A. Eljanov
Không thể nghĩ ra một mô hình cấu trúc xã hội hợp lý mà ở đó nhà nước chẳng hoạt động gì cả.
F. von Hayek
Cuộc tranh luận không kết thúc giữa những người ủng hộ và những người phản đối sự can thiệp của nhà nước trong nền kinh tế, thực ra chỉ là sự tranh cãi vu vơ. Dẫu là sự phát triển của chủ nghĩa tư bản hay là sự gia tăng sản xuất do nó mang lại, ban đầu đều dựa trên sự tổ chức xã hội của nhà nước. Ngay cả đối với các quá trình toàn cầu hoá, ở phương diện này vẫn chưa thay đổi gì mấy và khó có thể thay đổi trong tương lai gần. Nhà nước, vẫn như trước đây, là thiết chế có tác động thực tế duy nhất có thể đảm bảo trật tự pháp luật cần thiết trong lĩnh vực kinh tế của từng nước riêng rẽ và bảo vệ các lợi ích kinh tế của mỗi nước trên vũ đài quốc tế.
Do đó, vấn đề không phải là ở chỗ nhà nước có cần phải can thiệp vào nền kinh tế hay không, mà là ở chỗ, bên cạnh sự can thiệp đó, còn có những yêu cầu khách quan và những khả năng của mỗi nước, tình hình các sự kiện trong nền kinh tế thế giới và hiện trạng của các mối quan hệ kinh tế thế giới. Đúng như vị chủ tịch Ngân hàng Thế giới là G. Wulfenson trong lời nói đầu cho bản báo cáo gần đây của cơ quan này với nhan đề “Nhà nước trong một thế giới luôn biến đổi”, đã viết, “lịch sử đã nhiều lần chứng minh rằng, một chính phủ tốt không phải là một món xa xỉ, mà là một điều cần thiết sống còn. Không có một nhà nước hữu hiệu thì không thể có sự phát triển ổn định cả về mặt kinh tế lẫn về mặt xã hội” [1] . Điều đó được nhìn thấy rất rõ rệt ở các nước có cái gọi là “phát triển đón đầu”, nơi chưa có một cơ chế tự điều chỉnh về kinh tế xã hội để ngăn chặn chủ nghĩa duy ý chí, tình trạng thiếu nghiệp vụ quản lý và mọi thiên kiến về ý thức hệ.
Diễn biến về sự tham gia của nhà nước trong nền kinh tế
Kể từ khi phương pháp tổ chức sản xuất của chủ nghĩa tư bản đóng vai trò chủ đạo trên diễn trường của lịch sử thế giới, sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế đã trải qua những sự thay đổi không nhỏ. Trước hết, những thay đổi này liên quan với những nhu cầu của sự tiến bộ về khoa học kỹ thuật, về kinh tế và xã hội. Đồng thời, trong một chừng mực đáng kể, chúng là sự phản ánh các dạng mâu thuẫn kinh tế, xã hội, sinh thái và chính trị đi đôi với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản. Chỉ cần nhớ đến sự luân phiên liên tục của các phe tả và hữu ở guồng lái của quyền lực nhà nước ở các nước Tây Âu sau chiến tranh thế giới thứ hai từng gây nên những sự đảo lộn thế cân bằng trong nghị viện giữa các thành phần kinh tế và xã hội của quá trình xã hội nay thì cũng đủ thấy rõ điều đó.
Bên cạnh nhiệm vụ phòng thủ đất nước và duy trì trật tự xã hội, kể cả việc bảo hộ các quyền tư hữu, từ trước đến nay người ta vẫn cho rằng, những nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà nước ở các nước từng đi tiên phong trong cuộc cách mạng công nghiệp là phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế (giao thông và liên lạc) và xã hội (hệ thống giáo dục), và cả việc ủng hộ mà hiện nay nhiều khi phải âm thầm lặng lẽ đối với tư bản dân tộc của mình (vi phạm logic của các lực lượng thị trường tự phát) trong cuộc đấu tranh với các đối thủ nước ngoài để giành thị trường tiêu thụ. Trước hết, sự ủng hộ trong việc chiếm lĩnh thị trường nội địa được thực hiện thông qua hệ thống chính sách bảo hộ bằng thuế quan, không phải là không có cơ sở tích luỹ ban đầu mà các nhà nghiên cứu coi là phương tiện “tạo ra các nhà chế tạo của mình”, còn sự ủng hộ trong việc đưa sản phẩm trong nước ra thị trường thế giới thì được thực hiện nhờ “tiền thưởng xuất khẩu” [2]
Từ xa xưa, không có ngoại lệ nào, sự ủng hộ như vậy đã được thi hành ở tất cả các nước hiện đang đứng trong nhóm chủ đạo của nền kinh tế thế giới mà vốn vì những nguyên nhân nào đó họ đã từng bị vướng mắc trong bước chuyển tiếp sang phương thức sản xuất công nghiệp và do đó, rơi vào tình thế của các nước chạy đuổi, mặc dầu rằng, chính cái ý tưởng ủng hộ với bất cứ trọng điểm nào cũng đều hoàn toàn trái ngược với lý thuyết kinh tế kinh điển.
Sự đình đốn trầm trọng từng chứng minh rõ ràng những khiếm khuyết của sự phát triển thị trường tự phát đã đóng vai trò quyết định khiến phải mở rộng và phức tạp hoá những bài toán đặt ra cho các quốc gia dẫn đầu nền văn minh do kỹ thuật sinh ra, nó đã đặt dấu hỏi về số phận sau này của thể chế tư bản chủ nghĩa. Để đáp lại sự thách thức này, tổng thống F.D. Roosevelt của nước Mỹ (mà hồi đó đã trở thành dinh luỹ của chủ nghĩa tư bản) đã khởi xướng “Đường lối mới”, trong đó, nhà nước có thêm quyền kiểm soát đối với các khu vực quan trọng nhất trong đời sống kinh tế mà trước đây vốn là đặc quyền hưởng lợi của tư nhân. Trên thực tế, đó là một thứ khế ước xã hội đã hợp pháp hoá sự trao đổi một phần các quyền tự do của công dân để bảo đảm tình trạng ổn định và sự an toàn về kinh tế. Trật tự kinh tế ở các nước công nghiệp phát triển khác đã được thiết lập không phải là không chịu ảnh hưởng của khế ước đó.
Thời kỳ tái thiết sau chiến tranh đã trở thành cái mốc quan trọng kế tiếp trên con đường lôi cuốn nhà nước vào công cuộc phát triển kinh tế của các nước phương Tây vì các nước này buộc phải tìm kiếm các địa hạt và các khả năng hoạt động sáng tạo mạnh mẽ. Đặc biệt, đây muốn nói đến tác động hướng đích của nhà nước đến động lực của tiến bộ kinh tế xã hội, tức là tác động làm giảm nhẹ những khiếm khuyết và lấp đầy những hố lõm tất nhiên của thị trường. Ở giai đoạn hoàn thành công nghiệp hoá và đặt cơ sở cho các nước này chuyển sang thời kỳ phát triển hậu công nghiệp, các xu hướng của nhà nước đã được thể hiện một cách đầy đủ, mặc dầu lúc này không phải là đã xong xuôi và không có những thất bại của chính nhà nước.
Những kết quả từ sự tác động của nhà nước đối với nền kinh tế và các điều kiện sinh sống của nhân dân đều phụ thuộc vào những quy mô và những phương thức hoạt động điều chỉnh của nhà nước. Hiển nhiên, các phương thức điều chỉnh không thích hợp với việc xác định số lượng; nhưng có thể đo được quy mô theo phần của nhà nước trong giá trị tăng thêm được tạo nên trong sản xuất hàng hoá và dịch vụ, và cả trong của cải quốc gia, cũng như bằng tỷ lệ giữa các khoản chi của chính phủ trung ương hoặc (gần với sự thật) của chính phủ mở rộng (tức là của tất cả các cấp quyền lực nhà nước và các quỹ bảo hiểm nhà nước) và GDP. Mỗi một tổng số các chỉ tiêu này đều có ý nghĩa riêng của nó, nhưng hai chỉ tiêu cuối cùng thường được sử dụng nhiều hơn vì chúng dễ tính toán; trong sách báo kinh tế học của phương Tây nhiều khi chúng được đồng nhất hoá với khu vực quốc doanh và sự chú ý sễ được nhấn mạnh vào chỗ đó.
