Robert Reich
Những người Mỹ mô tả mình như người có thái độ tự do-phóng khoáng (19%) xấp xỉ cùng tỉ lệ với số tin rằng thế giới sẽ đi đến kết cục theo dòng tiến triển của họ (17%). Những người cánh hữu gièm pha hết sức ấn tượng thuật ngữ này (“người tự do nhợt nhạt”, “người tự do thuế-và-xài”, “người tự do xe limousine”), [1] và rằng chỉ một ít người tử vì đạo và khổ dâm mới tuyên bố công khai trung thành với động lực từng đem lại chiến thắng từ Franklin D. Roosevelt (FDR). [2] Từ ngữ được những người trung thành cánh tả ở nước Mỹ yêu thích là “tiến bộ”, được nghe từ hồi Roosevelt, Teddy, [3] một người Cộng hòa đã quật vào giới tư bản độc quyền và hân hoan xác quyết quyền lực chính quyền liên bang.
Chủ nghĩa tự do đầy sức sống của FDR tập trung vào công bằng xã hội vào lúc một phần tư công nhân mất việc trong đại suy thoái kinh tế, và rồi vào sự đoàn kết xã hội khi nước Mỹ bước vào chiến tranh thế giới II. [4] Ngày nay, nhiều trong số di sản song sinh này đã mất đi. Nhìn bên dưới những nhãn mác chính trị gần đây, người ta nhận ra một đất nước vẫn đeo bám những ý tưởng tự do rời rạc. Các cuộc thăm dò cho thấy, chẳng hạn, một đa số áp đảo người Mỹ ủng hộ trật tự xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, quy định lương tối thiểu, cũng như chăm sóc y tế cho người già (nhờ chính sách của Lyndon B Johnson), [5] những bảo vệ mạnh mẽ cho môi trường (đóng góp của Richard Nixon, [6] khá là ngạc nhiên), và thuế thu nhập từng phần. Phần lớn tin rằng chính quyền không có gì để mà chõ mũi vào đời sống cá nhân của người dân nếu không có nguyên nhân để tin rằng họ dính dáng đến tội phạm. Một đa số rất lớn ủng hộ quyền dân sự bình đẳng cho người da đen, phụ nữ, và các thiểu số sắc tộc. Và dù sự nghênh ngang của George W. Bush, phần lớn người Mỹ chống lại quyết định đơn phương của quyền lực Mỹ ở nước ngoài. Một đa số áp đảo tin rằng cần phải làm việc trong sự liên kết chặt chẽ với những đồng minh lâu đời, gồm cả Pháp. Những hênh hoang chói tai của cánh hữu trên radio và TV từ người dẫn các chương trình thảo luận, là không phản ánh cách nhìn của phần đông người Mỹ hay cách thức mà họ bất đồng với người khác.
Lằn ranh chính trị ở nước Mỹ hiện đại đã trở thành lằn ranh văn hóa. Đó là về tôn giáo, tính dục và vũ khí cầm tay (hay, như thường nói, Chúa, gay, và súng). Từ 11 tháng 9, chiến tranh văn hóa đã mở rộng đến vấn đề khủng bố toàn cầu. Phía bảo thủ, là những người Mỹ đi nhà thờ thường xuyên, tin rằng đồng tính luyến ái là sai trái đạo đức, muốn chính phủ cấm phá thai, kết tội việc sinh con ngoài hôn thú, [7] và nghĩ rằng họ có một quyền mà họ mong muốn và được Chúa ban sẵn, là sở hữu súng. Họ cũng muốn Hoa Kỳ tiêu diệt tất cả khủng bố, gồm cả bất kỳ ai thiên [cảm tình] cho những kẻ khủng bố. Hầu hết cộng đồng nghĩ theo cách này cư trú ở nông thôn và phần phía nam của đất nước, những thị trấn và thành phố nhỏ, những vùng ngoại ô hẻo lánh. Họ là đa số trong cái nay được gọi là “các bang đỏ”, sáng màu đỏ trên các bản đồ điện tử trên TV vào cuối tuyển cử năm 2000, khi thống kê cho thấy phần lớn cử tri nơi đó bỏ phiếu cho Bush. Họ ăn tối khuya với thịt, khoai tây và rau, xem Fox News, mua sắm tại Wal-Mart, thích những cuộc đua Nascar và đấu vật trên TV. Họ kiếm được khoảng 20.000-60.000 dollar một năm – một thành phần ở giữa trung lưu và công nhân, làm những công việc từ thợ máy đến nhân viên văn phòng, kỹ thuật viên thẩm mỹ đến nhà trị liệu vật lý, nhà quản lý và kỹ thuật cấp thấp.
