tinh thần quốc tế về đạo đức mà anh đề cập, tôi nghĩ rằng chúng ta cần phải thận trọng đôi chút, bởi lẽ phương Tây ngày nay đang sử dụng thuật ngữ “cộng đồng toàn cầu” tương tự như cách chúng ta từng sử dụng thuật ngữ “thế giới tự do”. Chúng ta đang cố gắng định nghĩa toàn bộ thế giới theo quan điểm đạo đức và ý muốn của chúng ta. Các cường quốc và các nền văn hoá đều có quan điểm khác nhau về vấn đề thế giới nên được tổ chức như thế nào, do đó, chúng ta phải cẩn thận, nếu không muốn trở thành kẻ say mê với chiến thắng. Và cho dù bất bình đẳng có thể ngày càng giảm đi, tôi vẫn tin tưởng rằng sự bất bình đẳng lớn nhất không phải là điều chúng ta chứng kiến giữa Hoa Kỳ và vùng Cận Sahara của châu Phi, mà giữa cộng đồng giầu có miền duyên hải và vùng nội địa nghèo khó của một xứ như Ghana. Khoảng cách lớn nhất là giữa những cộng đồng được toàn cầu hoá trong nội bộ những nước nghèo nhất – với những cỗ máy phát điện tự thiết kế, những giếng nước tự đào và đội tự vệ tư nhân – chúng được móc vào nền kinh tế thế giới và lọt thỏm giữa những người ngày càng có ít điểm chung với họ.
Anh đã đúng, anh Bob ạ, lịch sử không phải là một chuỗi những điều tồi tệ, nhưng cũng không phải là một tiến trình tuyến tính tiền định theo kiểu Karl Marx. Nhà triết học nắm bắt vấn đề này tốt nhất là Charles de Montesquieu. Trong cuốn “Tinh thần pháp luật”, ông nhìn nhận tiến trình lịch sử chỉ như là một sự cải tiến dần dần, bị ngắt quãng bởi vô số những thăng trầm.
Nhưng để khỏi mang tiếng là quá trái ngược, cho phép tôi tập trung vào “những trò chơi có tổng bằng 0“, xảy ra bên trong chính “những trò chơi có tổng khác 0” rộng lớn của anh. Theo cách hiểu này, thì không có sự trái ngược giữa hai chúng ta.
Tận hưởng và tận thế
Robert Wright
Tôi không thích bị buộc tội với lý do tôi cho rằng con người luôn xử sự hợp lý. Từ lâu tôi đã lập luận rằng, về mặt này, con người ở những vùng khác nhau rất không đồng nhất. Lịch sử luôn được bù trừ bằng cách bất cứ khi nào con người bị đè nén ở một nơi trên thế giới, thì ở một nơi khác, có những con người lại cầm ngọn đuốc lên tay. Vì thế khi những Hoàng đế La Mã sa đoạ và bắt đầu bộc lộ tính chất chuyên quyền độc đoán buộc người dân phải khuất phục và những nhóm người dã man giúp chúng ta tiêu huỷ Ðế chế La Mã, thì lại có rất nhiều đế chế khác xuất hiện và tiếp tục phát triển.
Nhưng tôi đồng ý rằng, một khi chúng ta tiến tới một cấp độ tổ chức toàn cầu, chính xác là chúng ta phải đối mặt với mối đe doạ mà anh mô tả, rằng chúng ta không còn có nhiều thử nghiệm trên thế giới. Nó ngày càng trở thành một thử nghiệm khổng lồ và nếu nó sụp đổ thì đó là một tin xấu trên bình diện rộng lớn. Ðó là một lý do giải thích tại sao tôi luôn nói rằng lịch sử còn hay hơn bất kỳ một cuốn tiểu thuyết nào. Nhân vật chính của câu chuyện này, tôi muốn nói tới nhân loại, đã bị đẩy đến thời điểm của một sự lựa chọn đạo đức và chính trị cơ bản không thể lay chuyển được. Một quyết định đúng đắn phụ thuộc vào mức độ khai sáng của chúng ta về đạo đức, một sự hiểu biết về những giá trị phổ quát của nhân loại. Và nếu chúng ta không thể đưa ra lựa chọn đạo đức đúng đắn, ngày tận thế chắc chắn sẽ xẩy ra. Chúng ta đang sống trong thời đại đầy kịch tính và tôi hoàn toàn ý thức rằng sự hỗn loạn là một viễn cảnh mà chúng ta phải đối mặt.
