trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
18.2.2005
William Boyd
Những cuộc gặp gỡ ngắn ngủi
 

“Quí tộc ư? Cũng là những thân hình xấu xí và bất tịnh, cũng là tuổi già móm mém và cái chết khốn nạn y như những bà hàng xén mà thôi.”

Câu này được lấy từ cuốn sổ tay mà Anton Chekhov ghi chép trong suốt mười hai năm cuối đời, từ năm 1892 đến năm 1904. Ông đã ghi trong đó những chuyện tiếu lâm, những thành ngữ, những tên họ hấp dẫn, những câu chuyện nghe lỏm được và cả những ý tưởng cho những truyện ngắn tương lai. Câu trích dẫn trên về quí tộc và hàng xén thuộc loại cuối cùng. Càng đọc nhiều Chekhov ta càng dễ mường tượng cái truyện ngắn có thể được ông phát triển từ đoạn so sánh tàn nhẫn trên. Nhận xét của Chekhov thật là chính xác và hiện nay vẫn đúng như đã từng đúng cho nước Nga thế kỉ XIX. Chết thì ai cũng như ai, hiển nhiên là như thế. Nhưng điều thú vị hơn là hai mươi từ đó của Chekhov (trong tiếng Anh đoạn này gồm 20 từ – ND) có thể giúp ta hiểu được bản chất của thể loại truyện ngắn nếu đem so sánh nó với tiểu thuyết. Tôi sẵn sàng đánh cuộc: câu trích dẫn bên trên của Chekhov có thể giúp bạn viết một truyện ngắn, nhưng tiểu thuyết thì không.

William Faulkner cho rằng viết truyện ngắn còn khó hơn viết tiểu thuyết. Một số nhà văn gần như không sử dụng thể loại này, hoặc giả, trong suốt sự nghiệp sáng tác của mình họ chỉ để lại chừng gần chục truyện. Một số người khác tinh thông trong lĩnh vực này, nhưng cùng với thời gian đã tỏ ra hờ hững với nó. Lại có người chỉ coi tiểu thuyết mới là thách thức thật sự.

Tuy nhiên một số nhà văn lớn như Anton Chekhov, JL Borges, Katherine Mansfield, VS Pritchett, Frank O’Connor lại chỉ viết truyện ngắn mà không viết các tác phẩm dài hơi. Trường hợp của tôi có thể coi là điển hình: tôi đã viết tám cuốn tiểu thuyết nhưng chưa bao giờ ngưng viết truyện ngắn – thể loại này chứa đựng một điều gì đó buộc tôi phải trở đi trở lại với nó.

Điều gì lôi cuốn nhà văn đến với truyện ngắn? Cần phải hiểu rằng truyện ngắn, trong hình thức mà ta biết hiện nay, là một hiện tượng chưa lấy gì làm lâu. Việc xuất hiện các tạp chí xuất bản định kì dành cho quần chúng và tầng lớp độc giả có học thuộc giới trung lưu trong nửa sau thế kỉ XIX đã dẫn tới cuộc bùng nổ thể loại truyện ngắn kéo dài chừng một thế kỉ ở Mĩ và Châu Âu. Thời kì đầu, đối với nhiều nhà văn, nhất là ở Mĩ thì đây là chính là biện pháp kiếm sống, Nathaniel Hawthorne, Herman Melville và Edgar Allen Poe viết truyện ngắn để có điều kiện theo đuổi những tác phẩm dài hơi nhưng mang lại ít thu nhập hơn. Trong những năm 1920 F Scott Fitzgerald nhận được nhuận bút là bốn ngàn dollar cho một truyện ngắn đăng trên tờ Saturday Evening Post (con số hiện nay cũng là lớn, nhưng để thấy giá trị thực của nó lúc đó ta phải nhân với mười). Trong những năm 1950, John Updike chỉ cần in trên tờ New Yorker năm sáu truyện ngắn một năm cũng đủ nuôi vợ con rồi. Nhưng thời thế đã thay đổi. Mặc dù các tờ như New Yorker, Esquire và Play Boy vẫn trả khá (nhiều hơn các tạp chí tương tự ở Anh), không ai có thể làm được như Updike nữa.