Về phía tự do bên kia con đê văn hóa là những người đi nhà thờ thất thường nhất, những người dung chứa dễ dàng nhiều quan niệm tính dục, và nghĩ rằng chính quyền cần kiểm soát việc sở hữu súng, cấm súng cầm tay và súng trường. Họ tin chủ nghĩa khủng bố là một vấn đề phức tạp, đòi hỏi tình báo tốt hơn và những cách thức hiệu quả hơn để thắng con tim và khối óc người Hồi giáo mà nay đã có nhiều chọn lựa cho những nhiệm vụ liều chết. Họ có khuynh hướng sống ở những vùng trải rộng từ thủ đô ở đông bắc và vùng ven biển phía đông, ở những thành phố lớn và vùng phụ cận. Họ là đa số trong “các bang xanh” đã bỏ phiếu cho Al Gore. Khẩu vị của họ đa dạng và không theo những quy định tôn giáo. Họ xem chương trình của những hệ thống truyền hình lớn hay truyền hình nhà nước, chơi golf hay bóng chày. Phần đông họ kiếm được trong khoảng 60.000-200.000 dollar một năm, và số khác là dưới 20.000 dollar. Người tự do văn hóa có xu hướng gồm cả người giàu và người nghèo hơn là ở phía bảo thủ văn hóa – những nghề được trả lương trung bình như giáo viên, luật sư, nhân viên xã hội, hay những người được lương trả thấp như bảo vệ bệnh viện, nhân viên bán lẻ, nhân viên nhà hàng, khách sạn. Nói cách khác, họ có thái độ toàn thế giới hơn những người bảo thủ văn hóa, và cũng đa dạng hơn.
Tại sao lại là Chúa, gay và súng? Đó là những tác nhân thụ ủy hai tính khí riêng biệt, như một lưỡi dao phay chia tách nước Mỹ. Về phía bảo thủ là sự chuyên chế đạo đức, xem thách thức lớn nhất của quốc gia là giữ chắc những giá trị đã có lâu dài trong bộ mặt của những thay đổi kinh tế vĩ mô và xã hội. Sợi chỉ xuyên suốt hợp nhất niềm tin tôn giáo mạnh mẽ, những chuẩn mực tính dục cứng nhắc, và khăng khăng quyền sở hữu súng là khẳng định quyền thế điển hình của đàn ông. Phận sự của họ là gắn kỷ luật nghiêm ngặt vào những người có thể trệch khỏi những chuẩn mực đã thiết lập, và thắng cuộc ở điều lặp được đi lặp lại là “sự kiểm nghiệm ý chí”. Từ 11.9, điều này cũng thể hiện dưới hình thức hiên ngang ái quốc và hùng hổ ương ngạnh. Nước Mỹ, người bảo thủ văn hóa nói, phải duy trì một quốc gia mạnh nhất trên trái đất. Cách tốt nhất giải quyết khủng bố là chứng minh sự không khoan nhượng và không bao giờ dao động. Tốt hơn là được khiếp sợ thay vì được yêu thích; tốt hơn là kiên định thay vì không quả quyết. Nói một cách thô thiển, tổng thống cao bồi Cơ đốc giáo, George W Bush, là minh họa hoàn hảo của thế giới quan này. Điều dẫn đến, ông ta nói, “theo chúng tôi hoặc chống lại chúng tôi”.
Phía người tự do (tiến bộ) là niềm tin vào khoan dung, lý trí và luật pháp, như những nguyên lý của dân chủ. Người Mỹ có cách nhìn này xem mọi vấn đề công là có thể giải quyết bằng kiến thức đúng đắn và thích hợp, chủ thể hóa những phân tích khách quan, và sự cân nhắc đầy đủ. Tôn giáo và tính dục nằm ngoài lĩnh vực công vì chúng vốn dĩ là những vấn đề riêng tư. Một nền dân chủ có sức sống phải dung chứa những niềm tin khác nhau và những chọn lựa cá nhân. Sở hữu súng trực tiếp ảnh hưởng đến lĩnh vực công và, theo đúng nghĩa, là đối tượng điều chỉnh nếu có những nguyên do đúng để giới hạn nó (như có như vậy). Mở rộng ra, cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu đòi hỏi phải tài tình hơn là cứng rắn. Chúng ta phải thẳng thắn chấp nhận thực tế (Saddam Hussein không có vũ khí hủy diệt hàng loạt), nói với công chúng sự thật (Iraq không đóng vai trò gì trong ngày 11.9), áp dụng sự phân tích hợp lý (ưu tiên hàng đầu là không để vũ khí hạt nhân lọt vào tay những kẻ khủng bố tiềm tàng), và tôn trọng luật pháp quốc tế (hành sự thông qua Liên hiệp quốc và Nato, và không tra tấn tù nhân). Chúng ta cũng cần nhìn vào những nguyên nhân của chủ nghĩa khủng bố – oán ghét và mất hy vọng kích thích nó. Nếu muốn hiểu John Kerry, không cần nhìn đâu thêm nữa [ngoài những điều này].