Theo những tính toán được công bố trên tạp chí The Economist từng tiến hành khảo sát độc lập về diễn biến của sự hiện diện của nhà nước trong nền kinh tế của các nước đứng đầu nền văn minh do kỹ thuật tạo ra, thì trong những năm 1961-1980, phần chi tiêu tổng hợp của nhà nước (dự toán của tất cả các cấp chính quyền) trong GDP của 17 nước thuộc OECD đã tăng trung bình là 14,7% và đạt đến 42,6%, trong khi suốt 23 năm trước đó (theo số liệu của 13 nước), phần này chỉ tăng từ 20,7% lên 28,5%, tức là tăng 7,8% [3] .
Khi nhà nước có mặt trong nền kinh tế của các nước đứng đầu nền văn minh do kỹ thuật sinh ra, một bước nhảy vọt thật mạnh mẽ đã xảy ra không phải chỉ vì sự căng thẳng của những sự mất cân đối và của những mâu thuẫn khác nhau. Ở mức độ to lớn và có thể là quyết định, bước nhảy vọt này được kích thích bởi sự cần thiết phải ủng hộ toàn diện cho sự chuyển tiếp đã định từ nền công nghiệp “có khói” sang nền công nghiệp dựa trên công nghệ vi điện tử và hướng tới đông đảo mọi người tiêu dùng, mặc dầu thật khó có thể chia tách hai loại công nghiệp này. Sự phát triển mạnh mẽ của chế độ bảo trợ xã hội và bảo hiểm xã hội cùng với sự gia tăng nhanh chóng các khoản đầu tư vào ngành giáo dục được coi là những bộ phận quan trọng nhất của sự hỗ trợ như vậy. Từ dó mà nảy sinh ý tưởng về nhà nước phúc lợi (welfare state) [4] .
Nhân tiện xin nói thêm rằng, suy cho cùng thì tất cả những thành tựu kinh tế xã hội và chính trị của các nước lãnh đạo nền kinh tế thế giới từng nâng cao rõ rệt tính hấp dẫn phổ quát đối với mô hình phát triển mà họ đang thực hiện đều liên quan với việc tăng cường sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế. Trong bất cứ tình huống nào, chính ba chục năm ngay sau chiến tranh thế giới thứ hai đã được đánh dấu bởi động lực tăng trưởng kinh tế cao nhất trong toàn bộ lịch sử của họ, bởi tình trạng công ăn việc làm đầy đủ nhất và sự chuyển biến triệt để về mức sống và chất lượng cuộc sống của nhân dân địa phương đến mức mà trước đây chỉ có thể mơ tưởng.
Chi tiêu tổng hợp của nhà nước (1) và chuyển nhượng xã hộia (2) ở các nước chủ đạo trong OECD, % GDP
| |
1870 |
1913 |
1960 |
1980 |
1990 |
1999 |
| |
1 |
2 |
1 |
2 |
1 |
2 |
1 |
2 |
1 |
2 |
1 |
2 |
| Đức |
10,0 |
0,5 |
14,8 |
|
32,4 |
18,1 |
45,1 |
20,5 |
43,3 |
|
45,0 |
22,0 |
| Pháp |
12,5 |
0,5 |
17,0 |
0,8 |
34,6 |
13,4 |
46,5 |
23,2 |
49.1 |
25,6 |
51,4 |
28,2 |
| Ýb |
11,9 |
0,0 |
11,1 |
0,0 |
30,1 |
13,1 |
34,3 |
18,4 |
43,3 |
22,0 |
46,7 |
22,7 |
| Anh |
9,4 |
0,9 |
12,7 |
1,4 |
32,2 |
10,2 |
39,9 |
13,9 |
41,8 |
15,0 |
40,3 |
16,8 |
| Thuỵ Điển |
5,7 |
0,7 |
10,4 |
1,0 |
30,0 |
10,8 |
57,6 |
23,5 |
64,6 |
25,9 |
62,8 |
28,1 |
| Bỉb |
|
0,2 |
13,8 |
0,4 |
30,3 |
13,1 |
48,3 |
28,5 |
47,9 |
27,0 |
49,4 |
27,3 |
| Hà Lanb |
9,1 |
0,3 |
0,9 |
0,4 |
33,7 |
17,1 |
52,1 |
29,8 |
50,1 |
31,1 |
47,1 |
27,7 |
| Na Uy |
5,9 |
1,1 |
9,3 |
1,2 |
29,9 |
7,9 |
|
|
|
|
46,9c |
23,0c |
| Hoa Kỳ |
7,1 |
0,3 |
|
0,6 |
27,0 |
7,3 |
32,7 |
11,9 |
33,7 |
12,4 |
36,0 |
13,9 |
| Nhật Bản |
8,8 |
0,1 |
8,3 |
0,2 |
17,5 |
4,0 |
28,1 |
12,0 |
34,8 |
12,9 |
31,2 |
17,6 |
| Australia |
18,3 |
0,0 |
16,5 |
1,1 |
21,2 |
7,4 |
|
|
|
|
32,9c |
15,4c |
aChi tiêu cho bảo trợ xã hội, giúp đỡ người thất nghiệp, hưu trí, bảo hiểm y tế,
b Trước năm 1913 chỉ có chi tiêu của chính phủ trung ương
c năm 1998
Biên soạn theo: World Oulook, May 2000, tr. 172; the Economist, 20.09.1997, tr. 11; European Economy. 1999, No 3 (No 68), tr.216-219 |
Điều đó không có nghĩa là mọi việc đã diễn ra suôn sẻ. Đầu những năm 70, ở một số nước trong nhóm này, mức thâm hụt ngân sách và nạn lạm phát đã gia tăng, khả năng tận dụng hết công suất sản xuất ngày càng giảm, nền kinh tế của họ ngày càng bị tổn thương trước những sự lộn xộn về kinh tế và sự cạnh tranh ngày càng gay gắt. Việc tăng giá dầu mỏ nhiều lần trong những năm 70 từng dẫn đến cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới đã trở thành một thử thách khá nghiêm trọng. Sau khi bao trùm lên giai đoạn cuối của chu kỳ, trên thực tế, cuộc khủng hoảng này đã chuyển thành sự suy thoái dai dẳng đối với tất cả các nước công nghiệp phát triển. Trong những điều kiện đã thay đổi, nhà nước buộc phải chuyển hướng từ chỗ yểm hộ sự tăng trưởng và bảo đảm công ăn việc làm sang việc bảo đảm sự ổn định giá cả, sự cân bằng ngoại thương, năng lực cạnh tranh và hiệu quả. Một thời gian dài, những người theo chủ nghĩa tự do mới còn nằm trong bóng tối đã không quên tìm cách nghiêm trọng hoá các vấn đề kinh tế xã hội.
