trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
30.9.2003
Võ Tấn Phong
Nhà phê bình hay thảo khấu?
 

Nội dung của bài viết này không có mục đích bào chữa cho những vị bị/được Trần Mạnh Hảo phê bình, mà chỉ nhắm vào một số quan điểm vô cùng kỳ lạ, những cách lý luận kỳ quái và ngụy biện, và ghi nhận một đóng góp của Trần Mạnh Hảo qua bài trả lời phỏng vấn Bút đào huyệt giấy mà chôn mình dần.

  1. Khi người phỏng vấn hỏi về chuyện học hành, Trần Mạnh Hảo nói: “Có loại không học, chưa có điều kiện học nhưng cái gì cũng biết, đó là các thánh nhân, ví dụ như đức Phật, Khổng Tử, Lão Tử“. Đành rằng không thể căn cứ vào bằng cấp để luận đúng sai, nhưng có nên bẻ cong sự thật không. Phật lúc nhỏ được các bậc danh sư truyền dạy cả văn võ; khi bỏ ngai vàng đã đi cầu học các bậc hiền triết khắp nơi. Lão Tử là người giữ kho sách nhà Chu, lẽ nào không học hành? Khổng Tử không phải là thánh nhân như Phật và Lão Tử, chỉ là một con mọt sách như Trần Mạnh Hảo đã chê bai. (Những kiến thức này là phổ thông, tôi xin miễn không dẫn chứng ở đây). Các vị đó đã học hành rất uyên bác trước khi thành thánh nhân hay á thánh. Lý luận (trong các ngành nhân văn và xã hội) có thể dùng dẫn chứng, sự kiện, hay thực tế,… để bảo vệ quan điểm của mình. Trần Mạnh Hảo thì bẻ cong sự kiện để phù hợp với luận điểm của mình.
  2. Trần Mạnh Hảo nói: “Văn học Việt Nam chỉ có một không có hai, không phải thứ có thể lấy ra mà so sánh, mẹ chúng ta chỉ có một nên không phải là đơn vị để so sánh”. Từ văn học Việt Nam nhảy ngang qua mẹ. Cái kiểu lý luận này là ngụy biện trần tình (argumentum ad misericordiam). Thay vì lý luận vì sao văn học Việt Nam không thể bị so sánh, ông muốn né tránh vấn đề bằng cách đưa mẹ ra nhằm khơi dậy sự xúc cảm thuần túy [1] . Nhân đây cũng xin tiếp tục lối ngụy biện của Trần Mạnh Hảo mà hỏi rằng: tại sao không thể so sánh mẹ ta và các bà mẹ khác? Hãy xem đứa con nào có hiếu hơn. Thằng Cả: “Mẹ ơi mẹ à, mẹ già ngàn tuổi hạc thích ngồi một chỗ thì mẹ cứ việc ngồi, mẹ đau tim đau gan, thần kinh trì trệ, ai nói cũng mặc, mẹ cứ ngồi đấy, chúng con vẫn thương mẹ vô cùng”. Cái Nhỡ: “Mẹ ơi, mẹ người ta già lão bốn ngàn năm hoặc mới hai trăm tuổi mà vẫn học hành đều đặn, lại còn tập thể dục dưỡng sinh nữa đấy, thảo nào tinh thần minh mẫn, thân thể tráng kiện, da dẻ hồng hào, vẫn đẻ được con cái thông minh mạnh mẽ ra phết. Nếu mẹ thương chúng con dị tật bẩm sinh tinh thần trì độn, thì xin mẹ theo gương các bác ấy để những đứa em tương lai của con còn được nhờ, mẹ nhé”.
  3. Khi người phỏng vấn nghi ngờ cách hiểu thơ của Trần Mạnh Hảo và hỏi: “Biết đâu các tiến sĩ, giáo sư ấy dựa trên một hệ thống tư duy khác hoàn toàn so với hệ thống của anh?“, thì Trần Mạnh Hảo trả lời dứt khoát: “Không. Chân lý chỉ có một“. Ô hô! Chân lý nào ở đây? Hiểu thơ có nhiều cách hiểu, làm sao biết được ai đúng ai sai? Trần Mạnh Hảo nói hùng hồn mà không định nghĩa cái “chân lý” của ông là gì, chỉ mạnh đâu nói đó.
  4. Làm nghề phê bình mà Trần Mạnh Hảo tự hào mình có khả năng ngụy biện cao và lại khẳng định: “Trong triết học, khả năng ngụy biện phải lớn“. Tôi chắc chắn Trần Mạnh Hảo chỉ hiểu lờ mờ ngụy biện là gì và cũng không hiểu mục đích của triết học là gì, và các triết gia làm cái trò gì. Triết gia hôm nay chỉ tranh biện/tranh luận/bàn cãi…, chứ không ai cố ý ngụy biện cả.
  5. Gần cuối, Trần Mạnh Hảo nói: “Phương pháp luận của tôi là “vô luận”“. Thế này là thế nào? Tranh luận mà không có phương pháp luận thì chỉ có một phương pháp “thuận ta thì sống, chống ta thì chết” mà thôi. Phê bình là nhằm xây dựng cho văn đàn thêm tốt đẹp, chứ nào phải hành nghề thảo khấu mà bất chấp luật lệ.

    Hãy đặt vấn đề: tại sao dân tộc anh hùng chúng ta phải tuân thủ những luật lệ của bọn triết gia mọt sách cơ chứ? Xin thưa rằng: các nhà hiền triết đã thấy rằng chỉ tranh luận về các luận điểm cũng đủ mệt rồi, nếu lại thêm những biến số như “cái tâm người viết”, “học thức người tranh luận”, “sự ủng hộ của các bạn tôi”,… vào phương trình tranh luận thì đến bao giờ ân oán giang hồ mới dứt. Vì vậy các ngài mới thương xót chúng sinh mà đề ra phương pháp luận – nên theo, và nêu ra các lỗi ngụy biện – không được phạm.

  6. Đóng góp nhiều nhất của Trần Mạnh Hảo, theo ý tôi, là đã thẳng thắn nêu rõ họ tên người bị phê bình, để những người bị phê bình giật mình sửa lỗi – nếu sai, hoặc phản bác lại – nếu cho rằng mình đúng. Thái độ mạnh mẽ này rất cần cho các bậc trí thức đạo mạo Việt Nam. Các học giả Việt Nam trong nước phần nhiều vốn cả nể, phê nhau không thích nói tên họ, hoặc rất mù mờ: “tôi có người bạn không chịu được ông nọ”, “có người đã nói rằng”, “nhiều bạn đọc đã nêu lên ý kiến”, “một giáo sư có tên tuổi mà đã nói sai”, … Những kiểu nói đó không phải là lý luận, và không ích gì cho cái làng văn của ta vốn cũng ù lỳ như cái làng Vũ Đại. Nếu chỉ nói trống không, dù người có lỗi, cũng chỉ bưng tai tự nhủ: chắc thằng này nó chừa mình ra.

© 2003 talawas


[1]Xin xem thêm bài Vấn đề ngụy biện trong “Câu chuyện” của Phan Ngọc của Xanh Melan.

 
© talawas 2026