1.
Xã hội hết sức bất mãn với thực trạng giáo dục. Và với một nỗi lo đầy tinh thần trách nhiệm, mọi người cùng chạy đôn chạy đáo tìm nguyên nhân và tìm thang thuốc. Con mắt thầy lang ngước nhìn trần nhà ưu tư, mấy ngón tay cẩn thận nhăm nhăm bấm bấm chỉ vào cái cổ tay người bệnh. Hiếm ai đi tìm xem cái môi trường sinh bệnh thực sự ra sao. Chưa thấy mấy ai phát biểu rành mạch vì sao qua xét nghiệm cái con vi rút chết tiệt bé tí teo lại mang cái tên hết sức đơn giản, ngày nào cũng được con người ra rả gọi nó là con quá độ?
Quá độ là gì? Nhớ lại, cách nay chừng vài bốn chục năm, giáo sư Trần Văn Giàu khi giảng nghị quyết từng tươi cười định nghĩa “quá độ” là “qua đò”, nghĩa là “chưa sang tới bên kia sông mà cũng chẳng còn ở bên này sông nữa.” Hoàn cảnh khi đó chưa cho phép giáo sư đáng kính đi sâu nói rõ, nói thật cụ thể, nói rồi làm có định hướng giữa cái nỗi chông chênh chiếc bách chở đầy bách tính giữa dòng kia.
Nhưng có lẽ bây giờ là lúc nên dần dần nói kỹ chuyện lênh đênh qua đò đi thì… sắp muộn.
Trước hết, qua đò vừa là nhiệm vụ của Ta lại vừa là xu thế của Loài người buộc Ta không “qua đò” không xong. Thật đấy, chứng cớ là ngay những người thủ cựu nhất thì ít ra ngày nay trong nhà cũng có toa lét ở sát bếp ăn, cũng xem ti vi và đi ô tô buýt; đó mới chỉ kể vài ba thí dụ.
Điều đáng chú ý và lại rất quan trọng, ấy là trong cái tư thế qua đò này, con người vừa muốn vừa không muốn làm (nhập vào xu thế toàn cầu hoá) vừa có lực lại vừa không đủ lực làm (những phương diện kỹ thuật của vấn đề), nhưng lại vẫn bị buộc phải làm (xu thế thời đại). Xin đừng nghĩ xa vội, hãy nghĩ về điều đó ngay trong nhà mình: bây giờ mà xây nhà nhưng lại chủ trương không làm toa lét, rồi yêu cầu các cậu ấm cô chiêu ra sau vườn mà “relieve yourselves“, thì chủ tài khoản có thể sẽ bị tống ra sau vườn, cho dù đã bắt chước con cái đi học mấy khoá tiếng Anh. Nhìn rộng khỏi một gia đình, có thể tìm chứng cứ trong mọi mặt hoạt động, từ bóng đá đến y tế, từ nghiên cứu cao sang về “con người” đến tỉ mẩn chống buôn lậu và ma tuý, phòng mại dâm và hát i vê.
Mọi chứng cứ đều cho thấy ai đó vừa mang máng thấy cái gì đó ở chân trời, lại vừa chả hiểu cái gì đang đón chờ mình dọc đường. Tóm trong một câu: con người đang sống trong một thời đại chưa hẳn đã tự động trở thành con người thời đại. Nói giọng triết học và theo tinh thần tích cực, con người thời đại tất yếu phải là con người sống và làm theo đúng bối cảnh thời đại để tiến lên cùng thời đại.
2.
Thực trạng qua đò ấy chi phối cuộc thảo luận mà chúng ta rất quan tâm, vì nó không như cây cầu gãy có thể làm lại trong nháy mắt (so với quãng dài lịch sử) mà nó liên quan đến chuyện trăm năm ngàn năm sau: giáo dục. Nó lỉên quan đến chuyện dân tộc sẽ hội nhập trong tư thế bằng vai phải lứa hay chỉ là lũ lính cửu vạn sang trọng. Nó liên quan đến chuyện sau khi đã qua đò thì còn có ý thức và có đủ sức đi đâu xa hơn nữa, chứ chẳng nhẽ qua sông rồi thì chả biết làm gì với sóng?
Thế nhưng sự thiếu am tường bối cảnh rất dễ dẫn cuộc thảo luận đến ngõ cụt, và đó lại chính là rắp tâm của những kẻ tham nhũng muốn xã hội cứ cãi nhau, tiền chùa ta cứ lẳng lặng ta ém nhẹ ta tiêu.
Cuộc thảo luận xoay quanh khủng hoảng giáo dục hiện thời. Và sự cãi vã cũng xoay quanh bệnh án.