So với tiểu thuyết thì sự nổi tiếng của truyện ngắn luôn luôn phụ thuộc vào các yếu tố thị trường. Năm 1981, vào thời điểm tôi xuất bản tuyển tập truyện ngắn đầu tiên của mình, tuyển tập On the Yankee Station, nhiều nhà xuất bản Anh Quốc theo lệ thường, vẫn xuất bản các tuyển tập truyện ngắn. Bây giờ thì không như vậy nữa. Hơn nữa, thời đó có những thị trường cho truyện ngắn, tuy không lớn, nhưng ổn định. Một nhà văn viết truyện ngắn có thể in truyện của mình dưới rất nhiều dạng. Các truyện ngắn được đưa vào tuyển tập đầu tiên của tôi trước đó đã được in trong các tạp chí như Punch, Company, London Magazine, the Literary ReviewMayfair, cũng như đọc trên sóng phát thanh của đài BBC. Là một nhà văn trẻ, tôi bắt đầu bằng việc viết truyện ngắn, vì vào lúc đó, điều này có vẻ hợp lí: khả năng dễ được in nhất. Nhưng những vấn đề về tiền bạc cũng như chiến lược dẫn đến thành công làm mờ đi tính hấp dẫn của thể loại đối với người cầm bút. Rút cục thì nhà văn viết truyện ngắn vì họ đang ở một trạng thái tinh thần khác. Melville trong khi viết truyện ngắn để có điều kiện hoàn tất Moby-Dick đã nói: “Tôi quan tâm đến ‘thành công’ của chúng (như người ta thường nói) chỉ vì tiền, tâm hồn không có ý nghĩa gì ở đây hết”. Thế nhưng chính ông lại viết được một số truyện (trong đó có BartlebyBenito Cereno) phải được liệt vào những tác phẩm kinh điển của thể loại này.

Viết và đọc truyện ngắn tạo ra trong ta cảm giác khác hẳn với viết và đọc tiểu thuyết. Trước hết đấy là quan hệ giữa cô đọng và mở rộng. Trở lại với câu đã dẫn của Chekhov về quí tộc và người buôn bán nhỏ nêu trên ta sẽ dễ dàng kết luận rằng ý tưởng và động cơ thúc đẩy người ta viết tiểu thuyết, dù có cô đọng đến đâu, phải hàm chứa khả năng phân nhánh và kéo dài, nếu không nói là đến vô cùng tận. Truyện ngắn thì ngược lại, phải súc tích và ngắn. Dĩ nhiên đây không phải là chuyện dài ngắn đơn thuần, vì một truyện ngắn mười hai trang có thể chứa đựng nhiều ý nghĩa hơn là một cuốn tiểu thuyết bốn trăm trang. Chúng ta đang nói đến một phạm trù khác của các tác phẩm hư cấu nói chung.

Một cách so sánh thường thấy giữa truyện ngắn và tiểu thuyết là xem tiểu thuyết là bản hợp xướng cho một dàn nhạc lớn và truyện ngắn là khúc tứ tấu cho mấy chiếc đàn. Nhưng theo tôi, cách so sánh này không chính xác: nó dựa trên lượng và vì vậy dễ làm ta lầm lạc. Bản nhạc do hai chiếc violin, một chiếc viola và một cello, thực hiện nghe khác với khi được thực hiện bởi dàn nhạc gồm hàng chục nhạc cụ khác nhau, nhưng một đoạn hoặc một trang truyện ngắn thì không khác gì một đoạn hay một trang tiểu thuyết. Truyện ngắn cũng chứa đựng tất cả các nguồn lực y như tiểu thuyết: ngôn ngữ, nội dung, nhân vật và phong cách. Tiểu thuyết gia có thể sử dụng phương tiện nghệ thuật nào thì nhà văn viết truyện ngắn cũng có thể sử dụng các phương tiện đó. Một so sánh tương đối thịnh hành khác giữa tiểu thuyết và truyện ngắn: anh hùng ca và bản tình ca đưa ta đến gần với bản chất của vấn đề hơn. Có thể nói truyện ngắn là bản tình ca viết bằng văn xuôi, còn tiểu thuyết thì là bản anh hùng ca văn xuôi.