Người bảo thủ đạo đức lên án người tự do không có phương hướng đạo đức chính xác, là những người “tương đối chủ nghĩa về đạo đức” và những “người hay dao động”. Những cáo buộc này lùi về trước chiến dịch tranh cử tổng thống 2004. Người bảo thủ e ngại người tự do sẽ phản bội nguyên tắc của họ vì họ không biết họ đại diện điều gì. Thực tế, người tự do hoàn toàn có những niềm tin mạnh mẽ (lặp lại: khoan dung, lý trí, thảo luận dân chủ, hành xử theo luật pháp), nhưng những niềm tin này dường như là một tiến trình hơn là một thực thể cố định, và không thêm thắt trong những diễn văn cực ngắn. Với người tự do, hầu hết các vấn đề là phức tạp và nhiều sắc thái. Thái độ này khiến những người chuyên chế đạo đức cáu tiết. Về phần mình, người Mỹ tự do e ngại phe bảo thủ cánh hữu là những người cuồng tín ngoan cố và bất khoan dung, bắn trước khi nghĩ. Lịch sử gần đây dường như minh chứng cho những e ngại này.
Các kỳ bầu cử tổng thống Mỹ thời hiện đại thể hiện những thế giới quan trái ngược này, ít ra là từ 1964. Bắt đầu với bỏ thầu thất bại của Barry Goldwater trong năm đó, và tiếp tục qua Nixon, Reagan, và hai cha con Bush, cánh hữu mới đã nhấn mạnh sự chuyên chế đạo đức và nhu cầu uy thế và kỷ luật để buộc thi hành nó. Ngược lại, Jimmy Carter, [8] Bill Clinton, Gore, và nay là Kerry, tập trung chiến dịch của họ vào khoan dung, lý trí và dân chủ. Ứng viên Cộng hòa luôn nhắc về sự cứng rắn và quyết tâm, trong khi người tự do nói về sự đúng đắn và suy nghĩ các vấn đề thông qua nó. Khi cân nhắc, cứng rắn và quyết tâm đã chứng minh là cái dễ rao bán, đặc biệt khi cử tri Mỹ lo lắng về một vấn đề lơn.
Công bằng xã hội là gì? Phần này trong di sản tinh thần tự do của FDR đã bị che khuất do cuộc chiến văn hóa. Kỳ lạ, khi vấn đề lớn nhất mà cử tri lo âu là công ăn việc làm và chi trả, và việc chi trả (cả lương và phúc lợi công việc) của hầu hết người Mỹ đã đi xuống trong hai thập niên qua, lại được điều chỉnh do lạm phát. Hố ngăn cách giữa giàu và nghèo ở nước Mỹ ngày nay rộng hơn bất kỳ lúc nào khác từ khi các bá tước ăn cướp ở cuối thế kỷ 19 độc quyền hóa kỹ nghệ và đút lót cho chính quyền để không động gì đến nó. Vậy mà, trong những năm gần đây, các ứng viên Dân chủ lại không chú mục vào vấn đề này. Họ đã sang nhượng cách nhìn tập quán rằng chủ nghĩa dây túy kinh tế không sang nhượng được vì phần đông người Mỹ vẫn muốn và trông đợi trở nên giàu có vào ngày nào đó. Điều đó vô giá trị: chuyển động đi lên có chính một nền khiến đi tới khập khểnh. Và còn lý luận luẩn quẩn của nó. Chủ nghĩa dây túy kinh tế sẽ rao bán nếu các chính trị gia Dân chủ giải thích với công chúng điều đã diễn ra và lý do của nó. Và để tăng uy tín của mình, Kerry không né tránh vấn đề. Ông hứa chấm dứt việc cắt giảm thuế cho những người kiếm hơn 200.000 dollar một năm và sử dụng tiền thu được từ đó vào việc tăng điều kiện chăm sóc y tế cho thành phần lao động và người nghèo.