Cuộc khủng hoảng đó lồ lộ ở trong từng gia đình, nên chẳng ai giấu nổi ai. Nuôi con đủ mười-hai-năm-đèn-sách, thi xong không có việc làm vì không có kỹ năng để tự tạo bất kỳ một tay nghề nào. Mà nào cha mẹ có tiếc gì chúng: một học sinh lớp 1 ngày nay, dù ở miền núi cao vất vả, cũng phải được trang bị một bộ đồ có tên gọi mỹ miều là đồ dùng học tập nặng chừng 6 cân kí-lô và giá dao động từ 15 đến 25 ngàn Việt Nam đồng. Mà cha mẹ còn hào phóng với chúng biết mấy nữa chớ: còn nhà nào là không cho con học thêm, không mua thêm sách tham khảo, rồi còn ti tỉ những phong trào tốn tiền, bé thì Một tháng Sáu, Tám tháng Ba, lớn thì Một tháng Tư, choai choai thì lăng xăng Va-lăng-tai bất kể đó rất có thể là một tai hoạ văn hoá lạ hoắc.
Có người vẫn bênh vực và ăn theo cái xu hướng khoe “thành tích” theo luận điểm cơ hội quen thuộc “cơ bản tốt”. Bên cạnh thói quen giáo điều, tư duy lười biếng và nói năng hời hợt cố hữu ấy, còn có sự ngậm miệng ăn tiền. Khủng hoảng cứ khủng hoảng, nhưng nếu miềng khéo thì vẫn khai thác trúng vào xu thế khoa cử, vẫn lợi dụng được tâm lý dân tộc con gà tức nhau tiếng gáy ngay trong từng gia đình và dòng họ ở trong từng bụi tre làng. Cái chốn suy cho cùng vẫn chưa thấy thế giới thực có mặt mũi ra sao ngoại trừ những “thực tại” lạ nữa, khéo nữa, giỏi nữa trong các “Danh gia vọng tộc” cùng những mối tình bốc lửa nơi xứ tuyết.
Xã hội thực ra đã nhìn thấy khủng hoảng trong giáo dục, nhưng chuyện đó tương đối không khó. Nhìn và đánh giá được cách làm giáo dục nhằm làm cho nó thoát khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay thì khó hơn rất nhiều. Vì vậy, xã hội chưa thể dễ dàng đồng ý với nhau về hiện trạng nền giáo dục hiện nay là không có đường lối mang tính thời đại mà nếu nó có những nỗ lực nào đó thì cung cách làm ăn vẫn vá víu. Một nền giáo dục (chẳng rõ các ngành khác có hơn không?) vẫn đi theo cung cách À! chết thôi! và tìm cách đưa ra những điều được giải thích lấp miệng em là những “biện pháp tình thế”.
Xã hội chỉ thấy bất bình, nhưng các phản ứng và những ý kiến đóng góp về vấn đề đó lại không thống nhất. Nói cho đúng là không thể thống nhất vì xã hội không có trách nhiệm hoạt động như những chuyên gia.
Trước hết, đó là sự tức bực trước thực trạng nhưng không rõ nguyên nhân vì đâu, không biết đổ lỗi cho ai. Trong từng gia đình thì phụ huynh học sinh lầu bầu, nhiều khi còn sinh ra mất đoàn kết, vợ đổ tội con học dốt vì “di truyền” chồng và chồng dại gì mà không bảo đó là do “di truyền” mẹ? Cũng may là đã có những “lương tâm xã hội” giúp các bậc cha mẹ nói toáng lên những điều chỉ cắn rứt nhau sau khi khép cánh cửa buồng. Ta gặp trên báo chí nhiều bài viết nảy lửa của những con người nhạy cảm, đứng hàng đầu là những nghệ sĩ, nhà văn và nhà thơ. Khốn thay, những phản ứng loại này lắm khi như thể chỉ để hả giận, nhưng không mảy may tìm ra lối thoát mang tính nghiệp vụ. Và càng không mảy may đụng chạm đến những người tăng lương thăng chức ngay trong khủng hoảng.
Thực ra, cũng vẫn có những phản ứng và ý kiến đầy thiện chí và có tính nghiệp vụ của chuyên gia. Tiếc thay, chuyên gia thời đại thường quá chuyên sâu, nên việc gợi ra các giải pháp thường chuyên về nghiệp vụ riêng. Nếu nhìn tổng thể các đóng góp của chuyên gia, thấy quả thật là rời rạc, các quan điểm xa nhau, có khi chống lại nhau. Có chuyên gia ngây thơ, nghĩ ai ai cũng như mình, đã đề nghị chẳng hạn như chỉ cần “tăng cường nghiên cứu” là giáo dục sẽ ổn định. Có biết đâu rằng giờ đây rất nhiều “nhà” không thể nào thật sự tự nghiên cứu nữa rồi! Rất nhiều người nghi ngờ các “luận án” trên đại học, tuy rằng chưa có công trình nào đi sâu điểm lại chuyện đó một cách định lượng.
