Nguyễn Trọng Tín
Từ ngày đổi mới đến nay nhiều người thường nói đến nội lực và phát huy nội lực. Cũng đã có người viết về đề tài này, tuy nhiên lại chẳng chịu làm rõ nội lực là gì. Chính vì vậy, khi đề cập đến việc phát huy nội lực đã không tránh khỏi kiểu nói chung chung, không đi vào cụ thể hoặc nếu có thì cũng còn tản mạn, không có tính hệ thống do thiếu một tầm nhìn khái quát. Về mặt chữ nghĩa thì nội lực là sức mạnh nội tại, sức mạnh bên trong. Nhưng sức mạnh nội tại, sức mạnh bên trong của cái gì? Và như thế, để có thể trả lời thì hẳn nhiên nội lực phải gắn với một thực thể nhất định: một cơ quan, một địa phương, một vùng, một quốc gia… Đến đây chúng ta cần phải thực hiện một thao tác hết sức quan trọng: cần phân định rõ hai loại thực thể.
- Các thực thể là đơn vị độc lập có quyền tự quyết những vấn đề của mình – nói theo ngôn ngữ Vật lý học: hệ cô lập hay hệ kín;
- Các thực thể là đơn vị phụ thuộc hoặc chịu sự can thiệp từ bên ngoài – hệ hở.
Đối với loại thứ hai, do các thực thể này là những đơn vị không độc lập, không có quyền tự quyết những vấn đề của mình vì thế rất khó khái quát hoá nội lực.
Với các thực thể loại thứ nhất có thể phân chia làm hai loại như sau:
- Các thực thể độc lập, có quyền tự quyết các vấn đề của mình và ở đấy có sự hiện diện quyền chủ sở hữu tư nhân các thực thể ấy;
- Các thực thể độc lập có quyền tự quyết các vấn đề của mình và ở đó không tồn tại quyền chủ sở hữu tư nhân các thực thể này.
Bài viết này chỉ xin đề cập tới thực thể mà ở đó không tồn tại quyền chủ sở hữu tư nhân: một quốc gia.
Như chúng ta đã biết, mỗi quốc gia có ba nguồn lực: nhân lực, trí lực và tài lực. Có thể xem nội lực của một quốc gia là véc-tơ tổng của ba nguồn lực trên.
Trước khi bàn đến nguồn lực đầu tiên – trí lực, có lẽ cũng phải làm rõ ý của tiền nhân về việc phân tách trí lực với nhân lực. Bởi lẽ có thể có người sẽ đặt câu hỏi: nếu tách trí lực ra khỏi nhân lực như thế liệu có ổn không? Bàn về nhân lực – nguồn lực con người – mà không gắn với trí tuệ của nguồn nhân lực ấy liệu có thuyết phục?
Thực ra ở đây đã có sự hiểu lầm nho nhỏ. Có hai cấp độ của trí tuệ. Trí tuệ thông thường của nguồn lực con người, đủ để giúp họ hoàn thành sứ mệnh là lực lượng lao động có những sáng tạo nhất định trong công việc, hiện diện trong đa số chúng ta. Sức mạnh của trí tuệ cấp độ cao là khi mà những sáng tạo của nó tạo động lực mạnh mẽ, làm thay đổi hẳn bức tranh phát triển của một đất nước là trí lực.
Vậy một lần nữa cần nhắc lại rằng khi bàn đến trí lực của một quốc gia có nghĩa rằng chúng ta đang bàn đến sức mạnh của trí tuệ – tạo ra những tiến bộ xã hội rất lớn lao. Với ý nghĩa như thế, chúng ta hoàn toàn có thể đặt dấu gạch nối giữa trí lực với việc hoạch định chiến lược phát triển ở tầm vĩ mô.
Không khó để nhận thấy rằng công việc hoạch định chiến lược phát triển ở tầm vĩ mô (mà ta có thể gọi nôm na là đường lối, chủ trương, chính sách) và thực thi chiến lược ấy gắn liền với bậc hiền tài. Chỉ có nhân tài mới làm nổi công việc hoạch định lớn lao ấy, và chỉ có hiền nhân mới đủ uy đức để tiến hành việc thực thi chiến lược phát triển ấy. Kết hợp lại ta có bậc hiền tài. Vậy với trí lực, vấn đề là ở chỗ biết sử dụng hiền tài. Biết trọng dụng hiền tài là biểu hiện đầu tiên của một đất nước có trí lực.
