trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
6.5.2002
Nguyễn Văn Tú
Nhân đọc bài Ngôn ngữ và giá trị phổ quát bất biến của Lê Thị Mận
 

Bài viết của Lê Thị Mận đã không còn nằm trong chỉ câu chuyện ngôn ngữ như cái tên của bài. Nó đã đụng chạm đến nhiều vấn đề của lịch sử và văn hóa Việt Nam xưa và nay. Nó cũng phần nào phản ánh tâm trạng chung khi so sánh Việt Nam với thế giới, là muốn tìm thấy ở người Việt Nam ta (đúng hơn nên gọi là người Việt vì xét cho cùng, theo tôi nghĩ, không có một “người Việt Nam” chung chung, mà là người Việt, người Tày, người Thái… trong quốc gia Việt Nam đa tộc người, trong đó người Việt đóng vai trò tộc chủ thể (majeur) những cái hay cái dở khi đi cùng với thế giới.

Tôi là người không thạo về ngôn ngữ học, dù có đọc một số quyển từ đã lâu như Ngôn ngữ học đại cương của Ferdinand de Saussure (không biết có phải viết như thế nữa không?), mà là bản dịch, hình như năm ấy là 1977 hay 78 gì đó. Nhưng đọc xong chỉ nhớ có một điều là cuốn này không phải do ông viết mà những đại đệ tử của ông ghi nhớ công ơn thầy mà ghi lại những bài giảng của thầy rồi xuất bản dưới tên thầy. Hình như ở ta chỉ có Nguyễn Huệ Chi là làm công việc ấy đối với học giả Cao Xuân Huy. Thật cảm động vì nghĩa thầy trò, ấm áp tình người ấy. Tôi là người Việt, bề ngoài có thể tỏ ra rất bình thản, lạnh lùng đôi chút, nhưng tự xét mình cũng hay mủi lòng ứa nước mắt vì những cảnh khổ ở đời. Ngẫm mình cũng đã đến cái tuổi ngoài 40 rồi, thấy cái tình người Việt ta có những cái hay của nó, cố gắng học cách chia sẻ được cái khổ với người, cảm thông được với những người mà mình ghét vì họ nói xấu mình, bớt đi những cạnh tranh danh lợi, hơn thua… cũng thấy mình đỡ bị căng thẳng thần kinh mà sống. Mà đấy là mặt tốt của người Việt ta, có từ xưa, chẳng phải bây giờ mới được dạy.

Nhân đọc bài của Lê Thị Mận thì cũng lan man lai láng vậy.

Còn trở lại với bài, tôi nghĩ có quá nhiều vấn đề được gọi ra, song thực sự đã được giải quyết chưa thì cách mà Lê Thị Mận giải quyết mới chỉ là một.

Nhân đây, xin nói đến một cách đánh giá dù không được gọi tên nhưng có vẻ ngự trị từ khi chúng ta được tiếp xúc nhiều với thế giới bên ngoài là: người trong nước thì kém người ngoài nước (cả người ngoại quốc và người Việt hải ngoại), cái gì của Việt Nam thì cũng làm nhàm, lủng củng, thiếu tính hệ thống, học mót, học không đến nơi đến chốn, nông dân cù lần, duy tình mà thiếu duy lý v.v…, nhiều thứ bị đả phá đến mức người ngoại quốc mà đọc được (với điều kiện có đủ tiếng Việt, có được tư duy Việt) sẽ phát hoảng vì không hiểu cái anh Việt Nam là cái gì mà kinh tởm vậy, không ra cái giống người tử tế như mình.

Có thật vậy không? Có thể nói một câu khái quát mà không sợ chung chung là ở giống người nào cũng vậy, có cái tốt và có cái xấu, tốt với người này mà xấu với người kia, tốt trong hoàn cảnh này rồi lại xấu trong hoàn cảnh kia, tốt xấu nếu đem so sánh thấy giật mình vì lằn ranh quá mỏng tang. Người Việt ta cũng vậy thôi.