Cảnh đóng góp ý kiến đầy hào hứng và tuỳ hứng này lắm khi cũng chứa nhiều điều lạc hậu. Vớ vẩn nhất là chủ kiến đưa giáo dục quay về với những giá trị Khổng Nho, hô hào những “gia phong” và những “học Lế học Văn” một cách siêu hình và vô hiệu quả, vì quá xa lạ với thời đại. Làm sao có thể chữa chạy một đô thị cao tầng bằng hô hào quay về với những mái nhà tranh với những trái tim vàng? Có cả những ý kiến đòi cho trẻ em học chữ Nho, mà không thấy rằng, trường phổ thông không dạy nghề nghiên cứu Hán-Nôm hoặc nghề dùng ngoại ngữ, mà chỉ chuẩn bị cho trẻ em những kỹ năng đúng của bất kỳ ngoại ngữ nào để dùng trong trường học nghề sau đó. Về thi cử, người ta tranh cãi nên thi trắc nghiệm hay thi tự luận, mà không thấy rằng trước hết phải thống nhất với nhau về khoa học đánh giá thì rồi sau đó mới đến được các giải pháp đánh giá cho từng trường hợp cụ thể. Chẳng hạn, trong một cuộc tuyển dụng chỉ diễn ra một giờ và cần đo hàng chục ngàn người xin tuyển, dại gì mà không dùng trắc nghiệm? Nhưng nếu cần đo trình độ tư duy lô gích, khả năng huy động những kiến thức vững chãi của thí sinh, thì dùng luận văn là rất tốt, hoàn toàn không thể dùng những Chiếc nồi kỳ diệu mong đựng cơm Thạch Sanh đem nuôi trẻ em leo lên cái đỉnh núi huyền thoại lè tè đoán mò nào đó.
3.
Thật là điều đáng tiếc khi xã hội chưa nhìn ra một loại phản ứng hoàn toàn khác mang tính chuyên nghiệp nằm trong những giải pháp nghiệp vụ Công nghệ Giáo dục (CGD). Đối với hệ thống giải pháp này, xã hội vẫn còn nửa tin nửa ngờ. Một số ít chuyên gia không xem xét nó kỹ, vì cho rằng hễ mình đã là nhà trí thức thì nhất định mình hiểu ngay mọi điều, kể cả những giải pháp CGD. Cũng chẳng nên trách nhiều người khác không quan tâm cách thức cải tổ giáo dục, chỉ cần biết con tôi học hành ra sao thôi. kể cả khi con em họ bị lùa vào con đường học hành cũ nát (chỉ cần đỗ đạt, vào vài trường đại học, tốt nghiệp được đội mũ bình thiên…).
Chính vì cần huấn luyện lại cái dư luận xã hội như thế mà hệ thống CGD đã phải có cách làm khác với mọi cách làm từng có trong lịch sử.
Trước hết, CGD tự xác định “nghiên cứu” vào thời đại mới không phải là những cuộc diễn thuyết dài dòng, lề mề, những bài viết trích dẫn tờ A tờ B với vẻ sang trọng cao đạo. Nghiên cứu dích thực vào thời đại này là tạo ra một cách làm trên thực địa. Cái sản phẩm trên thực địa ấy tiếng Anh gọi bằng pilot với ý nghĩa dẫn đầu, và cũng ưng nói là demonstration plot với ý nghĩa như thửa ruộng mẫu cho nông dân nhìn rõ mà theo).
Trong cái sản phẩm đầu tầu ấy, nhà nghiên cứu kiểu mới chủ động tạo ra một thực tiễn theo đòi hỏi cao nhất của lý thuyết. Nghề nghiên cứu không còn nữa cái chuyện lè nhè “các đồng chí à… nên làm thế này… nên sáng tạo thế kia”, mà dứt khoát, quyết liệt: hãy nhìn vào đây, đừng chỉ nhìn riêng sản phẩm, mà nhìn cả cách làm ra sản phẩm đó, và chúng ta cùng làm tiếp cho nó cao hơn. Nhà nghiên cứu không còn khoe khoang số đầu sách in bằng tiền Nhà nước, có cuốn mang tên mình, có nhiều cuốn “chủ biên” như một phương thức tạo ra tên tuổi theo cung cách trôm cướp hiện đang diễn ra.
