Heribert Prantl
Thông tin về cuộc chiến Irak không thiếu, ngược lại là khác. Và phương tiện truyền thông dễ chi phối nhất vẫn là truyền hình. Điều có thể nhận ra rất rõ là mức độ trung thực của thông tin và xu hướng thông tin, và thật cũng tùy nơi chốn và sở hữu của các cơ quan truyền thông nữa, phản ánh gần như rất sát thái độ chính trị và tâm trạng chung ở các nước tham chiến và các nước chủ trương phản đối chiến tranh, của dân chúng ở các nước này. Cuối tuần thứ nhì từ khi cuộc chiến bắt đầu vừa qua với nhiều cuộc biểu tình kêu gọi chấm dứt cuộc chiến được bồi dưỡng bằng nhiều gian dối.
Bài xã luận sau đây của một trí thức châu Âu, biên tập viên chính trị một tờ báo lớn ở Đức, là một cái nhìn vào cuộc chiến trong mối âu lo sâu xa.
Người dịch
Croesus, vị vua cuối cùng nước Lydia, giàu sụ đến mức mà mãi hai nghìn năm sau, tên của ông vẫn là thành ngữ chỉ sự sung túc cùng cực. Khi vị vua cực giàu này dấn quân đánh nước Ba Tư, ông đến hỏi tiên tri thành Delphi. Tiên tri Delphi phán: “Một khi ngươi vượt sông Halys là ngươi hủy diệt một quốc gia hùng mạnh.” Croesus hiểu sai lời tiên tri; vì lời này thực ra qui vào chính ông: Ông khởi chiến và rốt cục bị vua Ba Tư Kyros II. đánh thảm bại. Quốc gia hùng mạnh bị Croesus hủy diệt ấy chính là nước Lydia của ông.
Với cuộc chiến đánh Irak, người Mỹ đã vượt sông Halys. Cuối cùng, hẳn họ sẽ chiến thắng song họ sẽ đánh mất hòa bình. Hành vi tội phạm có tổ chức chống lại kẻ tội phạm ở Bagdad và thuộc hạ của hắn không phải là sự kết thúc của siêu cường Mỹ. Chính siêu cường này tự hủy hoại mình: chính nó làm mất đi sự tôn trọng, kính nể đối với nó, uy thế của nó và đồng minh trên khắp thế giới. Và nó huỷ hoại một xứ sở do chính nó dựng lên – tức là hệ thống quốc tế mà nó đã cùng lập ra và có nền tảng là sự tin tưởng đặt vào nước Mỹ: Mỹ đã cùng tạo dựng Liên Hiệp Quốc (LHQ) và Khối Phòng thủ Bắc Đại Tây Dương NATO. Bây giờ thì chính nước Mỹ lại miệt thị LHQ, phỉ báng NATO và khinh thường mối hữu nghị Bắc Đại Tây Dương. Nước Mỹ ném những mảnh rách nát của Hiến chương LHQ xuống chân công luận thế giới, và khi khởi động cuộc chiến đánh Irak nó cũng gây hấn với công luận thế giới.
Ý tưởng phổ cập sau biến cố 11 tháng 9 2001 là: Từ nay, mọi sự sẽ khác, không như cũ nữa. Đặc biệt, chính sách của Mỹ đã làm cho ý tưởng này thành một thực tế. Sau ngày đó, ngày mà nước siêu cường phải hiểu rằng chính nó cũng có thể bị thương, nó bắt đầu hành động như thể mình là kẻ bất tử, không thể bị tổn thương và cũng không cần đến những quốc gia khác. Để làm việc bảo vệ tự do và pháp lý thì Mỹ lại dẹp tự do và pháp lý sang một bên. Nước Mỹ, như nhà phân tâm học (Đức) Hans-Jürgen Wirth nhận xét, bị lâm vào một “hoang tưởng cường vĩ tập thể tự tôn”, vì nó mà nước Mỹ đã chặt bỏ những giá trị của chính mình. Chính phủ Bush đã chứng minh rằng nó sẵn sàng đánh đổ pháp lý một khi nó nhận thấy cần phải làm thế.