Có rất nhiều định nghĩa về truyện ngắn. Pritchett coi truyện ngắn là “một điều gì đó thoáng trông thấy khi ta đi ngang”. Còn Updike thì nói: ”Đấy là các tác phẩm dài vài ngàn từ, được viết trên cơ sở kinh nghiệm trực tiếp của tôi hơn là tiểu thuyết: chúng chứa đựng những cuộc phiêu lưu, những khó khăn, những giây phút khủng hoảng và niềm vui của chính tôi”.

Angus Wilson từng nói: “Trong nhận thức của tôi thì truyện ngắn và kịch tương đối gần nhau. Bạn xác định một thời khắc và cho câu chuyện phát triển từ đấy trở đi, không có chuyện quay lui”. Mỗi nhà văn một quan niệm: những khoảnh khắc thăng hoa trong đời sống thường nhật; có dấu nét tự sự bên dưới; vấn đề kết cấu và xu hướng. Tôi có thể dẫn ra nhiều định nghĩa khác nữa, có cái mâu thuẫn, có cái quá cường điệu, nhưng tất cả đều rất thuyết phục theo cách riêng của mình. Nếu ngôi nhà của văn xuôi có nhiều cửa sổ thì ngôi nhà của truyện ngắn cũng có nhiều cửa sổ không kém.

Tôi đã xuất bản ba tuyển tập truyện ngắn trong hai thập niên, tổng cộng là 38 cái. Có thể còn bốn năm truyện ngắn nữa không được đưa vào các tuyển tập đó, đấy là những cái viết cho tạp chí của trường thời thanh niên và những truyện viết nhân dịp lễ lạt. Dù sao mặc lòng, truyện ngắn lôi cuốn tôi vì tính đa dạng, khả năng thể hiện những giọng điệu khác nhau, cấu trúc khác nhau, phong cách và hiệu ứng nghệ thuật khác nhau.

Vì vậy tôi nghĩ rằng nên bỏ công làm một cuộc phân loại một cách kĩ lưỡng loại hình nghệ thuật này. Xem xét tuyển tập của các tác giả khác nhau, tôi cho rằng có thể phân thành bảy loại truyện ngắn và tất cả các truyện đều có thể đưa vào một trong bảy thể loại nói trên. Một số có những điểm chung, số khác lại có những tính chất của thể loại dường như không có mối liên hệ nào với nó, nhưng nhìn chung những cách phân loại này bao gồm tất cả các dạng của thể loại. Trong sự đa dạng này, ta có thể bắt đầu thấy được những điểm chung của truyện ngắn.