Nhiều người tìm ra cách vô hiệu hoá những đóng góp có thật của CGD trong một phần tư thế kỷ qua mà chỉ chi tiêu chừng 10 ngàn đô-la Mỹ. Những đóng góp của CGD trước hết cho thấy, muốn thay đổi nền giáo dục khủng hoảng hiện thời, phải thay cả Hướng đi và Cách làm. Hướng đi của cuộc Cải cách Giáo dục thực sự là hiện đại hoá nó. Và cách làm đúng chỉ có thể là thay đổi công nghệ thực thi. Không còn con đường nào khác. Giống như đất nước ta phải hiện đại hoá bằng con đường công nghiệp hoá. Không còn con đường nào khác.
Đến đây, những sự hiểu lầm vô tình và cố ý cùng hùa vào mà la lối: sao lại đem “công nghệ” úp lên đầu con em chúng tôi? Hãy bình tâm thì sẽ thấy: công nghệ trong giáo dục tìm ra những việc làm của học sinh để các em làm từng việc trong cả chuỗi “công nghệ” và chính các em cũng chiếm lĩnh được trí khôn nhân loại. Hãy nhìn thì sẽ rõ: công nghệ trong giáo dục là không để giáo viên giảng giải tuỳ tiện, mà họ chỉ có nhiệm vụ dắt dẫn học sinh đi tìm chân lý theo những bản thiết kế quen gọi như là những “sách giáo viên”. Nhưng đó là những sách dùng cho giáo viên trừ đi những điều rông dài và thay vào là những cách giao việc cho học sinh, cách làm mẫu thao tác cho học sinh và cách kiểm tra sản phẩm của học sinh, kể cả sản phẩm rất khó thấy trong tư duy các em.
Trong thực tiễn của đời sống hiện đại không riêng của Việt Nam, không ai dám nói chắc rằng chỉ có riêng công việc mình làm là đã đến được chân lý. Vì thế, hướng đi và cách làm nói trên, dù được các nhà nghiên cứu CGD coi là chân lý của mình, song muốn bảo đảm tính khách quan khoa học, chúng sẽ phải được điều chỉnh thường xuyên qua hệ thống thực nghiệm Giáo dục. Hệ thống thực nghiệm đó sẽ cho ra đời một chỉnh thể giáo dục càng ngày càng được nâng cao dần hạn chế được sai lầm đến mức thấp nhất. Hệ thống thực nghiệm đó không tiến hành qua loa nhằm thu một số chữ ký để hợp thức hoá những khoản tiền không kiểm soát nổi để làm ra những bộ sách nhăng cuội. Hệ thống thực nghiệm CGD phải tiến hành suốt đời, còn giáo dục thì còn thực nghiệm, luôn luôn tự tạo những pilot, những demonstration plot nâng cao dần theo đòi hỏi lịch sử trong thời gian để trở thành cái phổ quát trong thời gian lịch sử.
Xét trên ý nghĩa đó, Công Nghệ Giáo Dục khác hẳn sự máy móc bắt trẻ em ngồi đẹp nghe giáo viên giảng giải và nhại lại những lời vàng ngọc rất đáng ngờ là chưa đủ ba số 9.
Cũng xét trên ý nghĩa đó, Công Nghệ Giáo Dục là sự tuyệt đối khiêm tốn, luôn luôn mầy mò đi lên phía trước cùng thời đại và cùng dân tộc. Nó hoàn toàn khác hẳn sự dương dương tự đắc kiểu các ông Thánh ông Hiền, những bậc chân tu mà chưa chắc bàn tay họ đã chịu đi tu.
4.
Nên kết luận gì?
Cải cách giáo dục thực sự không nằm trong tay một viên bộ trưởng dù vị này giỏi bao nhiêu chăng nữa. Một nhà triết học đương thời trong Hội thảo ngày 23-12-2003 tại trụ sở báo Nhân dân nói: Bộ trưởng như người lái xe, người ấy chỉ giỏi khi dùng được năng lực lái xe của mình trên con đường tốt, với cái đích tới rõ ràng.
Phải nghĩ và làm khác đi. Phải huy động cái năng lực và cái trách nhiệm cao hơn một viên bộ trưởng khi ra các quyết định về giáo dục. Những quyết định đó lại phải có hướng đi và cách làm rõ ràng, hết sức tránh tình trạng nước đến chân mới “À!” rồi tiện thể nhưng rất sáng suốt vạch ra tại chỗ những chỉ đạo mang tính chất giải phát tình thế.
Để tránh hồ đồ, xã hội có cách làm đơn giản vô cùng: bắt đầu bằng học cách đối xử khoa học, dân chủ, không thiên vị và không tham nhũng đối với các giải pháp nghiệp vụ đang có, và để chúng thi đua nhau xem đâu là giải pháp thật, đâu là giải pháp rổm.
Biệt thự Thu Trang, 16-3-2004
© 2004 talawas