trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
23.5.2005
Phan Xuân Sinh
Nhặt lại những mảnh vụn
 

30 năm ngồi nhặt những mảnh vỡ, xếp lại cho thật hoàn chỉnh, nhưng cố gắng bao nhiêu vẫn không xóa mờ được những vết nứt. Tuy những tì vết nầy không còn đậm nét, không còn tách lìa, nhưng vẫn là những vạch chia cắt không hết được. Tôi tự hỏi, tại sao vẫn còn một số người muốn đấm vào những mãnh vỡ đó, cho tan nát thêm ra. Trong nước ai lên tiếng đòi bắt tay với anh em hải ngoại thì bị vồ chụp là “lấy tiền của đế quốc Mỹ, tay sai của bọn lưu vong phản động”. Tại hải ngoại ai làm điều đó thì: “ăn phải bả của Việt cộng, cộng sản nằm vùng”. Không ai dám thực lòng bày tỏ nguyện vọng của mình. Ở trong nước hó hé là bị chộp cổ tống vào tù, tại hải ngoại bày tỏ là bị chụp mũ, chưởi bới, hạ nhân phẩm.

Cho nên tình trạng bế tắc vẫn còn dài dài, không sao giải quyết được.

Hôm nay ngày 30-4, tôi dạo một vòng trên net, dừng lại ở talawas đọc được những bài tâm huyết của Trần Trung Ðạo, Nam Dao, Lê Ðăng Hoàng. Mỗi người có một cách nhìn riêng về Việt Nam 30 năm đã qua. Trần Trung Ðạo sinh trưởng tại Miền Nam, 30-4-75 còn ngồi trên ghế đại học ở Sài Gòn. Nam Dao sinh trưởng ở Miền Bắc, di cư vào Miền Nam, 30-4-75 đang ở Canada và lúc ấy có khuynh hướng “thân cộng”. Lê Ðăng Hoàng sinh trưởng tại Miền Bắc, 30-4-75 là một anh “bộ đội” Miền Bắc. Ba khuôn mặt đối với tôi rất dễ thương và can đảm, nhất là anh Nam Dao, đã làm cho tôi sực tỉnh và xúc động. Cái nhìn của cả ba thật thoáng và đầy nhân bản về cuộc chiến tranh Nam Bắc mà cho đến bây giờ những người cực đoan của phe bên nầy hoặc phe bên kia vẫn còn sùng sục hận thù.

Khác với ba tác giả vừa nêu, tôi là một người lính của Miền Nam, trực tiếp cầm súng ngoài chiến trường và mất một bàn chân trong cuộc chiến năm 1972 (lúc ấy vừa mới 24 tuổi). Không có ai thù hận, đay nghiến, nguyền rủa chiến tranh bằng tôi. Tôi có được may mắn hơn ba người trên là có 15 năm sống trong nước và 15 năm sống tại hải ngoại. Một khoảng thời gian dài sinh sống ở hai nơi đủ để tôi nhìn lại vấn đề một cách chín chắn hơn, tuy nhiên làm sao tránh khỏi những sơ suất, những thành kiến tuy dù đã cố gắng gạt ra ngoài.

Những chiếc T.54 của quân Giải phóng tiến vào Dinh Ðộc lập, ủi sập cổng chính, vào lúc gần trưa ngày 30-4-75, cũng bắt đầu giờ phút nầy xem như chế độ Việt Nam Cộng Hoà cáo chung. Những khuôn mặt thất thần, sợ hãi, lo âu, tất ta tất tuởi chạy ngược xuôi trên đường phố, những bộ treillis của quân đội Miền Nam cởi bỏ chất thành từng đống lớn, lính VNCH hòa nhập vào với dân chúng hoan hô những đoàn xe chở bộ đội tiến chiếm Sài Gòn. (Chỉ trước đó vài tiếng đồng hồ họ vẫn còn cầm súng, vẫn còn chiến đấu và cũng gây chút ít khó khăn cho quân Giải phóng). Chúng tôi biết, từ giờ phút nầy đất nước thực sự hòa bình, mạng sống của anh em chúng tôi nói riêng và của toàn dân nói chung được an toàn. Quê hương không còn tiếng súng. Chúng tôi chờ đợi những người chiến thắng sẽ hành xử với chúng tôi trong tình anh em ruột thịt, trong khoan hồng độ lượng và nghĩ cho cùng chúng tôi cũng chỉ là những nạn nhân của chế độ.