Xé nát cuốn sách cũ
“Chính phủ bất cần mọi hệ quả, đầy ngạo mạn này đã bắt đầu thực hiện một chính sách có cơ dẫn đến những hậu quả khốc liệt cho nhiều năm tới đây”, vị thượng nghị sĩ đảng Dân chủ cao tuổi Robert C. Byrd, thâm niên nhất trong Thượng viện Mỹ, phát biểu thế trong bài nói phản đối chiến tranh Irak của mình. Ông nhận ra một ngả rẽ của lịch sử thế giới ở cuộc chiến này. Cảm nhận của ông tương tự cảm nhận của [học giả] Edward Gibbon lúc trẻ, ngồi giữa các di tích đền thờ Jupiter ở La Mã trong giây phút hưng phấn quyết định viết bộ sử “Sự suy thoái và sụp đổ của Đế quốc La Mã”. Ở La Mã, Gibbon đi tìm tính vĩnh hằng và chỉ kiếm thấy tính phù vân của thế sự – ông nhận ra rằng “người Hy Lạp và người La Mã đã vận sức mình thoát ra khỏi tình trạng man rợ và rồi lại suy sụp vào một tình trạng như thế”. Cuộc ném bom Baghdad hiện nay là sự tiến dần đến tình trạng man rợ của nước siêu cường.
Ngã rẻ của lịch sử thế giới? Điều này có lẽ đúng ở hai lý do: Thứ nhất, nhà nước Mỹ, một trong những vị khai sinh công pháp quốc tế, ứng xử với nền công pháp quốc tế và với LHQ trong một cung cách kinh khiếp. Nó hành động như vị siêu thần Cronus [trong huyền thoại cổ Hy Lạp] đã nuốt chửng các con của mình chỉ vì sợ chúng về sau sẽ trở thành mối nguy đe doạ mình. Thứ nhì, chiến tranh của Bush đang thúc đẩy vòng xoắn chạy đua vũ trang trên thế giới đạt những kỷ lục mới. Tất cả những quốc gia ở thế lưng chừng, nhất là những quốc gia cảm thấy bị Mỹ đe doạ, sẽ tìm cách có được vũ khí nguyên tử – vì chỉ có thế thì họ mới cảm thấy an toàn, mà đó cũng là quyền của họ thôi, trước nước Mỹ. Không phải là Mỹ tấn công Irak vì Saddam Hussein sở hữu các loại vũ khí tiêu diệt hàng loạt. Mỹ tấn công Irak là vì Irak chưa có được những vũ khí ấy, như nhà phê bình toàn cầu hoá Harald Schumann đã nhận định rất đúng. Bằng ngược lại thì họ đã chẳng dám tấn công, cứ xem trường hợp Bắc Triều tiên. Bài học mà Karachi hoặc Jakarta sẽ có thể rút ra từ đó thì đơn giản và dễ hiểu thôi: Nó có tên là A, B và C. [A: atomic, B: biological, C: chemical]. Cuộc chiến Irak làm ý niệm giải trừ quân bị hoá thành một từ lăng nhăng.
Ngả rẽ lịch sử: Khi một trật tự pháp lý bắt đầu hiển hiện bên cạnh trật tự quyền lực thế giới và lại tỏ ra không chịu lép vế với nó thì nước Mỹ phang đòn vào trật tự pháp lý. Bây giờ thì chính nước Mỹ lại ép thế giới phải hiểu rằng quyền lực và pháp lý là một. Để biện hộ cho chủ thuyết này, họ miêu tả công pháp quốc tế như là một thứ pháp lý mà trong đó mọi sự là một dòng chảy, như là một thứ pháp lý chỉ gồm toàn những dấu chấm hỏi. Họ làm thế chỉ vì muốn tự bảo vệ mình khỏi phải bị phán xét bằng những nguyên tắc mà chính họ đã từng dựng lên trước kia. Robert Jackson, trưởng đoàn nguyên cáo của Mỹ tại các phiên xử tội phạm chiến tranh Nürnberg, trong bài thuyết minh khai mạc phiên toà của ông vào ngày 20 tháng 11 1945 đã nói: “Chúng ta không bao giờ được phép quên rằng trong tương lai chính chúng ta cũng sẽ chịu sự phán xét bởi cùng một thước đo mà chúng ta đang dùng để đo các bị cáo đây.”