Vậy thì có cách nào để đánh giá? Bằng văn chương, bằng khoa học, bằng triết học, bằng tôn giáo, bằng nghệ thuật… Thật đáng buồn là cả người nói tốt và người nói xấu về văn hóa Việt Nam đều chưa có đủ bằng chứng được nghiên cứu để phán định. Ai cũng có thể viết về văn hóa, điều đó không thể phủ nhận. Nhưng ai là người phán định rằng văn hóa là thế này mà không phải thế kia, tốt thế này mà xấu thế kia, thì lại là một chuyện khác. Nhàn đàm cũng có mặt tốt, song để nghiên cứu về một thực thể phức hợp đa chiều như văn hóa Việt và Việt Nam thì cần hai chuyện: một là anh phải nghiên cứu từng mặt, từng bộ phận thật sâu, có những công trình chuyên khảo tổng hợp về những mặt đó, và hai là anh sẽ tiến hành làm phép tỷ giảo để phát hiện cái gì là đặc thù (cả tốt và xấu) của văn hóa Việt Nam. Ðó là qui trình tất yếu khi ta muốn nhận định về văn hóa hay hiện thực nào đó. Rất tiếc, hiện tại chúng ta mới chỉ bắt đầu thực sự làm điều này, có khá nhiều nỗ lực của người nghiên cứu trong nước đã làm lộ ra con đường phải đi, song như mong muốn thì còn cần làm nhiều hơn thế. Song cùng kỳ lý, nếu ta có thực hiện được qui trình thì cũng chỉ là những giả thiết làm việc được chứng minh phần nào, quyết không phải đó là hiện hữu như hiện thực trong quá khứ và hiện tại. Cố nhiên, có giả thiết để chứng minh còn hơn không khi ta muốn phát biểu về một vấn đề gì đó. Mặt khác, giả thiết làm việc nào rồi cũng có tính tương đối, vì đơn giản là có những phát hiện chứng cứ mới sẽ làm nảy sinh giả thiết mới. Vì vậy, tôi mong có được những thảo luận lấy đà để mình và các bạn, rồi tiếp tục mai hậu, sẽ có được cái dũng khí, cả kinh tài, mà dấn mạnh trên con đường đi tìm cội nguồn tộc người Việt và Việt Nam ta.

Bài của Lê Thị Mận là một nghiên cứu hay về vấn đề mà nó đặt ra. Tuy nhiên, cảm giác khi đọc trước hết là có những xen kẽ kỳ lạ giữa ngôn ngữ học, triết học và nhân học văn hóa. Cũng có sự kỳ lạ khi sử dụng các khái niệm “bộ tộc”, “dân tộc” cài xen với “địa lý chính trị học”, kỳ lạ hơn là sự cài xen giữa những cái được xem là đúng với những điều được xem là chưa đúng (không có từ sai trong nghiên cứu). Cũng có thể do bài viết quá ngắn nên chị không đủ thời gian và không gian triển khai vấn đề? Mong chị cứ từ từ mà trình ra, đừng viết ngắn quá.

Hãy lẩy một chuyện trong bài. Chị đưa ra nhận định “Có lẽ ít có dân tộc nào phải thay đổi hệ thống văn tự tới ba lần với cùng một phương tiện biểu đạt như Việt Nam: Hán tự – Chữ Nôm – chữ Quốc ngữ . Sự đổi thay có tính chất thay thế này có thể giải thích qua những điều kiện Ðịa lý Chính trị học, phản ánh những mối quan hệ mật thiết giữa thực thể chính trị và thực thể ngôn ngữ trong dòng sống dân tộc Việt.”

Thú thực, tôi không hiểu chị lồng chừng ấy sự kiện vào với nhau trên cơ sở nghiên cứu nào. Thêm nữa, tại sao không là Nôm tự, Quốc ngữ tự để nó tương đương nghĩa với Hán tự? Vậy Hán tự có phải là “ngôn ngữ nói và ngôn ngữ tư duy” của người Hán không, hai cái đó có trùng khít không? Người Hán là người nào? Việt Nam là người nào mà cuối cùng lại chỉ là “thực thể chính trị và thực thể ngôn ngữ trong dòng sống Việt”? Vì sao lại có chuyện ngôn ngữ viết (tôi không rành về ngôn ngữ học, song tôi thiển ý mà cho rằng khi dùng khái niệm ngôn ngữ thì đã bao gồm cả nói và viết, còn “ngôn ngữ tư duy” thì theo tôi không thuộc khái niệm “ngôn ngữ”, nó thuộc cách thức và phương pháp biểu hiện cái tư duy cụ thể thành ngôn ngữ nói hoặc viết, cũng như vậy khi dùng “ngôn ngữ nghệ thuật”, “ngôn ngữ hội họa”… không thể hiểu là ngôn ngữ như tiếng nói và chữ viết. Ồ, tôi lại nói chuyện mình không sâu rồi!)? Tại sao lại do “Ðịa lý Chính trị học” qui định thay đổi “ngôn ngữ viết” mà không phải là do địa lý tôn giáo học (nếu như ta muốn dùng từ ghép này), địa lý văn hóa học, địa lý (n) học… qui định. Chị cho chữ Nôm là một hệ ngôn ngữ viết trong lịch sử dân tộc, nhưng có gì để đảm bảo rằng nó thay thế chữ Hán như ngôn ngữ viết chính thức của cả Nhà nước Ðại Việt ngót một nghìn năm. Hay chị căn cứ vào ý định của vua Quang Trung định dùng chữ Nôm để có nhận định đó. Tôi không quên một sự thực là có chữ Nôm (văn chương, bi ký), nhưng nếu nói đó là sự thay thế cho chữ Hán thì tôi không tin vì không có cơ sở để tin, nếu ta biết cho đến năm 1919 mới là năm cáo chung của chữ Hán đối với toàn quốc, còn ở các tỉnh bị Pháp chiếm thì có sớm hơn vài chục năm. Và chữ Quốc ngữ (tôi lại muốn gọi là “chữ mới latinh”) có số phận khởi đầu từ tôn giáo rồi được chính thức hóa, nếu Pháp bắt buộc mà ta không dùng thì có sao đâu? Nhưng làm sao cả một dân tộc lại chấp nhận chữ mới đó, háo hức dùng, đẻ ra cả thơ mới, tiểu thuyết mới mà cùng thời các nước trong khu vực Ðông Nam á ngay cả hiện tại đây, chưa thể có hoàn chỉnh như ta. Vậy cái mà tôi muốn gọi là nghịch lý lịch sử – văn hóa đó cần được giải thích như thế nào, phải chăng ông bà ta ngu dốt (xin lỗi các cụ) đem vứt cả nghìn năm chữ Hán của tổ tiên để rồi con cháu sau ân hận? Tôi không tin như vậy.