Sau ngày 30-4-75, mệnh lệnh kêu gọi tất cả sĩ quan và cán bộ dân chính của chế độ Sài Gòn trình diện để đi học tập cải tạo. Anh em chúng tôi vui vẻ chấp hành, rủ nhau đi trình diện và trong thâm tâm của mỗi người đều tin tưởng rằng sau năm, mười ngày học tập sẽ trở về với gia đình, sẽ xây dựng lại quê hương, sẽ vá lại những vết thương, những hận thù của bao nhiêu năm chia cách. Thế nhưng tháng nầy qua tháng khác, năm nầy qua năm khác, anh em chúng tôi học tập mút mùa, không thấy ngày về. Trong trại cải tạo chúng tôi bị những người chiến thắng hành hạ, đọa đày, nhân cách bị chà đạp, sỉ nhục. Tàn nhẫn hơn là lấy miếng ăn để sai khiến, anh em cùng cảnh ngộ giành giật nhau, hại lẫn nhau, tố cáo nhau. Vì một miếng ăn để bảo tồn mạng sống nên tất cả răm rắp tuân hành và cán bộ sai khiến dễ dàng. Khi bước chân vào trong cổng trại cải tạo thì anh em chúng tôi mới bật ngửa, biết rằng một sự trả thù ghê gớm sẽ giáng xuống đầu chúng tôi một cách nghiệt ngã. Thế nhưng phải cúi đầu chấp nhận, không trốn vào đâu được, họ sẵn sàng bắn chết bất cứ ai tỏ ra phản kháng.

Trong trại cải tạo như thế, còn ngoài đời thì sao? Ở Ðà Nẵng quê hương tôi, tất cả nhà cửa của những người đi học tập đều bị tịch thu giao cho cán bộ, gia đình của họ phải đi đến vùng kinh tế mới. Con cái không được vào đại học dù học giỏi. Lý lịch cá nhân được chia thành năm, mười loại. Ưu tiên vẫn dành cho gia đình cách mạng, còn những gia đình “ngụy quân, ngụy quyền” chúng tôi thì vất va vất vưởng, sống chết mặc bây. Vài năm sau trên đài phát thanh Sài Gòn, trong kỳ Ðại hội Ðảng, ông Trường Chinh tuyên bố: “Ðám ngụy quân, ngụy quyền cần phải học tập thêm nhiều năm nữa. Và nếu cần thì ta giữ luôn chúng nó trong trại cải tạo để an toàn cho nhân dân”. Những gia đình có người đi cải tạo thất vọng. Làn sóng vượt biên lên cao độ bất kể việc bỏ thây trên biển Đông. “Tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghiã xã hội” hay “Yêu nước tức là yêu chủ nghĩa xã hội” của các ông Lê Duẩn, Tôn Ðức Thắng, Phạm Văn Ðồng lớn tiếng bao nhiêu thì người dân Miền Nam cũng như một số dân Miền Bắc đều gạt phăng tất cả để ra đi, bất kể bị bắt tù đày, bỏ xác tại rừng thiêng nước độc hay trên biển. Mười người ra đi thì có lẽ tám người không đến được đích.