Trong tình huống vừa tạo nên, con lắc của đời sống chính trị ở các nước này đã lệch hẳn sang phe hữu. Những người theo chủ nghĩa tự do mới hầu như đã vươn tới quyền lực ở khắp nơi liền triển khai cuộc tấn công mạnh mẽ vào vị trí của nhà nước trong nền kinh tế và vào các phương pháp quản lý kinh tế mà nhà nước đang sử dụng. Việc tư nhân hoá các doanh nghiệp nhà nước là kết quả quan trọng nhất của cuộc tấn công này. Như vậy, nếu trong năm 1990, tổng số tiền thu được do nhà nước bán các doanh nghiệp khác nhau ở các nước chủ đạo của OECD là 24,8 tỷ đô la thì trong năm 1993 đã tăng lên 47,3 tỷ, và trong năm 1998, tăng đến 86 tỷ. Những chuyển biến tích cực cũng thể hiện cả ở hiệu quả của hoạt động kinh doanh của chính nhà nước, nhờ gỡ bỏ sự điều chỉnh và chuyển sang cơ chế thị trường cạnh tranh [5] . Mặc dầu có sự tăng thu nhập từ việc tư hữu hoá sở hữu nhà nước và sự tiết kiệm trong các khoản chi tiêu của nhà nước nhờ sử dụng chúng một cách hiệu quả hơn, nhưng sự gia tăng vượt trội (so với GDP) của các khoản chi tiêu này chỉ dừng lại ở nửa cuối những năm 90. Kết quả là, trong năm 1999, phần GDP thực hiện được qua ngân sách của tất cả các cấp quyền lực nhà nước ở 14 nước thuộc EU, Mỹ và Nhật Bản, tính gộp lại, đã giảm đến 46%, tức là ít hơn 0,7% so với năm 1990 nhưng lại nhiều hơn 1,8% so với năm 1980 [6] .
Các sự kiện sẽ diẽn biến như thế nào, thật khó nói. Chỉ biết rõ một điều là, những khả năng giảm thiểu ngân sách nhà nước hoàn toàn không phải là vô hạn, và không thể thực hiện nhanh chóng. Dẫu sao, khi nhà nước xa rời khỏi nền kinh tế thì sẽ xảy ra một cuộc đấu tranh chính trị gay gắt và những nhiễu loạn xã hội sâu xa. Điều đó được xác nhận một cách gián tiếp qua những “bước lùi” liên tiếp để điều chỉnh ngay trong việc thực hiện đường lối ấy sau khi đa số các chức năng kinh tế cơ bản của nhà nước rời khỏi khu vực thị trường. Cả những chuyển biến trong kết cấu chức năng của chi phí quốc gia cũng chứng tỏ điều đó.
Từ hơn một trăm năm nay, các món tiền chuyển giao và trợ cấp xã hội là khoản biến động nhất trong ngân sách quốc gia của các nước đứng đầu nền văn minh do kỹ thuật sinh ra, mà mới nhìn qua cũng thấy điều đó không có gì lạ. Trong những năm 1961-1990, tỷ lệ của chúng trong ngân sách tổng hợp của 17 nước đã tăng trung bình từ 16 đến 23%. Các chi phí tiêu dùng của chính các cơ quan nhà nước, gồm tiền trả lương cho công chức cũng như tiền mua sắm hàng hoá và dịch vụ dùng để sản xuất các hàng hoá và dịch vụ dành cho xã hội (tăng từ 13 đến 17%) cũng chỉ đứng ở vị trí thứ hai. Các khoản chi tiêu về dịch vụ công trái ngày càng nhiều, đã tăng gần gấp ba lần, bằng khoảng 4%, đã được đẩy lên vị trí thứ ba. Khác với các chi phí thường kỳ, các chi phí đầu tư của nhà nước không tăng lên mà lại giảm bớt: sau 30 năm, phần của chúng đã giảm 1/3 và trong năm 1990 chỉ còn khoảng 2% GDP [7] . Từ các số liệu của bảng trên đây, ta có thể hình dung đầy đủ hơn về tương quan giữa các khoản ngân sách nhà nước và các khoản chuyển nhượng xã hội.
Việc đối chiếu các cấp độ và động thái của các ngân sách nhà nước tổng hợp và các khoản chuyển nhượng xã hội cho phép ta hình dung rõ ràng hơn về các lý do thúc đẩy và các động lực bành trướng của nhà nước, và làm sáng tỏ một số điểm đặc trưng về sự biến đổi kinh tế xã hội của chúng. Trước hết, có thể thấy ngay những khác biệt đáng kể giữa các nước châu Âu và các nước ở ngoài châu Âu trong các mức ngân sách và chuyển nhượng xã hội, trong đó đã phản ánh các mô hình phát triển khác nhau. Do đặc thù về số phận lịch sử của mình, các nước Tây Âu gắn bó với nhà nước có định hướng về xã hội, còn Hoa Kỳ và Australia thì ưa chuộng mô hình phát triển tự do nhiều hơn, chú trọng đến hiệu quả kinh tế. Về phương diện này, nước Anh chiếm một vị trí trung gian nào đó. Nhật Bản đi vào con đường phát triển kinh tế hiện đại muộn hơn các nước khác, thì ở một vị trí đặc biệt.
Nhưng khác biệt giữa các nước về hai chỉ tiêu này dù lớn đến mấy thì tiến trình của chúng đều chứng tỏ sự hiện hữu của những quy luật phát triển chung nào đó bắt buộc các nước đẫn đầu về kinh tế hiện nay phải coi trọng chúng, bất kể là các nước đó gia nhập nhóm tiên phong ấy từ lúc nào. Cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX, trong thời kỳ phát triển công nghiệp than và thép, khi mà ngân sách nhà nước ngốn 10-12% GDP, thì trung bình, các khoản chuyển nhượng xã hội chỉ bằng 5-6% GDP. Đầu những năm 60, khi chuyển sang các công nghệ vi điện tử bảo đảm sản xuất hàng hoá có nhu cầu rộng rãi, và với tích luỹ trong ngân sách đến 28-30% GDP, thì các khoản chuyển nhượng xã hội đã ngốn hơn 1/3 chi phí ngân sách, và đến cuối thế kỷ XX, ở giai đoạn phát triển hậu công nghiệp, ngân sách nhà nước đã tăng đến 43-45% GDP. Như vậy, từ năm 1913 đến năm 1960 , phần chuyển nhượng xã hội trung bình là hơn hẳn, còn trong những năm 1961-1999, là hơn 7/10 tổng lượng gia tăng chi phí nhà nước. Nếu chú ý đến kinh phí cho phát triển giáo dục (trong những năm 60, đã tăng lên 4,5-6%GDP), phần chuyển nhượng xã hội để gia tăng sự tham gia của nhà nước trong nền kinh tế của các nước đứng đầu nền văn minh do công nghiệo sinh ra đã vượt quá 4/5.
Về phương diện này, cần đặc biệt chú ý đến sự thu hẹp rõ rệt những khác biệt giữa các nước về tỷ lệ các khoản chuyển nhượng xã hội so với chi phí tổng hợp của nhà nước (tính theo tỷ lệ đối với GDP) do sự gia tăng vượt trội của các khoản chuyển nhượng xã hội ở các nước mà trước đây chúng chưa có ý nghĩa quan trọng gì mấy. Chẳng hạn, tỷ trọng các khoản chuyển nhượng xã hội trong ngân sách nhà nước của 11 nước đã tăng trung bình là 1,4 lần, nhưng ở Na Uy đã tăng 1,8 lần, ở Mỹ -1,9 lần, và ở Nhật Bản -2,5 lần. Tóm lại, nếu trong năm 1960, phần chuyển nhượng xã hội cao nhất trong ngân sách của các nước ở nhóm này đã vượt quá 4,5 lần so với phần thấp nhất, thì trong năm 1999, chỉ còn 1,5 lần. Sự chú ý của nhà nước ngày càng tăng đối với các vấn đề xã hội đã được phản ánh cả trong cấu trúc tiêu dùng hàng ngày của các nước tiến mạnh nhất về kinh tế.
Trong những năm 1951-2000, phần dịch vụ xã hội của nhà nước trong tổng tiêu dùng của nhân dân ở 24 nước có kinh tế tiển triển mạnh nhất đã tăng đến 1/5, vả lại, hơn 1/2 lượng tăng này là thuộc về 20 năm gần đây là những năm hầu như chịu sự thống trị hoàn toàn của ý thức hệ của chủ nghĩa tự do mới. Phần dịch vụ này tăng lên không chỉ ở các nước có định hướng xã hội từ trước mà còn cả ở những nước “tự do” nhất. Ở Tây Âu, tăng trung bình là 30% (từ 10,9 đến 14,2%), ở Mỹ tăng 12% (từ 7,6 lên 8,5%) và ở Nhật Bản tăng 11% (từ 7,1 lên 7,9%) [8] . Tại nhóm các nước mà ta đang xem xét, sản phẩm tính theo đầu người đã tăng gần gấp ba lần, mức sống và chất lượng cuộc sống đã nâng cao rõ rệt.
