trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
26.11.2001
Kenzaburo Oe
“Những cường quốc dấn vào một cuộc chiến ‘hồ đồ’”
 

LE MONDE: Hoa kì đang tìm
kiếm, ở Afghanistan, một “giải pháp tối hậu” còn nghi nan cho vụ
khủng bố. Theo ông, đó có phải là đáp ứng tốt cho những cuộc tấn
kích ngày 11-9?

Oe: Khi xem đi xem lại đến phát ngấy những
hình ảnh truyền hình phô ra sự sụp đổ những ngọn tháp của Trung
Tâm Thương mại Thế giới, tôi tự nhủ quả thật đó là một “cuộc chiến
tranh mới”, như tổng thống Bush đã tuyên bố. Ðợt tấn công đầu tiên
của một cuộc chiến tranh mới chấm dứt bằng sự thất bại của hệ
thống quân sự, kinh tế, và văn hoá của Hoa kì. Hành vi chiến tranh
này vốn là một hành vi khủng bố, nó không hề làm Hoa kì hoặc người
Mĩ mất danh dự. Ðối lại, điều đã trở thành hiển nhiên, đó là sự dễ
tổn thương của một nền văn minh quá tập trung vào đô thị. Thêm
nữa, một sự dễ tổn thương lộ rõ bởi chiến lược hạt nhân, với điểm
đặc thù này là nó bày ra hai đối thủ bởi lẽ sự trả đũa luôn luôn
khả dĩ trong thế quân bình của trái đất.

Lần này, khung
cảnh có khác. Hoa kì lẽ ra phải nhận biết sự thất bại của mình và
soạn thảo một chính sách hậu chiến quy mô hành tinh bằng cách tập
trung toàn bộ cố gắng cứu chữa hiềm khích lớn lao tích luỹ đối với
họ, là bức tranh nền của vụ tấn kích khủng bố này. Chính sách này
tất nhiên phải được sự đồng thuận rộng rãi nhất của phần thế giới
còn lại và phải gây được niềm kính trọng của những nước Tây Âu vốn
cũng có thể là nạn nhân của những vụ tấn kích tương tự. Một chính
sách như thế hẳn cũng là một chọn lựa dũng cảm để dẹp trừ từ trong
trứng cuộc “chiến tranh mới” thứ nhì mà ngày nay chúng ta đang dự
vào. Có được hậu thuẫn mạnh mẽ của nhân dân Hoa kì, tổng thống
Bush ngược lại muốn đối đầu với thách thức mà những kẻ khủng bố
đưa ra! Và ông ta đã phát động một cuộc chiến tranh mà dường như
ông ta tin chắc chỉ có thể dẫn tới chiến thắng của Hoa kì. Ðiều đó
chẳng có chi là chắc. Và, ngày hôm nay, xét những đau khổ của nhân
dân Afghanistan và sự tan hoang bầy ra trong xứ ấy, tính chất phi
nhân của sự khủng bố mà Hoa kì là nạn nhân lại thành mơ hồ.


LE MONDE: Ông cảm nhận ra sao khi gần như toàn thể các
cường quốc đồng thanh ủng hộ hành động quân sự này (với sự chúc
phúc của Liên hiệp quốc)?

Oe: Các cường quốc dấn vào một
‘cuộc chiến hồ đồ’, để mượn nhan đề một cuốn tiểu thuyết của John
Steinbeck [In Dubious Battle (1935)] nghĩa là những động cơ
còn hàm hồ. Cuộc tranh đấu chống khủng bố phải hoàn tất. Ðược.
Nhưng tôi nghĩ rằng để điều hành nó cho tốt, Hoa kì cần nhất phải
có thời gian. Khi tôi nói rằng “cuộc chiến tranh mới” thứ nhất đã
kết liễu sau những vụ tấn kích, ấy là bởi, trái với khởi đầu của
một cuộc chiến quy ước trong đó thích nghi tiến hành những tập
kích trả đũa chớp nhoáng, trong trường hợp này cần có thời gian để
băng bó những vết thương của nhân dân Hoa kì, và có lẽ hơn nữa để
dấn mình suy tư về những nguyên nhân của các vụ tấn kích thay vì
lao mình vào những cuộc trả miếng mù quáng.