Trí thức Miền Nam còn tha thiết với đất nước, quyết tâm ở lại mặc dù lúc đó họ được ưu tiên ra đi an toàn. Các giáo sư Trần Ngọc Ninh, Lê Văn Thới, Chu Phạm Ngọc Sơn, Trần Anh Nhàn, Phạm Hoàng Hộ, Nguyễn Xuân Oánh v.v., những người đã từng đem tất cả tâm huyết đào tạo những môn sinh cực kỳ lỗi lạc, thay đổi diện mạo kinh tế của Miền Nam từ cái di sản cổ lỗ, lạc hậu của Pháp để lại. Họ tha thiết bao nhiêu thì lại bị ngược đãi bấy nhiêu. Những người chỉ huy họ là những cán bộ về trình độ chuyên môn chỉ đáng là học trò của họ, nhưng đối xử với họ bằng thái độ khinh rẻ, miệt thị, làm cho những giáo sư nầy xấu hổ. Người thì bỏ việc, kẻ thì vượt biên, còn lại vài người chỉ làm việc cho lấy lệ. Tôi nhớ cuối thập niên 80, Giáo sư Nguyễn Xuân Oánh viết một bài về ngân hàng khá tâm huyết. Ông nhắc nhở “Ðừng biến ngân hàng thành kho bạc, tiền trong ngân hàng phải dược luân lưu”, đại ý là như vậy. Ðó là kinh điển bất di bất dịch của thể chế ngân hàng. Vài ngày sau trên tờ báo lớn ngoài Hà Nội, một nhân vật phản bác lại những điều ông Oánh đưa ra, bằng một lối văn trịch thượng, chỉ dạy. Từ đó ông Nguyễn Xuân Oánh không viết gì nữa. Làm sao tranh luận với những người thắng trận, mọi lý lẽ của họ đều đúng. Thế là giáo sư Nguyễn Xuân Oánh, xuất thân tiến sĩ từ trường Harvard Mỹ, đành ngậm miệng.

Những cán bộ Đảng và chính quyền sống cận kề với chúng tôi nhưng họ mang trong lòng một sự kỳ thị khủng khiếp, hình như đã thấm sâu trong máu, họ mở miệng là “thằng ngụy nầy”, “con ngụy kia” bất kể có mặt chúng tôi hay không. Họ quên rằng chúng tôi là con người chứ không phải là con vật. Chúng tôi đau đớn khi nghe người ta nhổ vào mặt mình bằng những ngôn từ phỉ báng như vậy. Ðừng nói gì ngoài xã hội, trong gia đình vẫn thường xẩy ra những chuyện đau lòng. Tôi đến thăm một người chị bà con, chị ấy chưa có một ngày nào sống ở Miền Bắc hoặc vào rừng theo quân Giải phóng. Chỉ có chồng chị ấy là người tập kết ra Miền Bắc. Tôi đang ngồi nói chuyện thì gặp anh ấy về, chị giới thiệu tôi là em bà con. Anh ấy hỏi: “Cậu nầy thuộc anh em mình hay ngụy?” Chị trả lời một cách gọn ghẽ: “ngụy”. Tôi bật dậy ra về, không chào ai cả. Trong lòng tôi lúc ấy đau nhức khó tả, anh ấy phỉ báng tôi đã đành; còn chị, người ruột thịt với tôi mà cũng gọi tôi như vậy. Tức là chị ấy muốn khẳng định chị thuộc thành phần cách mạng, còn tôi thuộc thành phần bán nước. Ai sống tại Quảng Ngãi thì biết chuyện nầy, năm nào ông Phạm Văn Ðồng về quê ăn Tết, anh em thuộc “ngụy quân, ngụy quyền” chúng tôi cũng bị công an Quảng Ngãi lùa hết lên núi, cho đến khi ông Ðồng trở ra Hà Nội. Nam Phi trước đây được mệnh danh là đất nước apartheid, thế mà vẫn còn thua xa đầu óc kỳ thị của những người Việt Nam đang cầm quyền.

Tất cả những điều tôi nói trên đây đều là sự thật, chỉ có giai cấp “ngụy” của chúng tôi mới hiểu nhau, thông cảm cho nhau. Trong nước lúc ấy tôi chỉ thấy có hai giai cấp chính: Giai cấp thống trị của những người thắng trận và giai cấp bị trị của những người bại trận. Ngày nào cũng ra rả nghe cách đối xử khoan hồng, nhân đạo của cách mạng đối với anh em chúng tôi; trong trại cải tạo đã đành, khi ra ngoài cũng vậy. Thế mà sự thật thì ngược lại, thà rằng họ đem chúng tôi ra bắn hàng loạt chứ đối xử như vậy thì thật bất nhân quá. Cái chết ai cũng sợ cả, nhưng đày đọa theo kiểu nầy thì có lẽ chọn lấy cái chết còn thanh thản hơn. Họ có biết rằng hơn 50% gia đình của chúng tôi tan nát, trong số nầy những người lúc ấy trên dưới 30 tuổi bị thiệt thòi nặng nhất. Anh em chúng tôi còn rất trẻ, sống với vợ con chưa được bao nhiêu ngày thì bị lùa vào trại cải tạo không biết ngày về. Vợ mới hai mươi mấy tuổi đầu, sống trong cơ cực thì làm sao chống lại sự cám dỗ của đời sống. Vì thế khi ra trại trở về thì gia đình tan hoang. Trong đầu làm sao tránh được hằn học hận thù. Một người bạn từ Việt Nam qua Mỹ du lịch,hỏi tôi tại sao thái độ chính trị của người Việt ở Mỹ dữ dằn quá. Tôi giải thích rằng phần đông gia đình họ ở Việt Nam bị đọa đày, bị tan vỡ nên trong lòng họ đầy uất ức.