Công pháp quốc tế, một quyền đặt dấu chấm hỏi? Sự cấm dùng vũ lực, một trọng tâm của Hiến chương LHQ, là mệnh lệnh thức quan trọng nhất của lịch sử cận đại. Vẫn rất đúng, rằng người ta có thể đặt dấu chấm hỏi với Hội đồng Bảo an LHQ do cơ cấu hình thành độc đoán của nó. Và cũng đúng, rằng đạo đức giả là có nhiều tại LHQ. Song điều đó không làm thay đổi được thực tế rằng công pháp quốc tế vẫn xếp chiến tranh tấn công một nước khác ở cùng một bậc với tội phạm đối với nhân loại cũng như tội diệt chủng. Cũng đúng nữa là cho đến nay vẫn chưa có một công cụ hữu hiệu nào nhằm đối phó với chiến tranh tấn công một nước khác. Tuy nhiên, điều này không làm cho một cuộc chiến tấn công nước khác thành việc hợp pháp. Cả một kẻ tội phạm dù không bắt được và không xử phạt được vẫn là kẻ tội phạm mà. Và việc phê phán hợp lý đối với LHQ cũng không làm thay đổi gì ở thực tế rằng LHQ là cơ sở chức năng cung ứng thể thức nhằm vãn hồi hoà bình trong các tranh chấp quốc tế. Nước Mỹ cay cú với LHQ cũng không phải vì những điểm yếu kém mà chính vì những điểm mạnh của tổ chức này – tức là vì LHQ phản bác nước siêu cường. Cựu cố vấn Pentagon Richard Perle cũng vì thế mà đã gọi LHQ là vô nghĩa và do đó là thừa. Tương tự như trường hợp giả định Thủ tướng (Đức) đề nghị giải tán Hội đồng liên bang (Thượng viện) vì Hội đồng này phản đối chính sách của chính phủ liên bang.
Những người xưa là nguyên cáo và thẩm phán ở Nürnberg đã không giữ đúng các nguyên tắc trong phán xét của mình, như Telford Taylor, cộng sự viên gần gũi nhất của Robert Jackson đã khẳng định từ năm 1970: “Chúng ta đã không học hỏi được những bài học mà chúng ta từng muốn giảng dạy ở Nürnberg”. Câu nói này đúng cho sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam, đúng cho cuộc chiến của Liên Xô ở Afghanistan – vân vân và vân vân. Hiện giờ thì vấn đề chẳng đơn thuần chỉ là đã không học hỏi được các bài học nọ. Vấn đề là người Mỹ xé nát cuốn sách cũ và muốn viết một cuốn sách mới với nhan đề: Quyền lực qui định pháp lý.
Một nước siêu cường có toàn quyền phạm lỗi. Một nước siêu cường cũng có toàn quyền chữa lại lỗi lầm phạm phải. Theo định nghĩa này thì người ta có thể hoài nghi rằng nước Mỹ còn có tính siêu cường đến mức nào – vì những lỗi lầm đã phạm phải với cuộc chiến Irak giờ đây đã đưa đến những hậu quả không cách nào chữa được nữa. Một trật tự sau chiến tranh dành cho Irak, dù nó mỹ miều tới đâu chăng nữa (mà chắc rằng sẽ chẳng có gì là mỹ miều) sẽ không ngăn chận được cuộc chạy đua vũ trang với vũ khí tiêu diệt hàng loạt trên toàn cầu. Và một chương trình tái xây dựng Irak, dù có đẹp đẽ thế nào đi nữa, sẽ không làm giảm đi lòng hận thù của thế giới Á rập đối với nước Mỹ. Không chóng thì chầy, người ta sẽ nhận ra rằng chính phủ Mỹ sẽ chuyển toàn bộ tài sản gửi ở nước ngoài lên tới hàng tỉ Đô tiếm đoạt được của Irak cho các xí nghiệp Mỹ mà rồi sẽ dùng tiền đó sửa chữa đường xá ở Irak mà quân đội Mỹ đã phá hủy. Những chương trình đầu tư của cái thế giới mới, đẹp là thế đó.
Nuớc siêu cường như một kẻ lên cơn lồng lộn. Trong trường hợp Cronus thì thế này: Con trai Cronus là Zeus buộc cha phải nhả anh em mình ra trở lại – và sau một thời gian hối cải, Zeus cho cha mình cai trị cõi bồng lai. Một Zeus như thế hiện nay không thấy ở đâu.
© 2003 talawas