Hơi thở của Tinh thần trung cổ
Robert Kaplan
Tôi nghĩ rằng hỗn loạn còn hơn cả một viễn cảnh. Khi sự phân chia trong xã hội và các quốc gia dân tộc càng ngày càng lớn hơn, hỗn loạn rất có thể là điều không tránh khỏi. Một cộng đồng toàn cầu mới đang bắt rễ, nhưng bắt rễ từ trên xuống. Vào thời điểm hiện nay, cộng đồng đó chỉ nhỏ như làng Potemkin, nhưng trong tương lai nó sẽ không tiến triển mãi theo cách ấy. Tầng lớp trung lưu và tầng lớp thượng lưu – tôi gọi là “tầng lớp sành ăn mới” – đang hoà trộn vào nhau từ trên đỉnh. Nếu anh đã từng dự hội thảo thường niên Davos, chắc anh cũng kinh ngạc vì tính chất trung cổ của nó: anh chứng kiến tầng lớp tinh hoa của thế giới tụ họp nhau lại, hệt như việc tụ tập của giới quý tộc ở Ðức, Pháp và Anh hai trăm hoặc ba trăm năm về trước, những người có nhiều điểm tương đồng với nhau hơn là với những tá điền của họ ở nhà. Ý thức về bản sắc của chúng ta được quy định bởi tầng lớp kinh tế mà chúng ta là thành viên nhiều hơn là bởi quốc gia nơi chúng ta sinh sống. Thế giới đang chuyển động rất chậm chạp và không thể đảo ngược ra khỏi giai đoạn quốc gia dân tộc. Ðiều đó cuối cùng có thể dẫn tới điều gì đó tốt đẹp hơn, nhưng con đường đó đầy hỗn loạn.
Sự xung đột của những cách lý giải
Samuel Huntington, đồng sáng lập viên của tờ Foreign Policy và một trong những nhà chính trị học có ảnh hưởng hàng đầu trên thế giới, đã châm ngòi cho một cuộc tranh luận rộng rãi trong suốt thập niên 1990 bằng tiểu luận Xung đột giữa các nền văn minh mà trong đó ông cho rằng, những ranh giới văn hoá sai lầm sẽ thống trị thế giới Hậu Chiến tranh Lạnh.
Robert Wright:
Tôi nghĩ Tiến sĩ Huntington đã hơi cường điệu những rạn nứt giữa các nền văn minh. Thế giới có nhiều ví dụ về các quốc gia, với những di sản văn hoá khác nhau, đã duy trì quan hệ tốt đẹp và ổn định. Hoa Kỳ và Nhật Bản chỉ là một ví dụ. Ðồng thời, tôi cũng nhận ra rằng, lịch sử văn hoá là rất quan trọng và nó cũng có thể là nguồn gốc gây căng thẳng. Nhưng trong chừng mực ông ta có lý, điều khiến tôi băn khoăn là giải pháp phải trung thực với tinh thần văn hóa do ông đưa ra. Chẳng hạn, ông nói rằng Australia thực ra không phải là quốc gia châu Á, do đó nó không nên liên minh về thương mại với các nước châu Á, mà nên tham gia khối NAFTA mở rộng. Tôi cảm giác rằng đạo lý của câu chuyện đáng ra phải là ngược lại: Nếu quả thực sự rạn nứt giữa các nền văn minh là sâu sắc và đáng lo ngại (đôi khi đúng như thế), thì chúng ta càng cần phải nỗ lực đưa chúng xích lại gần nhau nhờ tổ chức siêu quốc gia, chẳng hạn các khối liên minh thương mại.