Vai trò của nhà nước ở các hệ thống thị trường phát triển
Sự can thiệp ngày càng tăng của nhà nước vào nền kinh tế của các nước dẫn đầu nền văn minh do kỹ thuật tạo ra và kèm theo đó là sự mở rộng ngân sách không hề xâm phạm và cũng không lấn át các chức năng cơ bản của thị trường như những phần tử thuộc phái chính thống của chủ nghĩa tự do mới thường nghĩ. Mọi việc vừa đơn giản lại vừa phức tạp hơn. Nhà nước không thay thế mà lại bổ sung cho thị trường, giúp cho thị trường phát triển và hoàn thiện, đồng thời, còn bù đắp, giảm bớt và ngăn chặn những thiệt hại của thị trường. Tất nhiên, trong sự việc hết sức tế nhị và hoàn toàn không đơn giản này, cũng xảy ra những bất cập lẫn những thái quá mà không thể phản ánh được vào tiến trình và chất lượng của sự phát triển kinh tế cũng như trong các hậu quả xã hội của nó.
Khi vạch rõ vai trò của nhà nước trong nền kinh tế hiện đại, các chuyên gia của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) gắn liền việc mở rộng các chức năng của nhà nước, trước tiên là với việc phát triển nền dân chủ để bắt buộc và khuyến khích các nhà cầm quyền phải lắng nghe tiếng nói của của cử tri, thứ hai là với sự cần thiết phải hoàn thiện cơ sở hạ tầng xã hội, vật chất và thiết chế bảo đẩm sự phát triển thị trường cạnh tranh, cũng như phải chỉnh đốn những sự rối loạn của chính thị trường, được thực hiện có chú ý đến các phương diện luân lý đạo đức, sở thích và truyền thống dân tộc. [9]
Để làm sáng tỏ hơn nữa thực chất của những nhiệm vụ đặt ra cho nhà nước của các nước có hệ thống thị trường phát triển, và những cách thức giải quyết chúng, cần phải chú ý đến kinh nghiệm của nước Mỹ – nước dẫn đầu tuyệt đối về khoa học kỹ thuật và kinh tế trên thế giới hiện nay- nổi bật về sự tham gia ít ỏi của nhà nước trong nền kinh tế. Tuy nhiên, đúng vào năm 1997, tổng thống Mỹ lúc bấy giờ là B. Clinton, nhân khi những người theo chủ nghĩa tự do mới công kích mạnh mẽ vào đường lối quản lý của ông, trong bản báo cáo kinh tế đọc trước quốc hội khoá 105, ông đã coi việc tăng cường chú ý đến các chức năng kinh tế của nhà nước là điều cần thiết. Trong bản báo cáo đó có một chương đặc biệt dành cho vấn đề này: “Hoàn thiện vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường của nước Mỹ” [10] , trong đó, bên cạnh việc giải thích (theo tinh thần của F. von Hayek) những ưu điểm của kinh tế thị trường so với kinh tế quốc doanh, ông cũng chứng minh tính bất hợp pháp của việc đặt nhà nước đối lập với thị trường. Để xác nhận luận đề này, một số nhiệm vụ đặt ra cho nhà nước cùng với các phương thức giải quyết chúng cũng được xem xét.
Trước hết, nên nhớ rằng, nếu không có một hệ thống pháp lý do nhà nước lập nên và bảo trợ để bảo đảm các quyền sở hữu và trách nhiệm thực hiện các hợp đồng thì hoạt động của các công ty và sự giao dịch trên thị trường nói chung đều không thể thực hiện được trong thực tế. Như trong bản báo cáo đã nhấn mạnh, thị trường tự do và hiện tượng vô chính phủ hoàn toàn không đồng nghĩa với nhau, trong khi vội vàng, những người có vẻ theo chủ nghĩa tự do ở Nga, sau khi bắt tay vào các cuộc cải tạo thị trường trong nước, đã quên mất điều đó. Thị trường là một kiểu quản lý kinh tế mà pháp luật là cốt lõi chính của nó. Tuy nhiên, vai trò trọng tài trong các giao dịch tư nhân hoàn toàn không phải là chức năng duy nhất của nhà nước. Bên cạnh việc bảo đảm trật tự pháp luật, việc yểm trợ cho sự cạnh tranh đủ mạnh mẽ, “kìm giữ giá cả cho sát với các chi phí sản xuất” đều là những nhiệm vụ quan trọng nhất của nhà nước. Còn phải bảo đảm thông tin kinh tế xác thực và tạo nên những nhân tố kích thích cần thiết đối với các nhà đầu tư. Để ngăn cản thị trường nội địa không rơi vào khuynh hướng độc quyền hoá và liên hợp hoá, bên cạnh việc sử dụng luật chống độc quyền, phải loại bỏ những hàng rào cản trở các hãng mới gia nhập thị trường, phải giảm nhẹ và huỷ bỏ việc hạn chế số lượng nhập khẩu, hạ thấp thuế nhập khẩu. Trong những trường hợp, khi sự xuất hiện các đối thủ mới trên thị trường có liên kết với những ưu thế không sánh nổi của dân bản địa về chi phí sản xuất, thì được phép điều chỉnh giá cả trực tiếp.
Sở dĩ nhà nước cần phải can thiệp vào nền kinh tế là do những tác động tiêu cực bên ngoài của hoạt động kinh tế gây thiệt hại cho những người bình thường và những pháp nhân không liên quan đến nó hoặc cho toàn xã hội. Sự ô nhiễm môi trường được coi là thí dụ điển hình nhất của những thiệt hại như vậy. Như chúng ta đều biết, việc ngăn chặn, giảm thiểu và thủ tiêu các hiểm họa sinh thái phải đi đôi với những khoản chi tiêu bổ sung cùng những người sản xuất và những người tiêu dùng khác, mà việc đánh giá và điều chỉnh những thứ đó thì thuộc đặc quyền của nhà nước.
Rõ ràng là, cơ chế thị trường không đủ năng lực bảo đảm việc sản xuất một số hàng hoá và dịch vụ quan trọng sống còn, đó là một trong những nguyên nhân khiến nhà nước phải tham gia vào việc giải quyết các vấn đề kinh tế. Trong số những vấn đề đó, bản báo cáo này chú trọng đến “các công trình nghiên cứu khoa học cơ sở” mà hiệu quả bổ ích của chúng vượt quá nhiều lần những gì mà chính các hãng và các tổ chức tiến hành các việc nghiên cứu như vậy có thể thu được. Sự viện trợ có hướng đích của nhà nước đối với chúng là đúng đắn, bởi lẽ, những chi phí liên quan với chúng sau này sẽ được bù đắp một cách thừa thãi nhờ những sự đổi mới công nghệ và việc cải thiện chất lượng của sản phẩm mới làm ra. Điều đó đang được phản ánh một cách tốt đẹp trên toàn bộ nền kinh tế [11] . Một cách tương tự, các khoản đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng vận tải và viễn thông cũng được đánh giá cụ thể trong bản báo cáo này.
Ngoài ra, bản báo cáo cũng lập luận rằng, sở dĩ nhà nước phải tham gia vào việc phát triển ngành y tế là do sự mất cân đối của các luồng thông tin lưu truyền giữa người sản xuất và người sử dụng dịch vụ y tế, làm cho hoạt động của thị trường không có hiệu quả.