Người ta đã
biện minh cho sự lẹ làng này là sợ rằng đám khủng bố lại chuẩn bị
một đợt tấn công thứ nhì. Có chắc thế không? Washington không hề
đưa ra một minh xác nào về nguy cơ đó. Ngay cả sau khi bắt đầu
oanh tạc Afghanistan cũng chỉ có Bộ Ngoại giao và FBI [Văn phòng
Ðiều tra Liên bang] đưa ra những cảnh giác theo đó một đợt tấn
kích thứ hai sắp xảy ra. Ngày nay, chúng ta giáp mặt với điều gì?
Ðiều tồi tệ nhất. Ngay cả nếu Hoa kì và đồng minh là nước Anh có
giết được hoặc bắt được Ben Laden để đưa ra xét xử, tôi cũng không
nghĩ là “giải pháp” này hữu hiệu trong việc cứu chữa tính dễ tổn
thương của Hoa kì và các nước phương Tây. Ngược lại, nó có nguy cơ
phát động một đợt sóng thứ nhì hoặc thứ ba về khủng bố và sẽ lún
sâu hơn nữa cả hai bên đối thủ trong sình lầy của một ‘cuộc chiến
hồ đồ’ có nguy cơ kéo dài. Thông tin theo đó Ben Laden có xử trí
cả vũ khí hạt nhân và ông ta sẵn sàng sử dụng chẳng lẽ không làm
chúng ta thoáng thấy ‘”những cảnh địa ngục” của cuộc “chiến tranh
mới” bên cạnh đó những vụ tấn kích vào Trung tâm Thương mại Thế
giới, vốn đã khủng khiếp, so ra sẽ khác nào như cảnh “đồng quê’?


LE MONDE: Ông nghĩ sao về thái độ của Nhật bản và những
đạo luật cho phép gửi quân ra nước ngoài?

Oe: Thủ tướng
Junichiro Koizumi thừa nhận sự mơ hồ trong lời mở đầu của bản Hiến
pháp [“Chúng tôi, nhân dân Nhật bản, ước mong một vị trí danh
dự trong xã hội quốc tế bằng việc tranh đấu cho sự duy trì hoà
bình và loại trừ khỏi bề mặt trái đất, không mong cơ hồi đầu, chế
độ chuyên chế và chế độ nô lệ, sự đàn áp cũng như sự bất khoan
dung.”
]. Bởi vì sự thông giải đồng thuận về Ðiều khoản 9 ngăn
cấm Nhật bản phương cách sử dụng những lực lượng vũ trang, nên
phải tìm ra giải pháp bằng cách vận dụng nguyên lí hoà điệu quốc
tế quy định trong lời mở đầu của Hiến pháp. Và chính quyền vội vã
thông qua những đạo luật cho phép gửi lực lượng tự vệ ra khắp thế
giới. Hai tháng sau những cuộc tấn kích, những đơn vị thuỷ quân
lục chiến Nhật bản tiến vào Ấn độ dương dưới lá quốc kì. “Cuộc
chiến hồ đồ” quanh Hiến pháp chấm dứt bằng chiến thắng của những
kẻ dùng bàn tay quật ngược để quét sạch sự mơ hồ trong lời mở đầu
Hiến pháp để khiến Nhật bản có thể tham dự cuộc chiến ở
Afghanistan. Về phần tôi, tôi nhìn nhận rằng Hiến pháp và nền dân
chủ Nhật bản thời hậu chiến đã chết vào ngày hôm đó, hoặc ít nhất
chúng cũng lâm tình trạng hôn mê gây ra do cơn sốt hiếu chiến của
Hoa kì. Và, có lẽ trầm trọng hơn nữa là, không một ai, không một
vận động có ảnh hưởng nào đã thử làm chúng hồi sinh.