Trong nước thì như vậy, còn ngoài hải ngoại thì sao? Đời sống ở hải ngoại về vật chất tương đối ổn định, có của ăn của để, mỗi năm gửi chút đỉnh về quê nhà giúp đỡ gia đình. Còn về tinh thần thì cũng được thoải mái, nhưng ai có tấm lòng với quê hương, tha thiết với dân tộc và tận tâm với những sinh hoạt cộng đồng thì ngao ngán, ê chề. Trước sau gì cũng được lãnh những chiếc nón không mấy tốt đẹp.

Người ta qua đây mang nhiều căn bệnh: Thích làm lãnh tụ, thích lập đảng phái, thích chửi bới, thích hô hào, thích chống cộng v.v. cho nên suốt ngày bận rộn. Họ không phạm pháp thì không ai được quyền đụng tới họ. Chửi bới không bị ghép vào hành vi phạm pháp cho nên họ thả giàn lăng nhục người khác. Chửi nhau trên báo chí, trên diễn đàn, trên các website, nghĩa là không chừa một nơi nào cả. Không kể chi liêm sỉ, miễn sao đạt được mục đích. Ghét ai, chụp cho chiếc nón cộng sản là xong ngay. Ðến nỗi một anh bạn từ Việt Nam qua du lịch, đến thăm tôi, câu đầu tiên tôi hỏi anh về quê nhà, anh cười cười trả lời: “Bên quê nhà không còn cộng sản nữa, họ qua đây hết rồi. Bên nầy nón cộng sản đội nhiều quá, bên kia không sản xuất kịp”. Câu nói làm tôi giật mình, đau thật mà cũng đúng thật.

Sau khi đọc bài viết của Trần Trung Ðạo, anh Trương Tử Anh, một người ở trong nước hỏi: “Tại sao ở thế giới tự do, nơi không có sự cấm đoán nào về chính kiến, nơi có hàng triệu người Việt tỵ nạn, tài lực đều có, mà khơng có nổi một tổ chức chính trị nào xứng đáng, khơng có nổi một lãnh tụ chính trị đủ uy tín tập hợp lực lượng? Nhìn sang Myanma mà thấy lòng hổ thẹn, họ có một lãnh tụ được giải thưởng Nobel hoà bình, được thế giới ủng hộ, mà số người Myanma tỵ nạn chắc cũng không mạnh hơn người Việt?”. Nếu phải trả lời câu hỏi này, tôi xin thưa: “Ở trong nước chỉ có một Ðảng Cộng sản mà anh đã sợ mất hồn, còn ở đây chúng tôi có cả mấy chục đảng, chịu không thấu anh ạ.” Hải ngoại nầy làm lãnh tụ dễ quá, vài ba người lập ra một đảng để được làm lãnh tụ, để khi nào có lễ lộc của cộng đồng được giới thiệu đứng lên. Cũng oai phong lẫm liệt như ai, mà thực tế thì chẳng có gì. Ðừng nói chi dân tộc Myanma, dân tộc H’mong, dân thiểu số sinh sống nhiều ở miền thượng du Bắc Việt và dọc theo rừng núi Thái Lào cũng có một cộng đồng vững mạnh và tiếng nói của họ được người Mỹ chú ý, họ đang có ý định thành lập một quốc gia và làm điên đầu chính phủ Thái Lan.