Bản báo cáo cũng đặc biệt chú ý đến việc cải cách cái gọi là độc quyền tự nhiên, nhằm dần dần đưa chúng vào cơ chế thị trường, đồng thời, cũng chú ý đến việc phát huy tác động qua lại giữa nhà nước với thị trường trong các lĩnh vực khác. Những kết quả khả quan của việc thúc đẩy sự cạnh tranh từ cuối những năm 70 trong các lĩnh vực vận tải hàng không và đường sắt, vận chuyển hàng hoá và cung ứng khí đốt cũng được nêu rõ. Bản báo cáo cũng xem xét tiến trình khởi đầu từ những năm 90, vận dụng các nguyên tắc cạnh tranh trong kinh doanh năng lượng điện và liên lạc bằng điện thoại, những địa hạt này vốn bị gác lại một thời gian dài do những khó khăn về pháp luật và chính trị. Những trường hợp sử dụng thành công các đòn bẩy thị trường đảm bảo nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội nhờ hoạt động thường ngày của nhà nước cũng được nhắc đến.
Những kết quả tốt đẹp của việc áp dụng các cơ chế thị trường càng được củng cố bằng những dẫn chứng thực tế. Đặc biệt, thực tế cũng ghi nhận sự giảm nhẹ các chi phí cho việc bảo vệ môi trường nhờ cho phép bán quota phóng thải các chất độc hại do nhà nước quy định, nâng cao hiệu quả của các dịch vụ truyền thông và doanh thu từ việc bán các tần số âm thanh tại các cuộc đấu giá cho phép giảm nhẹ gánh nặng chung về thuế khoá. Các khoảnh đất của nhà nước cho thuê để khai thác khoáng sản, chăn thả gia súc, trồng rừng và cung cấp nước cũng được sử dụng có hiệu quả hơn, đồng thời, còn củng cố sự an toàn sinh thái.
Coi trọng vấn đề nâng cao hiệu quả kinh tế của nhà nước bằng mọi cách, bản báo cáo đồng thời cũng nhấn manh dứt khoát rằng, dẫu sao thì cũng không thể thu hẹp việc đánh giá các kết quả hoạt động của nhà nước chỉ ở tiêu chuẩn này bởi vì xã hội còn có những nhu cầu và những giá trị khác nữa. Do đó, phải nhận thấy những sự khác biệt sâu sắc về những khả năng và những kết quả kèm theo phát triển dựa vào thị trường. Để xoá bỏ sự bất bình đẳng sinh ra bởi thị trường với tư cách là công cụ của chính sách kinh tế của nhà nước, bên cạnh hệ thống chuyển nhượng xã hội đã nêu ở trên, còn phải sử dụng thuế lũy tiến theo thu nhập và nền giáo dục miễn phí. Ví dụ, trong năm 1995, nhờ viện trợ xã hội toàn diện của nhà nước nên bộ phận dân cư sống dưới mức nghèo khổ chính thức đã giảm hơn một nửa (từ 21,9 xuống 10,3 %) [12] .
Để kết luận, xin nhấn mạnh rằng, những cuộc tranh luận kéo dài về các mặt tích cực và tiêu cực của việc nhà nước can thiệp vào nền kinh tế đều dựa trên việc đặt nhà nước đối lập với thị trường một cách giả tạo, thường giảm nhẹ những thiếu sót của bên này và thổi phồng những khả năng của bên kia. Cân nhắc cẩn thận cả những phí tổn lẫn những lợi ích thì thấy rằng, thị trường và nhà nước không thay thế nhau mà bổ sung cho nhau, còn việc thu hẹp phạm vi của nhà nước cũng như việc mở rộng khu vực tư nhân đều có những giới hạn khách quan. Tuy nhiên, chính sách của nhà nước có thể tác động đến sự cải thiện hoạt động của thị trường, còn việc kiện toàn chính sách của nhà nước bằng các phương pháp thị trường thì sẽ giúp cho việc phục vụ xã hội có hiệu quả hơn nữa và giảm bớt gánh nặng thuế khoá cho dân.
Chú ý đến những tệ nạn vốn có của thị trường, những hậu quả tiêu cực của mánh lới kinh doanh trên thị trường và không được phép thương mại hoá một số giá trị luân lý đạo đức và những phúc lợi xã hội cơ bản, cho nên, sự kết hợp tối ưu giữa nhân tố định hướng có ý thức và nhân tố tự phát của đời sống xã hội hẳn là mục đích tối cao. Sự tiến tới mục đích đó mở ra khả năng giải quyết nhiều vấn đề bức thiết cả ở cấp độ quốc gia và ở cấp độ quốc tế. Nhưng, để tiến bước theo hướng đó, không hề có những chỉ dẫn có sẵn, dù là đơn giản và phiến diện. Trên thực tế, tất cả các nước đại diện các chủng loại văn hoá văn minh khác nhau, có những lợi ích không giống nhau, đôi khi trái ngược nhau, có những khả năng ban đầu không đồng đều và tiếp nhận những thách thức của thời đại theo cách khác nhau, đều phải giải quyết bài toán như vậy, bất kể trình độ chín muồi về kinh tế của họ.
Nếu bỏ qua những đặc điểm phản ánh tính đặc thù mỗi lúc một khác của mỗi nước thì những nhiệm vụ chủ yếu của nhà nước trong các nền kinh tế phát triển có thể quy vào việc bảo đảm cơ sở thiết chế luật pháp cho hoạt động kinh tế, vào việc bù đắp và giảm bớt những khiếm khuyết của thị trường. Đây muốn nói về việc tạo ra những tiền đề cho sự tăng trưởng kinh tế và kinh doanh có hiệu quả, về việc đáp ứng các nhu cầu của xã hội mà thị trường phải bó tay, và cũng nói về việc xoá bỏ hoặc giảm nhẹ các hậu quả tiêu cực do những sự quá quắt của các thế lực trên thị trường tự phát. Việc giải quyết nhiệm vụ này, mà thực chát là gồm ba phần, đòi hỏi một tổng thể phức tạp gồm nhiều biện pháp, trong số đó, thường phải chú trọng các nhiệm vụ sau đây [13] :
- hoạt động lập pháp và hoạt động bảo hộ của pháp luật nhằm bảo vệ tự do của cá nhân và quyền sở hữu tư nhân, bao gồm việc duy trì kỷ luật hợp đồng;
- tạo nên cái gọi là phúc lợi xã hội, tức là những phúc lợi không thể chia được khi sử dụng (sự nghiệp quốc phòng, bảo đảm trật tự, xây dựng đướng sá, ống dẫn nước, kênh mương và các công trình khác cần thiết cho sinh hoạt bình thường của xã hội);
- phát triển giáo dục, y tế, khoa học và văn hoá, các lợi ích nằm ngoài mọi mối quan tâm của các chủ thể trên thị trường nhưng lại có tầm quan trọng lâu dài đối với việc hoàn thiện tư bản con người và cuộc sống xứng đáng với con người;
- bảo vệ xã hội khỏi những tác động phụ tiêu cực của hoạt động kinh tế, như sự hủy hoại môi trường;
- bảo đảm mọi điều kiện cho sự cạnh tranh không ngừng trên thị trường, đồng thời, điều chỉnh và thay đổi các độc quyền tự nhiên trong việc sản xuất và phân phối các dịch vụ về năng lượng, vận tải và thông tin liên lạc;
- giảm bớt bất công xã hội do thị trường sinh ra và áp đặt;
- điều chỉnh chống lạm phát và chống khủng hoảng tuần hoàn;
Các hệ thống thị trường chỉ mới phát triển đầy đủ ở chưa đến ba chục nước. Vốn là những nước dẫn đầu nền văn minh do kỹ thuật sinh ra, các nước ấy cũng là hạt nhân trung tâm của hệ thống kinh tế thế giới. Các tiêu chuẩn đã được xác định về công nghệ, kinh tế xã hội và tổ chức quản lý để trên cơ sở đó hình thành trật tự kinh tế thế giới, những điều kiện và những luật chơi phổ quát, đều do sự phát triển của các nước này tạo nên. Còn các nước ở ngoài rìa của nền kinh tế thế giới thì đứng trên quỹ đạo của cái gọi là “sự phát triển đón đầu” nên buộc phải thích ứng với những điều kiện và những luật chơi ấy. Trước hết, phải thích ứng trong các quan hệ kinh tế đối ngoại. Nhưng không phải chỉ có thế. Tuy nhiên, việc đi theo quỹ đạo này cũng không có gì bảo đảm khắc phục được tình trạng lạc hậu. Gọi là “sự phát triển đón đầu” là do chiều hướng chung của nó và do những khả năng (mà nó hứa hẹn) gỡ lại cái bị hẫng hụt trong một chừng mực nào đó. Trong nửa cuối thế kỷ XX vừa qua, cùng với Nhật Bản là nước từng chịu sự thất bại quân sự thảm hại, các nước chiếm vị trí lưng chừng như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp cũng như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Hồng Kông vốn trỗi dậy từ ngoại vi xa xôi của nền văn minh công nghiệp, đã biết lợi dụng khả năng ấy.