LE
MONDE: Một câu hỏi trung tâm trở lại làm bối cảnh nền: làm sao Hoa
kì lại khơi dậy hận thù đằng đằng như thế?

Oe: Nếu ta thử
phân tích những nguyên uỷ sâu sa của những hành vi khủng bố kia,
ắt phải thừa nhận là chúng có thể xa vời đối với chúng ta và chúng
ta bị chưng hửng. Chúng ta như trên trời rớt xuống. Tuy nhiên,
chúng vừa gần vừa lồ lộ. Chỉ vì vô tâm, chúng ta đã không muốn
thấy. Như nhà ngữ học Hoa kì là Noam Chomsky đã chứng tỏ, sự khủng
bố mà Hoa kì là nạn nhân đã được nuôi dưỡng bằng sự toàn cầu hoá,
sự khuếch trương của một nền kinh tế theo chủ nghĩa tân tự do và
những bất công ngày càng tăng chúng kéo theo, cũng như bằng ưu thế
quân sự của Hoa kì. Hơn là biểu lộ của một hận thù nhiệt tình, tôi
thấy trong những cuộc tấn kích đó có những nguyên nhân có tính cơ
cấu. Nhưng tổng thống Bush và nhân dân Hoa kì cảm nhận sự khủng bố
này trên bình diện cảm tính. Ðiều này cho phép họ vận động được
những lực lượng vũ trang khổng lồ và những phương tiện kinh tế
đáng kể trong khi quay mắt không nhìn vào nguyên nhân nền tảng.


LE MONDE: Người ta đã viện ra chủ đề “sự va chạm của các
nền văn minh”. Ông nghĩ sao? Làm nền cho sự thù ghét Hoa kì, phải
chăng đúng hơn là về phía Hoa kì có một sự cố tình làm ngơ không
biết đến những đa phức về văn hoá, xã hội, hoặc kinh tế của những
dân tộc có thể cảm thấy bị đe doạ trong nếp sống truyền thống?


Oe: Chủ đề sự “va chạm của các nền văn minh” là một lập
luận dễ dãi và nghèo nàn về mặt quan niệm được những kẻ đang nắm
quyền sử dụng. Trong khi những công dân thế giới thung dung giao
lưu giữa những văn hoá đa phức và những văn minh dị biệt, đột
nhiên người ta hoa lên bóng ma của “sự va chạm các nền văn minh”
để làm tê cứng sự giao lưu này. Và đột nhiên, tất cả diễn ra như
thể, đối với Hoa kì, trình ra như là hiện thân của nền văn minh
toàn cầu có thể cứu chữa sự dễ thọ thương của mình bằng cách thiết
yếu phải huỷ diệt Afghanistan. Những kẻ viện dẫn chủ đề này cũng
là những kẻ bảo vệ nhiệt liệt cho sự toàn cầu hoá. Phần còn lại
của loài người, chẳng liên can gì tới “định mệnh thuyết” mới của
sự va chạm giả thiết giữa các nền văn minh cũng như những tham
vọng toàn cầu hoá của những công ti đa quốc, rồi ra biết làm sao
để tiến hành cuộc hoá giải cực khó khăn của thời hậu kì “cuộc
chiến mới”? Vận mạng của thế kỉ 21 tuỳ thuộc vào đó.

LE
MONDE: Trong hậu cảnh của sự va chạm giả thiết giữa các nền văn
minh có hằn lên cái ý tưởng làm nền là phương Tây là kẻ duy nhất
nắm giữ những giá trị phổ quát. Có thể nào có những giá trị phổ
quát mà cách phát biểu khác với phương Tây nhưng không phải vì thế
mà mất đi tính phổ quát? Chẳng hạn, Á đông có ý niệm về nhân bản
trước khi tiếp xúc với phương Tây chăng?