Nước Mỹ đang chia thành “hai quốc gia” (như John Edwards, ứng viên phó tổng thống Dân chủ nói) vì hai thế lực sinh đôi, toàn cầu hóa và biến đổi công nghệ, đang tưởng thưởng cho thành phần có học thức và có những liên hệ tốt, trong khi lại trừng phạt giới ít học thức hơn và không có nhiều quan hệ. Làm gì với điều này? Có nhiều giải pháp không đòi hỏi chính sách bảo hộ hay một chủ trương mới chống cơ giới hóa; các giải pháp có nhiều nơi di sản tự do của FDR, nhưng lại quá ít nơi những người tự do ngày nay khi thảo luận về chúng, và công chúng Mỹ không có đầu mối cho vấn đề. Người ta nghe họ thảo luận phần lớn trong các bức tường kiêu kỳ của các thành phố đại học, như Cambridge, Massachusetts, Berkeley, và California, mà cư dân những nơi này nói và thuyết phục lẫn nhau rằng phần còn lại của quốc gia hẳn đang nói cùng những vấn đề. Người ta hy vọng các thảo luận sẽ rộng khắp hơn nếu Kerry và Edwards thắng cử.
Robert B Reich là giáo sư môn Chính sách Kinh tế và Xã hội tại Brandeis University, giáo sư thỉnh giảng tại University of California, Berkeley. Cuốn sách mới nhất của ông là
Lý trí: lý do những người tự do sẽ thắng trong trận chiến vì nước Mỹ (
Reason: why liberals will win the battle for America). Ông là Bộ trưởng Lao động dưới thời Bill Clinton.
Xem thêm: “Hiểu người Mỹ qua bầu cử”
http://www.bbc.co.uk/vietnamese/worldnews/story/2004/10/041005_uselections_mainthoughts.shtml
© 2004 talawas
[1]Loại xe hơi sang trọng, to, dài, có kính ngăn giữa tài xế và người đi xe.
[2]Franklin Delano Roosevelt: Tổng thống thứ 32, Dân chủ, đề ra chính sách Thỏa thuận mới (New Deal) vượt qua cuộc đại suy thoái những năm 1930, và lãnh đạo đất nước trong thế chiến II.
[3]Theodor (Teddy) Roosevelt: Tổng thống thứ 32, Cộng hòa, lãnh đạo cuộc chiến Mỹ – Tây Ban Nha và xây dựng kênh đào Panama.
[4]Cũng nên nói thêm: từ những ý tưởng được Franklin Roosevelt nêu lên từ mười sáu năm trước, năm 1960 Đảng Dân chủ đưa ra Cương lĩnh với cái được gọi là “lương tâm quốc gia”, xác quyết những điều mà nay đã trở thành chuẩn mực trong đời sống xã hội tại các quốc gia phát triển. Đó là nghĩa vụ của nhà nước và xã hội bảo đảm cho công dân quyền có công ăn việc làm, có thu nhập thỏa đáng, quyền của người nông dân có được lợi nhuận từ sản phẩm, quyền của mọi doanh gia không bị chèn ép bởi sự cạnh tranh độc quyền, quyền được chăm sóc y tế, quyền được bảo vệ trước nguy cơ của tuổi già, ốm đau, tai nạn, thất nghiệp, quyền có được một nền giáo dục tốt… Cương lĩnh này cũng từng gặp sự chống đối của người Cộng hòa và các lý luận thiên Cộng hòa.
[5]Lyndon Baines Johnson: Tổng thống thứ 36, Dân chủ, nguyên là Phó tổng thống, tiếp nhiệm sau khi Kennedy bị ám sát.
[6]Richard Nixon: Tổng thống thứ 37, Cộng hòa, phải từ chức khi chưa hết nhiệm kỳ do vụ bê bối Watergate năm 1974.
[7]Có lẽ cần liệt kê thêm ở đây là họ chống việc nghiên cứu tế bào gốc (sterm cell; còn gọi là tế bào chủ, tế bào dòng, tế bào nguyên thủy), dù điều này mở ra triển vọng cao trong việc cứu sống hàng triệu người ở những chứng bệnh hiểm nghèo, vì khi cấy vào một mô nào đó, tế bào gốc sẽ phát triển thành tế bào thuộc mô đó, thay thế tế bào chết hoặc bệnh, phục hồi chức năng; do ban đầu loại tế bào này lấy từ phôi người, mà theo quan điểm của Giáo hội là phá hủy một phôi là giết chết một con người. Hiện nay tế bào gốc đã được tìm thấy ở tủy xương, nhau thai (và có cả thông tin là từ mỡ thừa ở người), nhưng quan điểm này vẫn không thay đổi.
[8]Jimmy Carter: Tổng thống thứ 36, Dân chủ.