1. Truyện có sự kiện – cốt truyện

Thuật ngữ này được nhà văn người Anh, ông William Gerhardie, đưa ra trong cuốn sách ngắn nhưng rất súc tích của ông viết về Chekhov xuất bản năm 1924. Gerhardie sử dụng thuật ngữ này để phân biệt những truyện của Chekhov với tất cả những gì đã có trước ông. Trước Chekhov, tất cả truyện ngắn, gần như không có ngoại lệ, đều là tác phẩm sự kiện – cốt truyện. Trong các truyện loại này, cốt truyện đóng vai trò quan trọng, kết cấu truyện được xây dựng theo lối truyền thống, có mở bài, thân bài và kết luận. Cuộc cách mạng mà Chekhov thực hiện (vẫn còn có ý nghĩa đến tận ngày hôm nay) là tuy không bỏ qua cốt truyện nhưng ông đã tạo ra những cốt truyện giống như những câu chuyện có trong đời thực của chúng ta: đầy ngẫu nhiên, bí hiểm, tầm thường, đột ngột, lộn xộn, tàn nhẫn và vô nghĩa lí. Điển hình của loại truyện có sự kiện-cốt truyện là những tác phẩm nổi tiếng của O’Henry, được xây dựng theo lối mở nút một cách bất ngờ (twist-in-the-tail) và được sử dụng rộng rãi trong các truyện ma quái (thí dụ như của WW Jacobs) và truyện trinh thám (Conan Doyle). Có thể nói thủ pháp nghệ thuật này có vẻ đã cũ, mặc dù Roald Dahl đã tạo được những bước đột phá trong thể loại này, ngoài ra cũng nên nhắc đến những người kể chuyện tài hoa như Jeffrey Archer.

2. Truyện kiểu Chekhov

Chekhov là cha đẻ của truyện ngắn hiện đại, ảnh hưởng của ông vẫn còn rất mạnh và hiện diện khắp nơi. James Joyce nhiều lần tuyên bố rằng chưa đọc Chekhov khi ông cho xuất bản Dubliners vào năm 1914 (phần lớn các tác phẩm của Chekhov đã được dịch sang tiếng Anh và xuất bản kể từ năm 1903), nhưng chính sự nhấn mạnh thái quá đó lại làm cho lời tuyên bố tỏ ra rất đáng ngờ. Dubliners, một trong những tập truyện ngắn vĩ đại nhất từ trước tới nay bị ảnh hưởng rất nhiều phong cách Chekhov, hay nói một cách khác: Chekhov đã giải phóng trí tưởng tượng của Joyce cũng hệt như sau này Joyce đã giải phóng trí tưởng tượng của những người khác vậy.

Điều gì là cốt yếu trong truyện ngắn kiểu Chekhov? Chekhov đã viết cho một người bạn như sau: “…Ðã đến lúc những người cầm bút, nhất là các nhà văn, phải hiểu rằng trên thế giới này chẳng có thể rút ra được bài học nào từ bất cứ chuyện gì”. Tôi có thể nói rằng quan điểm của Chekhov là chỉ tìm hiểu cuộc sống với tất cả sự vô vị, với tất cả tính bi hài kịch của nó mà không đánh giá đúng sai, phải trái. Không kết án, cũng không tán dương. Chỉ ghi nhận hành động của những con người và để cho các nhân vật tự lên tiếng (mỗi khi họ có thể) mà không can thiệp, không kiểm duyệt, cũng không tâng bốc. Ông có một định nghĩa nổi tiếng về cuộc đời. “Bạn hỏi tôi cuộc đời là gì? Thì cũng như hỏi: củ cà rốt là gì? Củ cà rốt là củ cà rốt, thế thôi”. Nhưng các truyện ngắn của ông thể hiện thế giới quan này đã có ảnh hưởng vô cùng to lớn. Katherine Mansfield và Joyce là những nhà văn đầu tiên viết theo tinh thần của Chekhov, nhưng thái độ lạnh, vô cảm, thản nhiên của ông đối với điều kiện sống của con người đã tìm được sự đồng vọng trong tâm hồn của những nhà văn rất khác nhau như William Trevor và Raymond Carver, Elizabeth Bowen, John Cheever, Muriel Spark và Alice Munro.