Oe: Là môn đồ của
Kazuo Watanabe, chuyên gia về chủ nghĩa nhân bản Pháp và đã hiến
cả đời để giới thiệu tinh thần bao dung của chủ nghĩa nhân bản
phương Tây với người Nhật, tôi luôn gắng sức trong văn chương để
định vị trong khung cảnh đương đại câu chuyện của những kẻ sống ở
những không gian bên lề của xã hội trong bóng tối của “lịch sử vĩ
đại”. Và điều này cũng thúc đẩy tôi tham gia những vận động công
dân khi sự hiện diện của quân lực Hoa kì trên quần đảo Oeinawa trở
nên một vấn đề chính trị. Tại Trung quốc, Triều tiên, và Nhật bản,
trước khi gặp gỡ phương Tây, hẳn nhiên là có những quyền lực áp
chế. Nhưng cũng có những đề kháng. Những ai chống lại áp bức
thường mang những giá trị nhân bản mà không dính líu gì đến việc
nhập cảng từ phương Tây, như chứng tỏ trong suốt văn học. Hiện
tượng đương đại của sự toàn cầu hoá phải gợi cho chúng ta xem xét
lại những nền văn hoá gọi là “ngoại vi” mà sự toàn cầu hoá đang đe
doạ sự tồn tại truyền thống bằng cách quăng những nền văn hoá này
vào vòng dân tục học (folklore) hoặc tìm cách đè bẹp nếu chúng quá
bướng bỉnh với những tiêu chuẩn của sự toàn cầu hoá. Chúng ta phải
trầm tư, một cách khiêm tốn, trước những đóng góp đa dạng cũng
chuyên chở những giá trị đại đồng mà đạo Phật, đạo Hồi, hoặc đạo
Do thái lưu thông.

LE MONDE: Một trong những cuốn tiểu
thuyết của ông mang một nhan đề dự báo thời kì ‘thập tự chinh’
này: ‘Hãy bảo chúng tôi làm sao sống sót qua cơn điên này?’ (nxb
Gallimard). Ngày nay câu hỏi này có thể trả lời như thế nào?


Oe: Câu này lấy lại trong bài thơ “Ðêm buông xuống ở
Trung quốc”
(Night Falls in China) của W. H. Auden. Ðó là lời
nguyện cầu của một người bị cuốn vào chiến tranh du kích ở Thượng
hải chống xâm lược Nhật bản. Tôi rất e rằng sự tham gia của Nhật
bản vào ‘cuộc chiến hồ đồ’ này chẳng hề là câu trả lời cho nguyện
cầu kia. Về phần tôi, tôi chỉ có thể nhận lời nguyện cầu đó làm
của mình. Nhưng đối với bản thân, là kẻ không có tín ngưỡng,
“nguyện cầu làm bằng chú tâm” (la prière est faite
d’attention), theo thể thức của Simone Weil. Vậy thì phải tỉnh
thức cho dù thời gian còn lại có ngắn tẻo teo.


° ° °

Giải Nobel văn học năm 1994, tiểu thuyết
gia Kenzaburo Oe xuất hiện, trong một nước Nhật mà những bậc đại
trí đã khuất bóng và sự tiếp nối còn phải chờ, như một lương tâm
gắng sức bắc cầu giữa những giá trị (dân chủ, hoà bình, nhân bản)
mà xứ sở này đã kiến thiết thời hậu chiến với thời đương đại có
khuynh hướng quên rằng những giá trị kia luôn phải chinh phục lại.
Với lòng ngoan cường, ông cố hoá giải nọc độc của lãng quên hoặc
thờ ơ. Oe là một người tự dành thời gian để trầm tư và hội nhập
chiều dầy của quá khứ mà không có nó hiện tại chỉ còn là cái ánh
sáng mà con thiêu thân hốt hoảng lao mình vào. Sinh năm 1935 trong
một làng trên đảo ShikOeu, ông nhận được giải thưởng văn học
Akutagawa năm 22 tuổi cho truyện ngắn “Thú hoang”. Là người
đồng thời với nhà văn Mishima Yukio, mà ông dị biệt từ căn cốt, và
Abe Kobo, Oe đã viết tiểu thuyết, truyện ngắn, luận văn; phần lớn
bản Pháp văn được dịch và xuất bản do nhà Gallimard.

 
© talawas 2026