Dường như chúng ta có nguồn gốc phân hóa từ trong máu, không ai phục ai. Hễ ai nổi lên một chút là kéo xuống ngay bằng tất cả những phương tiện bỉ ổi nhất. Chắng hạn trường hợp Giáo sư Ðoàn Viết Hoạt, người tranh đấu cho tự do Việt Nam, người đã bị mấy chục năm tù ở Việt Nam: Ðồng ý với ông hay không là quyền của mỗi người, nhưng ta phải công nhận rằng ông là một trí thức biết dấn thân, phải nói với ông, đối xử với ông bằng lễ độ của một con người. Thế mà qua tới đây, người ta xúm lại đốt ông ngay, cho là ông có những giải pháp thân cộng, khiến ông không dám cựa quậy và phải thận trọng ra mắt trước đám đông, mặc dù ông được quốc tế trao những giải thưởng cao quý về hành động anh hùng trong việc tranh đấu cho tự do dân chủ. Nếu Bác sĩ Nguyễn Ðan Quế ra hải ngoại thì cũng chung số phận với giáo sư Hoạt thôi. Sự chọn lựa ở lại Việt Nam của Bác sĩ Quế thế mà lại hay. Nói vậy để thấy rằng làm sao có đoàn kết khi mà những người cùng cảnh ngộ không tương nhượng nhau, không biết thương yêu nhau, không chịu lắng nghe. Ai cũng khăng khăng bảo vệ thành trì của mình, chia năm xẻ bảy, lòng người tan nát. Nếu ở đây biết đoàn kết, đi đúng con đường gọi là “chính nghĩa” thì chính quyền trong nước cũng phải sợ và người Mỹ ở đây cũng nể nang. Ðằng nầy nó rệu rã, tan thương, khiến ai có chút tâm huyết cũng phải đau lòng.

Tuổi trẻ Việt Nam tại hải ngoại thuộc thế hệ thứ hai, thứ ba. Ðầu óc trong vắt, không biết gì về cuộc chiến, không hận thù, không tranh đấu. Hãy để cho chúng sống trong hồn nhiên thư thả, đừng cột chúng lại để nghe những điều huyễn hoặc, bắt chúng phải thù hằn. Quả thật mà nói, tuổi trẻ tại hải ngoại được hấp thụ một sự giáo dục tuyệt vời, được sống trong tự do và thụ hưởng những quyền lợi về tinh thần cũng như vật chất. Một ngày nào đó về trong nước, bị tước đoạt những quyền căn bản đó thì tự nó sẽ nhìn ra và phản kháng. Những người sống tại nước ngoài mang tâm trạng thua trận, bị dằn vặt về quá khứ, đau nhức với những hào nhoáng xưa cũ, qua đây muộn màng, không vốn liếng, trắng tay nên phải đi “cày” để nuôi sống gia đình. Nhưng bù lại họ có một niềm vui, một niềm hãnh diện là con cái họ phần đông thành đạt trên những đất nước văn minh, không thua kém người dân bản xứ.

Trong lúc đó thì những người thắng trận trong nước say sưa, hả hê, tự hào và hưởng những vật chất do quyền thế tạo ra. Vì quyền lợi quá lớn, họ không muốn thay đổi, vì buông tay tức là đồng nghĩa với tự sát. Ai đụng tới là họ nhân danh thế hệ chiến tranh để chứng minh quá khứ, một quá khứ hào hùng thần thánh. Khi đã về hưu, tới tuổi lụ khụ không làm gì được nữa thì họ phê phán, chỉ trích, chống đối để nhân dân biết rằng họ có tâm huyết vì dân vì nước.

Nhân dân tôi từ trong nước ra tới hải ngoại đều chịu số phận giống nhau, việc làm của những người có chức có quyền không bao giờ trúng với suy nghĩ của nhân dân, nhất là về chính trị. Vì thế người dân dửng dưng với chính quyền (trong nước), với cộng đồng (hải ngoại). 30 năm rồi, tất cả đều thay đổi, tất cả đều vượt lên, thế mà đầu óc của chúng ta 30 năm sau vẫn y sì như cũ, không thay đổi chút nào, lạ thật.

30-4-2005

© 2005 talawas

 
© talawas 2026