Kinh nghiệm tổng hợp của các nước này chứng tỏ dứt khoát rằng, chỉ khi nào tạo dựng được những cơ chế kinh tế và những thiết chế tương tự thì mới có thể vươn lên hàng tiên phong kinh tế. Những thứ vay mượn trực tiếp đều bị môi trường xa lạ chối bỏ. Ngoài thời gian, sự hình thành các cơ chế cần thiết còn đòi hỏi nhiều tri thức, tính linh hoạt, những cố gắng vượt bậc và ý chí không nao núng, bởi vì điều đó đi đôi với sự biến đổi sâu rộng về kinh tế xã hội làm thay đổi triệt để nền tảng và diện mạo của xã hội mà ta đang cải tổ. Nhưng, để đạt đến trình độ kinh tế và xã hội tiên tiến, không có con đường nào khác. Kết cục đáng buồn của những cuộc thí nghiệm xã hội từng biết trong lịch sử đã hoàn toàn xác nhận điều đó và là bài học nêu gương cho tất cả các nước đang ở trong tình trạng phát triển đón đầu.
Nhà nước trong những điều kiện phát triển đón đầu
Cuộc cách mạng công nghiệp và việc hoàn thiện các chức năng kinh tế của nhà nước và ở các nước dẫn đầu nền văn minh do kỹ thuật sản sinh đã diễn ra đồng thời, dường như chúng vừa bổ sung vừa thúc đẩy lẫn nhau, và kéo dài vài thế kỷ. Hiện tại, đã đạt được sự hài hoà tương đối giữa thị trường và nhà nước, nhưng hoàn toàn không phải cùng một lúc. Trên thực tế, chỉ sau chiến tranh thế giới thứ hai mới đạt được sự tương xứng thực sự của chúng, bảo đảm bước nhảy vọt cuối cùng của công nghiệp và chuẩn bị cơ sở cho các nước này chuyển sang giai đoạn phát triển hậu công nghiệp.
Nhưng những nước phát triển đón đầu hiện nay không thể cho phép mình chần chừ dai dẳng chút nào mà không sợ bỏ lỡ cơ hội thoát ra khỏi vũng bùn lạc hậu từng níu kéo họ. Trong tình hình như vậy, việc cân nhắc và sử dụng sáng tạo kinh nghiệm thế giới cho phù hợp với các truyền thống lịch sử, với đặc thù văn hoá xã hội và kinh tế xã hội của từng nước đang đi trên con đường phát triển đón đầu là điều có ý nghĩa quyết định. Đặc biệt quan trọng là kinh nghiệm của mấy chục năm sau chiến tranh thế giới, khi mà, nhờ việc đánh bại chủ nghĩa phát xít nên cuối cùng đã tìm ra và đã thử nghiệm được mô hình hợp lý đưa nhà nước tham gia toàn diện vào quá trình phát triển, cho phép không những sử dụng được những ưu điểm của thị trường mà còn bù đắp được những khiếm khuyết của nó. Nhờ sự thể chế hoá mô hình ấy nên đã mở được con đường dẫn đến những thành tựu kinh tế và xã hội chưa từng thấy, khiến cho tính hấp dẫn của nó càng được nâng cao đáng kể.
Thế nhưng thật khó có thể tái tạo mô hình đó ở khắp mọi nơi dưới dạng tương đối đầy đủ. Trước hết là do sự cách biệt sâu rộng hơn trước rất nhiều về trình độ phát triển kinh tế giữa các nước dẫn đầu và các nước ngoài rìa nền văn minh do kỹ thuật tạo nên, mà cuối cùng thì sự phối hợp và mức độ cấp thiết của các nhiệm vụ đặt ra cho nhà nước, cũng như toàn bộ công cụ thích hợp để giải quyết các nhiệm vụ này đều phụ thuộc vào sự cách biệt ấy. Ngoài ra, cuộc cách mạng về thông tin và quá trình toàn cầu hoá đã mở rộng tầm phát triển chung nhưng đồng thời cũng làm phức tạp thêm tình hình ở các nước lạc hậu và thu hẹp những khả năng điều chỉnh của nhà nước trong khuôn khổ quốc gia. Cuối cùng, không thể không kể đến tình trạng kém phát triển của đa số các nước đang phải phát triển đón đầu, và ở đó cũng rất khó điều chỉnh các cơ chế tự điều chỉnh kinh tế xã hội để thay đổi các hình thức can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế mà chủ yếu là đưa sự can thiệp ấy vào nền nếp.
Tóm lại, đối với các nước phát triển đón đầu, điều quan trọng không phải chỉ là những sự kết hợp và những tỉ lệ cụ thể giữa từng bộ phận riêng rẽ của mô hình đã được tạo nên trong quá trình phát triển của một nền kinh tế đã trưởng thành, và cũng không hẳn là cấu tạo chung của nó, với tư cách là những nguyên tắc đặt cơ sở cho mô hình này. Vấn đề còn là ở chỗ, việc hiện đại hoá các nước ngoại vi, việc ràng buộc các nước này với các nước dẫn đầu nền kinh tế thế giới đòi hỏi phải hiện đại hoá bản thân nhà nước, phải tổ chức lại và hoàn thiện các chức năng của nó, phải hợp lý hoá các bộ máy quản lý và phải đổi mới công cụ quản lý, kể cả chế độ thông qua các giải pháp. Việc trì hoãn cải cách bộ máy nhà nước kéo theo những tổn thất nghiêm trọng về vật chất, trí lực và tâm lý tinh thần, và cuối cùng là sự đình đốn kinh tế cùng với mọi hậu quả từ đó mà ra. Mặc dầu vậy, nhiều vấn đề then chốt không thích hợp với các giải pháp thị trường đơn thuần.
Nhân tiện xin nói thêm rằng, theo nhận xét sắc sảo của L. Erhard, một vị luật sư nổi tiếng, cũng là người đề xướng thái độ cân nhắc đối với việc tự do hoá đời sống kinh tế, kiến trúc sư của “kỳ tích kinh tế” Tây Đức, thì sự cạnh tranh, vốn là một phần không thể thiếu của một thị trường hữu hiệu và là đối tượng quan tâm của tất cả những người ủng hộ thị trường đó, hoàn toàn không phải là thứ linh dược chữa được mọi chứng bệnh, mà chỉ là “nhân tố kích thích và thước đo hiệu quả” [14] , bảo đảm sự chọn lọc tự nhiên của các tác nhân kinh tế giàu sức sống.
Nhưng, bởi vì sự lựa chọn này được thực hiện xuất phát từ hiệu quả hiện tại nên nó hoàn toàn không thể phù hợp với các xu hướng và các mục tiêu phát triển lâu dài ở mọi lúc và ở mọi nơi. Chính điều mang lại hiệu quả hôm nay thì hoàn toàn không nhất thiết ngày mai vẫn thế. Vì vậy, khi giải quyết các nhiệm vụ kinh tế hiện tại, cũng không được phép quên những vấn đề của ngày mai. Cần phải có chiến lược phát triển lâu dài để phối hợp chúng cho thoả đáng. Đó là thực tiễn bình thường không phải chỉ của các tổ chức thương mại hoặc phi thương mại có uy tín mà còn là của người bình thường quan tâm đến nhà nước tương lai. Tuy nhiên, nếu nói về các nền kinh tế tiên tiến thì chính nhà nước đóng vai trò quyết định trong việc cải biến chúng bằng thị trường.