3. Truyện ngắn “hiện đại” (“modernist” story)

Tôi chọn tên đó để giới thiệu một người có ảnh hưởng to lớn nữa đối với truyện ngắn hiện đại: Ernest Hemingway. Tôi sử dụng thuật ngữ đó để chuyển tải ý tưởng về sự tối nghĩa và sự khó khăn một cách cố ý. Đóng góp mang tính cách mạng rõ ràng nhất của Hemingway đối vơi truyện ngắn là văn phong của ông: không màu mè, ngắn gọn, không sợ lặp lại những tính từ tầm thường nhất mà không thay bằng những từ đồng nghĩa. Một đóng góp vĩ đại nữa của ông là sự tối nghĩa có chủ đích. Khi đọc những tác phẩm đầu tay của Hemingway (lại là những tác phẩm hay nhất của ông) bạn sẽ hiểu tình huống câu chuyện ngay lập tức. Một cậu thanh niên cắm trại qua đêm để câu cá. Mấy người ngồi chờ trong một tiệm cà phê. Trong truyện Như những con voi trắng (Hills Like White Elephants) là một cặp đợi tàu trên một nhà ga xe lửa. Quan hệ của họ khá căng thẳng. Cô ta đã nạo thai chưa? Cả câu chuyện chỉ nói về cái đó. Nhưng Hemingway đã khéo léo tạo cho truyện ngắn này cũng như các tác phẩm khác của ông sự mơ hồ đặc trưng cho thể hiện đại. Bạn nhận thấy rằng tác phẩm chứa đựng nhiều ý tưởng không rõ ràng và chính sự mơ hồ đó đã làm cho tác phẩm trở thành đáng nhớ. Cần thấy rằng sự mơ hồ cố ý như thế chỉ hợp với truyện ngắn: đối với tiểu thuyết thì thủ pháp đó có thể làm người ta chán. Thể lọai truyện ngắn nói tới dưới đây cũng có đặc tính mơ hồ giống như loại tân hình thức.

4. Truyện câu đố.

Loại truyện này tạo ra một thách thức công khai đối với độc giả, nói về nó là ta nhớ ngay tới Borges và Vladimir Nabokov. Những câu truyện này chứa đựng một ý nghĩa mà ta phải phát hiện, phải giải mã, trong khi truyện của Hemingway lại cuốn hút độc giả vì người ta biết rằng lời giải là bất khả thể. Để hiểu, thí dụ truyện ngắn Mùa xuân ở Fialta (Spring at Fialta) của Nabokov đòi hỏi ta phải đọc một cách chăm chú và có thể không phải một lần, nhưng công khó sẽ được đền bù một cách xứng đáng, thông điệp của loại truyện này là: càng nghiền ngẫm thì càng thấy hay. Một trong những nhà văn viết truyện ngắn – câu đố vĩ đại nhất là Rudyard Kipling, ông đúng là một thiên tài về thể loại này; các truyện ngắn của ông, thí dụ như Mary Postgate hay Mrs Bathust là những tác phẩm phức tạp với nhiều tầng ý nghĩa. Các nhà phê bình hiện vẫn còn sôi nổi tranh luận về cách đọc, cách hiểu những tác phẩm đó.

5. Truyện – tiểu thuyết ngắn

Đặc điểm của loại truyện này thể hiện ngay trong tên của chúng. Giống thể loại truyện có sự kiện – cốt truyện, đây là một trong những hình thức đầu tiên của nghệ thuật truyện ngắn. Ở một khía cạnh nào đó thì đây chính là sự lai ghép, nửa tiểu thuyết nửa truyện ngắn, tác giả cố gắng thể hiện trong vài chục trang trong khi tác giả tiểu thuyết phải cần mấy trăm trang: có rất nhiều nhân vật, có nhiều tình tiết chân thực. Tác phẩm vĩ đại Cuộc đời tôi của Chekhov thuộc loại này. Hành động trong truyện kéo dài nhiều năm, các nhân vật yêu nhau, lấy nhau rồi chia tay, trẻ con sinh ra, người chết đi. Tất cả các vấn đề của một cuốn tiểu thuyết Victorian được nén vào cuốn truyện khoảng năm mươi trang. Những truyện kiểu này thường rất dài, gần bằng truyện vừa (novella), nhưng tham vọng thì rất rõ. Người ta thay phép lược từ và ẩn dụ bằng một tập hợp thuần sự kiện, tuồng như câu truyện muốn nói rằng: “Xem này, đâu có cần tới bốn trăm trang mới vẽ được bộ mặt của xã hội”.