Trong lịch sử người Việt, cụ thể hơn là trong lịch sử tôn giáo Việt, tôn giáo như Phật giáo đã có những vai trò quan trọng để kháng cự “nô dịch” văn hóa Trung Quốc vào thiên niên kỷ đầu sau Công nguyên như học giả Lê Mạnh Thát đã chứng minh và biện giải trong hai tập đầu (vì mới ra có hai tập này) của bộ Lịch sử Phật giáo Việt Nam mới xuất bản năm 1999, 2000. Tôi thấy có lý do để phát biểu như vậy. Nhưng ngay cả như thế thì lại có một “sự thực” cho đến ngày nay chưa có gì thay thế được là học giả Lê Mạnh Thát đã phải chứng minh và biện giải dựa trên nguồn tài liệu là tạng kinh Hán qua so sánh với tạng Ấn (Pali, Sanskrit), có chữ viết của người Việt dịch kinh đâu, vậy địa lý chính trị học nào qui định ta phải dùng chữ Hán mà không phải là chữ Ấn? Và nếu giả dụ bọn đô hộ Hán ép buộc mà ta không dùng thì có làm sao đâu? Vậy người Việt có văn tự riêng hay không? Nếu có thì nó có ký tự thế nào, cấu trúc ngữ pháp ra sao, nó có khả năng ghi âm theo thổ ngữ và phương ngữ không, nó có biến âm và biến nghĩa hay không? Ðến đây, ta đụng phải vấn đề rất căn bản trong nghiên cứu lịch sử ngôn ngữ Việt rồi, mà điều đó tiếc thay, dù đã có học giả như Hà Văn Tấn mở ra trang đầu, nhưng chưa biết đến bao giờ mới có trang cuối. Học giả họ Hà cũng là đưa ra giả thiết làm việc thôi. Ðiều này khiến ta còn cần phải nỗ lực hơn nữa để tìm tòi và minh chứng. Nhưng nếu như người Việt xưa không có chữ viết riêng thì cũng không lấy đó làm ngạc nhiên vì chữ viết nói riêng, văn hóa và văn minh nói chung, có những trung tâm phát sinh lớn rồi lan tỏa, nhiều tộc người, quốc gia khác vay mượn sử dụng mà họ có bao giờ đặt vấn đề phải độc lập triệt để đâu. Vậy tại sao ta không đi theo giả thiết này?

Chúng ta thích có sự độc lập, tự chủ. Chúng ta thích và mong muốn người Việt và Việt Nam tiến ngang, rồi tiến hơn người. Chúng ta sốt ruột vì quá chậm chạp so với thế giới, nhưng là thế giới nào? Thế giới châu Phi – Ðen, thế giới của người bản xứ Úc, thế giới của những nước nghèo ư? Hãy bình tâm nhìn nhận là Việt Nam đã có cố gắng và đang cố thoát khỏi sự nghèo đói, thoát khỏi tàn phá môi trường, kiến lập một xã hội dân chủ. Chúng ta còn cần học hỏi đến nơi chốn, nhưng phải có thời gian và quyết tâm học. Song chúng ta cũng không thể học mà vứt hết mọi cái của cha ông, mà thực tế có muốn cũng không vứt được nếu có ý định, bởi văn hóa là cái gì đó trừu tượng nhưng cũng cụ thể, là bên ngoài mà cũng là bên trong, là nhân tạo nhưng cũng là sinh học. Tôi nhận thức như vậy.

Trên đây mới chỉ lẩy ra một chuyện trong bài.

 
© talawas 2026