Với tất cả mọi sự khác biệt được ước định bởi đặc thù của mỗi xã hội đang phát triển nói riêng và của xã hội sau xã hội chủ nghĩa tiên tiến, những ý tưởng của chủ nghĩa tự do đặt cơ sở của việc hiện đại hoá kinh tế xã hội của chúng. Đó là logic của tiến bộ xã hội nhằm giải phóng và tích lũy năng lực sáng tạo của quần chúng. Nhưng, trong đời sống thực tế, không thể có tự do tuyệt đối. Nếu không có những khuôn khổ pháp luật và những sự hạn chế hợp lý thì tự do không dẫn đến thị trường và dân chủ hiểu với nghĩa là một trật tự nhất định được đặt trên một hệ thống kéo giữ và đối trọng, mà sẽ dẫn đến tình trạng hỗn độn, ai muốn làm gì thì làm, như đã xảy ra ở nước Nga hồi những năm 90.
Lúc sinh thời, L. Erhard kiên trì chủ trương rằng, cần phải hạn chế tự do bằng pháp luật. Quan niệm của ông về kinh tế thị trường xã hội đã không được thừa nhận ngay. Lúc đầu, nó đã trở thành mục tiêu của những trận đả kích kịch liệt từ phía hữu lẫn phía tả. Phản bác những lời công kích của phái tả, L. Erhard đã nhấn mạnh vai trò quyết định của luật và quyền trong việc giải quyết các vấn đề xã hội. Trong một bài báo, ông viết: “Những hỗn độn xã hội sau khi chủ nghĩa tư bản ra đời là những hiện tượng đi kèm với cuộc cách mạng kỹ thuật và với sự lý giải không đúng về cái gọi là những quyền tự do phóng túng, chứ tuyệt nhiên không phải là hậu quả của nguyên tắc kinh tế thị trường theo đúng nghĩa của nó. Tội lỗi lịch sử của thời đại này là ở chỗ, nhà nước ở trong vòng tù hãm của những thành kiến giai cấp nên đã từ chối sử dụng quyền và luật để nhổ bật các tệ nạn ấy” [15] .
Trong cuộc luận chiến với phái hữu, ông đã nhấn mạnh đến việc nhà nước cần phải tham gia vào các quá trình năng động hoá và nâng cao hiệu quả của nền kinh tế. L. Erhard khẳng định: “Kẻ nào vẫn cứ như trước, còn hiểu rằng kinh tế tự do là sự cướp bóc vô độ của thời trước và của giai đoạn tột cùng của chủ nghĩa tư bản thì cũng hoàn toàn xa lạ với những quan niệm về nền kinh tế thị trường năng động, cũng giống như một người cá nhân chủ nghĩa không hề chú ý đến cái gì cả, mà lại lẫn lộn nền kinh tế kế hoạch hoá với thói lộng hành quan liêu, tàn nhẫn, phí phạm” [16] .
Như chúng ta vừa thấy, L. Erhard (giống như các chính khách của các nước tư bản chủ nghĩa khác) phân biệt rạch ròi việc kế hoạch hoá như là sự hướng tới mục tiêu, và chính sách kinh tế của nhà nước là để bảo đảm đi đến những mục tiêu đã định, chứ không phải là “sự lộng hành quan liêu, tàn nhẫn và phí phạm” dựa trên sở hữu nhà nước và độc quyền của nhà nước đối với mọi hình thức hoạt động liên quan với sản xuất, tiêu thụ và phân phối các phúc lợi mà xã hội sử dụng. Các yếu tố của sự kế hoạch hoá như vậy (trong sách báo kinh tế học, nhiều khi được gọi là kế hoạch hoá chỉ thị) đã thực sự ra đời ở thế kỷ XIX, khi mà các nước Mỹ, Đức và Pháp bắt đầu tìm kiếm những con đường để khắc phục sự lạc hậu so với nước Anh lúc đó đã là dẫn đầu về kinh tế trên thế giới, sản xuất hơn một nửa tổng sản phẩm công nghiệp cung cấp cho thị trường thế giới.
Nhà kinh tế học F. List, người Đức, là người đầu tiên phân tích tường tận vấn đề này và đã dự đoán phần lớn các hướng nghiên cứu thuộc phạm vi vấn đề đó. Hiện nay, nếu người ta nhắc đến ông thì chỉ coi ông như một người biện hộ cho chính sách thuế quan bảo hộ. Tuy nhiên, ý tưởng về chính sách thuế quan bảo hộ chỉ là một phần chứ không phải là phần quan trọng nhất trong đề xuất lý thuyết của ông về vấn đề khắc phục tình trạng lạc hậu kinh tế. Nhân thể, xin nói rằng F. List thực sự là người ủng hộ chứ không phải là người chống đối việc buôn bán tự do, tuy nhiên, với giả định rằng, chỉ cho phép buôn bán tự do giữa các nước có trình độ phát triển kinh tế và kỹ thuật xấp xỉ bằng nhau. F. List đã nhìn thấy vấn đề chính của nước Đức thời bấy giờ là ở việc xóa bỏ tình trạng lạc hậu về kỹ thuật, ông đã hiến dâng cả đời mình cho việc chấn hưng nước Đức. Toàn bộ hệ thống những biện pháp do ông đề nghị đều nhằm giải quyết nhiệm vụ này.
List rất coi trọng sự hình thành “tư bản tri thức” thông qua sự nhận thức và lĩnh hội những ý tưởng, những phát minh và sáng chế mà loài người đã tích luỹ được rồi làm cho chúng tăng lên gấp bội bằng những cố gắng của bản thân mình. Vì vậy, ông đã chủ trương phát triển toàn diện nền giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp, văn hoá và những kỹ năng lao động nghề nghiệp. Trong khi đó, ông không quên tầm quan trọng của việc đầu tư vào các thành phần “vật chất” của tư bản dựa trên những công nghệ tân tiến nhất và những kiến thức thực tiễn thu được trong quá trình khai thác chúng. Để thúc đẩy việc nắm bắt những thành tựu công nghệ mới nhất, F. List đã đề nghị nhập khẩu thiết bị tương ứng, thu hút tiền đầu tư từ nước ngoài, mời các chuyên gia nước ngoài. Luận đề của ông về sự chú ý đặc biệt đến việc nâng cao tư cách và trình độ nghề nghiệp của công nhân.
Để hiểu rõ hơn nữa về tầm rộng lớn của những quan điểm và ảnh hưởng của những tư tưởng của F. List đối với quan niệm về phát triển đón đầu, rất đáng chú ý đến lời chê trách của ông đối với A. Smith, người sáng lập môn kinh tế chính trị học kinh điển, về việc ông này, sau khi tập trung vào các vấn đề về phân công lao động xã hội, đã không chú ý đến “lực lượng sản xuất” vốn dựa trên trình độ lành nghề, tri thức và giáo dục. Về phương diện này, F. List cũng không kém xuất sắc khi ông phê phán trường phái cổ điển về việc không hiểu vai trò đặc biệt của các nhà khoa học, của các kỹ sư, các nhà thiết kế, và về việc xếp lao động của thầy thuốc và thầy giáo vào loại phi sản xuất.