6. Truyện thơ – huyền nhiệm

Hoàn toàn trái ngược với thể loại trên, truyện-thơ huyền nhiệm cố gắng tách càng xa tiểu thuyết tả thực càng tốt. Tác phẩm của rất nhiều nhà văn khác nhau có thể được liệt vào thể loại này, kể từ Hemingway (những truyện quyết liệt và ngắn, chỉ một trang giấy trong tuyển tập Trong thời đại của chúng ta), Dylan Thomas và DH Lawrence, những ứng tác đầy tâm trạng của JG Ballard, cũng như những bài thơ bằng văn xuôi trường thiên của những nhà văn như Ted Hughes và Frank O’Hara. Đấy là những truyện ngắn gần giống những bài thơ được thể hiện bằng những kĩ thuật khác nhau, từ những dòng ý thức cho đến những huyền nhiệm thâm sâu bất khả thâm nhập.

7. Truyện tiểu sử

Định danh loại này khó hơn ta tưởng. Có thể mô tả loại truyện này như là những truyện ngắn cố ý vay mượn và mô phỏng những thủ thuật của loại tác phẩm người thật việc thật như: lịch sử, phóng sự, hồi kí. Borges thường sử dụng kĩ thuật này trong các truyện ngắn của mình. Cái thú chú thích và những ghi chép về tiểu sử nhân vật của các nhà văn trẻ Mĩ là một thí dụ nữa về thể loại này (hay nói chính xác hơn, chúng là một sự kết hợp giữa loại hiện đại và tiểu sử). Một biến thái của thể loại này là giới thiệu những nét hư cấu vào cuộc đời của những con người thật. Thí dụ tôi đã viết những truyện ngắn về Brahms, Wittgenstein, Braque và Ciril Connolly, trong đó tôi đã thêm vào cuộc đời thực của họ những tình tiết hư cấu, mặc dù tôi đã nghiên cứu tất cả các tài liệu về các nhân vật của mình hệt như đang viết một công trình khảo cứu vậy. Xin dẫn ra ở đây một định nghĩa về truyện tiểu sử mà tôi cho là rất có giá trị: “Đấy là một sáng tác trong khuôn khổ các sự kiện có thể kiểm chứng được”. Truyện tiểu sử sử dụng nghịch lí đó và đấy chính là cách sử dụng lợi thế của của cả sáng tạo và tình tiết người thực việc thực.

Ngày nay, đặc biệt là ở Anh, công bố truyện ngắn là một việc khó chưa từng thấy. Những ấn phẩm định kì mà nhờ đó tôi đã trở nên nổi tiếng vào những năm 1980 đã gần như không còn. Mặc dù có những khó khăn như thế, tôi có cảm tưởng rằng truyện ngắn đang hồi sinh cả ở Anh và ở Mĩ. Lí do về mặt văn hóa-xã hội của vấn đề này là sự nở rộ của các khóa dạy sáng tác với những trình độ khác nhau. Truyện ngắn là phương tiện giáo dục tốt nhất cho các khóa học loại này, hàng ngàn truyện ngắn được viết (và được đọc) trong những lớp học đó sẽ làm cho người ta yêu thích thể loại này giống như các tạp chí đã từng làm trong nửa cuối thế kỉ XIX và nửa đầu thế kỉ XX vậy.