Robert Kaplan:
Tôi nghĩ rằng luận điểm của Samuel Hungtington rất xuất sắc, bằng chứng là nó làm cho mọi người nổi giận. Chỉ quan sát ba nước được gia nhập khối NATO: Hungary, Ba Lan và Cộng hoà Czech đều là những nước theo đạo Cơ Ðốc giáo phương Tây, còn những nước không được phép gia nhập (Bulgaria và Rumania) là những nước theo thế giới Chính thống giáo phương Ðông. Khi anh nhìn những đường biên giới của NATO, về cơ bản, đó là biến tướng của Ðế chế La Mã thần thánh ở thế kỷ XI. Nếu anh đi xuyên qua Trung Ðông, anh sẽ thấy căng thẳng ngày tăng giữa các ngôi làng Cơ đốc giáo và Hồi giáo. Tất cả những vụ sáp nhập đều xẩy ra giữa các công ty Hoa Kỳ và châu Âu. Dĩ nhiên chúng có sự khác nhau về văn hoá công ty, nhưng so với văn hoá công ty ở những nơi khác trên thế giới thì chúng có sự tương đồng. Trong 20 năm tới, những thách thức chủ yếu trong chính sách đối ngoại của chúng ta sẽ là giải quyết quan hệ với Trung Quốc. Có lẽ chưa bao giờ chúng ta có một đối thủ với khả năng bất đồng văn hoá lớn đến thế.
Nhưng nên nhớ rằng kịch bản của Huntington chỉ là một mô hình. Nó chỉ là một lập luận trừu tượng mà ta phải đánh giá dựa trên cơ sở là liệu nó có tốt hơn những cách khái quát hoá khác hay không. Tôi nghĩ rằng nếu dựa trên cơ sở đó, ông ta đã rất thành công, nhưng tôi cũng đồng ý với anh, Bob ạ, rằng giải pháp có thể là kết nạp Rumania vào NATO và bằng cách ấy thu hẹp khoảng cách để NATO không trở thành một pháo đài của Cơ đốc giáo phương Tây.
© 2003 talawas
Robert Kaplan là tác giả của 7 cuốn sách được hoan nghênh về tình hình thế giới:
Bóng ma của Balkan, Người nghiên cứu văn hoá Ả rập, Ngày tận thế của Trái Ðất, Tình trạng vô chính phủ đang đến... Ông cũng là một một nhà văn chuyên viết tiểu luận, phóng viên của Nguyệt san Atlantic (The Atlantic Monthly), Forbes (Forbes), Thời báo New York (The New York Times), Nhật báo Phố Wall (The Wall Street Journal) và Bưu điện Washington (The Washington Post). Hiện ông là nghiên cứu viên cao cấp của Quỹ Nước Mỹ Mới (New America Foundation).
Robert Wright là giáo sư thỉnh giảng của trường đại học Pennylvania, tác giả cuốn Nonzero: Logic số phận con người (Nonzero: The Logic of Human Destiny) và Ðộng vật cao cấp: Tâm lý tiến hoá và Cuộc sống thường nhật (The Moral Animal: Evolutionary Psychology and Everyday Life), đều do Vintage Books xuất bản. Ông cũng là cộng tác viên của Nguyệt san Atlantic (The Atlantic Monthly), Người New York (The New Yorker) và Thời báo New York (The New York Time). Trước đây, ông đã từng làm việc cho Tạp chí Khoa học. Chuyên mục “Kỷ nguyên Thông tin” do ông phụ trách đã được trao Giải Tạp chí Quốc gia về Tiểu luận và Phê bình (National Magazine Award for Essay and Criticism).
www.findarticles.com/m1181/2001_May/75029603/p1/article.html
[1]The Federalist Papers, hay The Federalist, là một seri gồm 85 bài tiểu luận do Alexander Hamilton, John Jay và James Madison viết từ tháng Mười năm 1787 đến tháng Năm năm 1788, in trên các báo ở New York dưới bút danh chung là “Publius” nhằm kêu gọi người dân bang này thông qua Hiến Pháp Hoa Kỳ.
[2]Tác phẩm của Adolf Hitler