Chúng ta có thể lấy ví dụ để minh hoạ cho sự biểu hiện của trí lực trong vấn đề hoạch định chiến lược phát triển ở tầm vĩ mô: sự phát triển thần kỳ của Nhật Bản. Lịch sử của đất nước mặt trời mọc bắt đầu sang trang với Minh Trị thiên hoàng. Ông vua anh minh này đã tuyển chọn những thanh niên trẻ tuổi có tài gửi ra nước ngoài – những nước có trình độ phát triển cao thời bấy giờ để học tập, trên mọi lĩnh vực: khoa học kỹ thuật, tài chính, ngân hàng, luật, bảo hiểm, thương mại, quản trị, v.v…
Quan trọng hơn, ông đã cho mời các chuyên gia về hệ thống nhà nước dân chủ phương Tây tới Nhật Bản để giúp nước này xây dựng thể chế mới, trên cơ sở đó thiết lập các thiết chế tương ứng, phù hợp với điều kiện cụ thể của đất nước, tương thích với văn hoá Phù Tang.
Chính thể chế và các thiết chế mới này đã tổ chức và vận hành xã hội Nhật Bản theo một chiều hướng khác, tạo dựng một xã hội mới có khả năng tổng hợp sức mạnh của từng cá nhân để tạo nên sức mạnh của toàn dân tộc. Như thế, Minh Trị thiên hoàng đã đẩy nước Nhật tiến vượt bậc khởi đầu từ tầm nhìn của một trí tuệ hơn người trong việc hoạch định chiến lược phát triển.
Đó là nói chuyện xứ người, nay xin nói chuyện ở ta cho gần gũi. Việc giao lại ruộng đất cho nông dân và – nói như Lenin – “để cho người nông dân suy nghĩ trên luống cày của họ” đã đem lại kết quả ngoài cả sự mong đợi. Khó có thể coi đây là một sách lược có tính sáng tạo, thực ra chỉ đơn giản là chúng ta đã để cho mọi việc diễn ra theo như những gì nó cần phải vậy. Nhưng quyết định sáng suốt này cũng là sản phẩm của một trí tuệ lớn, biết nhận ra chân lý đơn giản: tính chất sở hữu quy định tính trách nhiệm. Và thế là người nông dân gắn bó với ruộng đồng. Kết quả là đất nước không còn thiếu lương thực như đã từng dai dẳng thiếu.
Nhân lực – nguồn lực con người – là lực lượng lao động trên khắp các lĩnh vực. Từ đội ngũ công chức hành chính các cấp, cán bộ công nhân viên trong giáo dục, nghiên cứu khoa học, y tế… đến lực lượng lao động sản xuất và dịch vụ thuộc đủ mọi ngành nghề của nền kinh tế. Sức mạnh của nguồn nhân lực thể hiện ở tính chuyên nghiệp, trình độ chuyên môn cao và kỹ năng ngành nghề thông thạo.
Những điều vừa đề cập gắn liền với giáo dục. Để có nguồn nhân lực mạnh phải khởi sự từ giáo dục và chỉ có thể cậy nhờ vào một nền giáo dục tiên tiến. Cần để ý rằng nguồn nhân lực là sản phẩm trực tiếp của giáo dục trong khi trí lực thì không. Trí lực là sản phẩm gián tiếp của giáo dục và có gốc từ giáo dục. Tri thức tiếp thu từ giáo dục, thông qua những bộ óc thông tuệ, trong ánh chớp của phút giây trí tuệ thăng hoa đã trở thành những quyết sách quan trọng tạo dấu ấn của nhân tài.