Tôi cho rằng người đọc truyện ngắn vẫn cứ mãi còn bởi một nguyên nhân khác nữa. Vấn đề không phải là độ dài của tác phẩm. Một truyện ngắn hay không hợp với nền văn hóa giải trí của chúng ta: nó rất cô đọng, hiệu quả của nó quá phức tạp, không thể nào tiêu hóa ngay được. Nếu tinh thần của thời đại đang có ảnh hưởng đến thị hiếu thì đấy có thể là dấu hiệu rằng chúng ta đang tiến dần đến việc lựa chọn những hình thức nghệ thuật cô đọng hơn. Giống như những viên đa sinh tố, một truyện ngắn hay có thể cung cấp cho độc giả cả nhận thức cũng như niềm vui mãnh liệt không kém gì một cuốn tiểu thuyết nhưng lại mất ít thời gian “tiêu hoá” hơn. Ðọc những truyện ngắn như Những người chết (The Dead) của Joyce, Trong khe núi (In the Ravine) của Chekhov, A Clean Well-Lighted Place của Hemingway là đối mặt với những tác phẩm nghệ thuật phức tạp về ý tưởng, hoàn hảo về hình thức, vừa sâu sắc vừa làm ta lo lắng bất an, bi hài nhưng cũng rất cảm động. Đọc một truyện ngắn chỉ mất chừng mười lăm phút nhưng khả năng thuyết phục của nó thì rất rõ. Có thể đấy chính là điều mà độc giả chúng ta hiện đặc biệt kì vọng: một quả bom nghệ thuật với hiệu ứng mạnh mẽ và tức thời.

Nhà văn chúng tôi quay về với truyện ngắn vì những lí do khác. Tôi nghĩ rằng truyện ngắn cho phép người viết cải biến những hình thức, giọng điệu, thể loại, văn phong một cách nhanh chóng và đột ngột nhất. Angus Wilson từng nói rằng ông viết truyện ngắn vì có thể khởi sự và kết thúc nó ngay trong những ngày nghỉ cuối tuần để có thể tiếp tục công việc ở sở (ông làm ở Bảo tàng Anh Quốc). Dĩ nhiên là viết truyện ngắn cũng cần cố gắng, nhưng không kéo dài nhiều năm như viết tiểu thuyết. Bạn có thể viết một truyện ngắn theo lối sự kiện – cốt truyện trong tuần này và một truyện khác theo lối truyện tiểu sử/câu đố vào tuần sau. Chekhov đã từng nhắc đến cái thú này trong cuốn sổ tay tôi đã nói tới bên trên. Chekhov đã chép lại một đoạn của Alphonse Daudet, chắc chắn đấy là sự đồng thanh tương ứng của chính tâm hồn nghệ sĩ của ông. Các nhà văn từng viết truyện ngắn sẽ hiểu Daudet muốn nói gì. Đoạn ấy như sau:

“Tại sao bài hát của ngươi ngắn thế?”, có lần người ta hỏi một chú chim. “Có phải tài nghệ của ngươi hết hơi rồi chăng?”

“Tôi có nhiều bài lắm, tôi muốn hát tất cả mọi bài cơ”, chú chim trả lời.

Mười truyện ngắn hay nhất (sắp xếp không theo một thứ tự nào)

“Spring at Fialta” của V. Nabokov

“My dream of Flying to Wake Island” của JG Ballard

“Funes, the Memorious” của JL Borges

“Prelude” của Katherine Mansfield

“The Dead” của James Joyce

“Mrs Bathhust” của Rudyard Kipling

“Day of the Dying Rabbit” của John Updike

“In The Ravine” của Anton Chekhov

“Bang-Bang You’re Dead” của Muriel Spark

“Hills Like White Elephants” của Ernest Hemingway

William Boyd sinh năm 1952, nhận bằng Ph.D tại Jesus College, Oxford, vào năm 1975. Ông đã xuất bản tám cuốn tiểu thuyết, gồm: A Good Man In Africa (1982), An Ice Cream War (1983), Stars and Bars (1985), The New Confessions (1988), Brazzaville Beach (1991), The Blue Afternoon (1994), Armadillo (1998) và Any Human Heart (2002), trong đó hai tác phẩm An Ice Cream WarAny Human Heart từng được đề cử giải Booker. Ngoài ra ông còn xuất bản hai tập truyện ngắn: On the Yankee Station (1988) và The Destiny of Nathalie X (1996)

© 2005 talawas

 
© talawas 2026