Tài lực – chủ yếu là nguồn tài nguyên thiên nhiên, đất đai, vị trí địa lý, cảnh quan tự nhiên, điều kiện khí hậu, di sản văn hoá, của cải và tiền bạc của nhân dân (do người dân hoặc nhà nước nắm giữ) – là nguồn lực cuối cùng. Khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên hiệu quả đồng thời phải gắn với bảo vệ môi trường môi sinh, giữ được cân bằng sinh thái… Với tiền bạc và của cải trong dân, bên cạnh các hình thức huy động vốn cần tạo môi trường pháp lý thuận lợi, khuyến khích người dân đầu tư phát triển kinh tế gia đình và các loại hình khác cao hơn. Với tiền bạc của nhân dân do nhà nước nắm giữ (ta quen gọi là ngân sách quốc gia) cần phải có chiến lược đầu tư hợp lý xét cả về tổng thể lẫn trên từng lĩnh vực (giáo dục, nghiên cứu và phát triển, sản xuất, thương mại và dịch v….). Chính chiến lược đầu tư hợp lý sẽ đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Vốn đầu tư nhất thiết phải được quản lý chặt chẽ, tránh thất thoát, bòn rút, lãng phí, đầu tư không hiệu quả hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng. Có lẽ cũng cần phải lưu ý rằng tài lực là yếu tố đứng hàng cuối cùng, trong đó tài nguyên thiên nhiên có thể coi như một tham số trời cho và không như nhau giữa các quốc gia. Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore rất nghèo tài nguyên thiên nhiên nhưng ở giai đoạn đầu đã phát triển vượt bậc hầu như chỉ nhờ khai thác trí lực và sức mạnh của nguồn lực con người.
Đến đây chúng ta có thể đưa ra công thức tạo nội lực của một quốc gia như sau:
Hiền tài + Giáo dục + Tài lực
Nội lực có tính tương đối, và tính chất này bắt nguồn từ tính độc lập tương đối của mỗi quốc gia, tính khả biến của nguồn lực con người.
Cũng tương tự như khái niệm hệ kín hay hệ cô lập trong vật lý học, mỗi quốc gia chỉ độc lập một cách tương đối. Vì thế, trong thời đại ngày nay, khi mà hội nhập và toàn cầu hoá đang diễn ra rất mãnh liệt thì thật là ngây thơ khi cho rằng việc hoạch định chiến lược phát triển của từng quốc gia là có tính độc lập. Các chủ trương, chính sách ít nhiều đều phải tính đến các yếu tố bên ngoài, thậm chí còn bị chi phối bởi các yếu tố này.
Cứ lấy việc tham gia vào WTO thì rõ. Các nước chưa phải là thành viên của tổ chức này muốn gia nhập buộc phải đáp ứng hàng loạt điều kiện. Chẳng hạn như thay đổi hoặc xây dựng mới nhiều bộ luật nhằm tương thích với luật chơi chung, cổ phần hoá các doanh nghiệp quốc doanh, phát triển kinh tế tư nhân, dỡ bỏ hàng rào thuế quan, thực thi việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, mở cửa các ngành nhạy cảm như ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông, truyền hình, hàng không… Các nhà hoạch định chiến lược phát triển tầm vĩ mô của mỗi quốc gia buộc phải đưa những điều này vào bài toán của họ. Chúng có thể đem lại hoặc thuận lợi hoặc là khó khăn, hoặc cả hai – tuỳ góc nhìn, ít nhiều có ảnh hưởng đến nội lực.
Nhân lực ngày nay không còn tĩnh như trước đây. Lực lượng lao động có thể dịch chuyển từ quốc gia này sang quốc gia khác (chỉ tính di dân), cả lao động nghề lẫn lao động có trình độ chuyên môn cao. Bên cạnh đó hình thức hợp tác quốc tế cũng tạo điều kiện để đội ngũ lao động ở các nước nghèo học hỏi nâng cao trình độ. Ngoài ra lực lượng lao động trình độ cao còn được đào tạo từ bên ngoài và từ nhiều quốc gia khác nhau; lực lượng lao động nghề, sau thời gian lao động ở nước ngoài được nâng cấp không những về chuyên môn nghiệp vụ mà quan trọng hơn, có tác phong chuyên nghiệp và ý thức nghề nghiệp cao – điều mà các nước chậm phát triển rất thiếu.
Như vậy, tính tương đối của nội lực là đặc điểm đáng chú ý một khi muốn phát huy nội lực một cách khôn ngoan và triệt để.
© 2006 talawas