Thiết tưởng, về công lao của F. List, phải kể đến nhận thức của ông, cho rằng, việc giải quyết vấn đề tầm cỡ như thế đòi hỏi khá nhiều thời gian, tính liên tục và tính kế thừa trong chính sách kinh tế mà nhiệm vụ cơ bản của nó là tạo nên những tiền đề vật chất, thiết chế và văn hoá để thúc đẩy sự chuyển biến trong công nghiệp. Trên thực tế, suốt cả nửa cuối thế kỷ XX nước Đức đã thực hiện những ý tưởng của F. List từng ảnh hưởng quyết định đến sự tiến hoá của chính sách kinh tế của nhà nước và quan điểm của nhà nước đối với tiến bộ kỹ thuật. Kết quả của những chuyển biến do điều đó mang lại, trước hết là phát triển được một hệ thống giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp tuyệt vời cho phép đặt quá trình nằm bắt và phổ biến các kỹ thuật tiên tiến trên cơ sở thường xuyên và tự tái sản xuất. Thứ hai là, nhờ những nỗ lực của công nghiệp, của chính phủ và của các trường đại học, đã tạo được một hệ thống nghiên cứu khoa học và thiết kế thử nghiệm có kết quả. Điều đó đã đóng vai trò quyết định trong việc giành cho nước Đức những ưu thế kỹ thuật tương đối trong kỹ thuật điện và hoá học, và cả trong việc khắc phục sự lạc hậu về kỹ thuật trong các lĩnh vực khác để đưa nước Đức lên thứ bậc hàng đầu về kinh tế trên thế giới [17] .
Ở đa số các nước Tây Âu khác từng bước lên vị trí tiên phong về công nghiệp trên thế giới hồi đầu thế kỷ XX cũng đã diễn ra một điều gì đó gần giống như những cơn chấn động. Sự phát triển của các nước gồm dân di cư (Mỹ, Canada, Australia và New Zealand) là đặc điểm nổi bật quan trọng. Quả là chủ nghĩa tư bản với tất cả những ưu điểm và khuyết điểm của nó đã được các kiều dân Châu Âu mang đến đó, và do sự đàn áp dân bản địa một cách khốc liệt nên trên thực tế, nó đã được phát triển ở một nơi quang đãng, không vấp phải sự chống đối (thường thấy trong những trường hợp như vậy) của các lực lượng truyền thống và của các tầng lớp xã hội và tác động kìm hãm do tâm thái của chúng. Nhưng ở đó nhà nước đã đóng vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hình thành phương thức sản xuất công nghiệp sau khi đã bảo đảm ngay từ đầu những tiền đề kinh tế xã hội cần thiết cho sự phát triển của hoạt động kinh doanh tư nhân và bảo vệ nền công nghiệp vừa ra đời khỏi sự cạnh tranh không ngang sức của nước ngoài, và sau đó là để hình thành cơ sở hạ tầng xã hội (điều này đã bù đắp một trong những thất bại đau đớn nhất và nguy hại nhất của thị trường).
Thế kỷ XX đã tich lũy được kinh nghiệm phong phú và đa dạng hơn rất nhiều về phát triển đuổi theo. Do sự sụp đổ của các đế quốc thực dân và sự tan rã của một loạt nước sau xã hội chủ nghĩa, hơn 150 quốc gia mới xuất hiện, đại đa số đều đụng chạm vấn đề về tình trạng lạc hậu, đã tham gia vào công cuộc sáng tạo lịch sử tự chủ.
Trong thế kỷ XX, nước Nga Xô viết đã trở thành nước khởi xướng cuộc đấu tranh để khắc phục tình trạng lạc hậu. Tuy nhiên, nếu không có chế độ sở hữu tư nhân và không có thị trường thì không thể giải quyết vấn đề này. Hệ thống quản lý kinh tế động viên phân phối do những người bolshevik tạo nên đã hoạt động tương đối có kết quả ở giai đoạn công nghiệp hoá cần nhiều dự trữ ban đầu, trước hết là nhằm gia tăng khối lượng sản xuất thực thể, đặc biệt là trong tổ hợp công nghiệp quân sự. Nhưng đến đầu những năm 60, khi nền kinh tế Xô viết rất cần thiết phải hiện đại hoá thì hệ thống ấy đã bắt đầu tụt dốc. Những cố gắng cải cách kinh tế dè dặt đã thất bại. Kết quả là, mặc cho vô số nghị quyết của các đại hội đảng, nền kinh tế của Liên Xô vẫn không thể nào bước vào quỹ đạo phát triển mạnh mẽ. Cuộc chạy đua vũ trang điên rồ đã làm trầm trọng thêm những rắc rối và lộn xộn về kinh tế ngày càng tăng, và cuối cùng, làm cho đất nước kiệt quệ rồi lâm vào trạng thái đình đốn kinh tế. Nếu không có sự tiếp sức bất ngở bằng những khoản thu nhập khổng lồ từ dầu mỏ do cuộc khủng hoảng năng lượng thế giới mang lại thì hệ thống đã lỗi thời ấy có lẽ không cầm cự được lâu như thế.
Trong khi nền kinh tế Xô viết vốn đã cạn kiệt những sức lực cuối cùng, nó vẫn làm việc để chạy đua vũ trang rồi biện bạch bằng những lời viện dẫn về sự cần thiết phải duy trì một thế tương đẳng quân sự vô ích, thì thế giới đã thay đổi rõ rệt. Những kẻ thù tư tưởng của chế độ Xô viết, sau khi hoàn thành thắng lợi cuộc cách mạng công nghiệp, đã bước vào giai đoạn phát triển hậu công nghiệp. Sau khi hoàn thành những bước đột phá chóng mặt, bốn nước công nghiệp mới đã hoà nhập vào đội tiên phong kinh tế thế giới. Ở đây, sự cách biệt về thu nhập trung bình tính theo đầu người giữa các nước dẫn đầu và các nước cuối hàng đã giảm xuống hai lần, trong khi đó, sự tụt hậu của các nước ngoài rìa so với các nước dẫn đầu nền văn minh kỹ thuật thì ngược lai, đã tăng lên ba lần. Vài chục năm cuối cùng của thế kỷ vừa qua, ngoài những nước đã nằm trong nhóm các nước công nghiệp mới, còn một số nước nữa đã phát triển với nhịp độ vượt quá các nước tiên phong kinh tế. Trong nhóm này có Malaysia, Thái Lan, Việt Nam, Indonesia và cả những nước rất lớn như Trung Quốc và Ấn Độ. Như vậy, mặc dầu ngày càng nhiều nước đang phát triển bị sa sút và đình đốn thật sự, nhưng tổng số dân cư đang sống trong trạng thái bần cùng và nghèo khổ đã giảm xuống một ít. Tuy nhiên, sự đổ vỡ về kinh tế chưa từng thấy và sự bần cùng hoá quần chúng cư dân đông đảo đang diễn ra khi cải cách ở Nga thật đáng đau lòng.
Mỗi một nước, khi đã biết tiến theo con đường khắc phục tình trạng lạc hậu thì đều đạt tới con đường đó theo cách của mình. Xuất phát từ những hoàn cảnh thực tế về chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của chính mình. Tuy nhiên, kinh nghiệm của các nước ấy cũng chứa không ít những cái chung, phản ánh những điều kiện và những quy luật tối cần thiết cho việc phát triển đón đầu tương đối có kết quả trong thời đại tiến bộ khoa học kỹ thuật vượt bậc, tăng cường các mối quan hệ kinh tế thế giới và cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Điều đó hiện ra hết sức rõ ràng khi xem xét kinh nghiệm của tám nước Đông Á và Đông Nam Á từng trở thành những nước vô địch về nhịp độ tăng trưởng kinh tế trong những năm 1965-1990. Năm nước trong số đó, mà cụ thể là Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc, Singapore và Hồng Kông (mà hiện nay đã nhập vào Trung Quốc với tư cách một đặc khu kinh tế) được xếp vào hàng các quốc gia phát triển, mà về nhiều thông số, họ còn đứng trên một số nước trong đó. Ba nước khác là Thái Lan, Malaysia và Indonesia, sau đà tiến bộ rõ rệt trên con đường công nghiệp hoá, đã củng cố vững chắc vị trí của mình trong nền kinh tế thế giới. Dựa trên những số liệu của một công trình nghiên cứu đặc biệt, các chuyên gia của Ngân hàng thế giới phân chia ra một số bộ phận của thành công đó [18] .
Bên cạnh việc phát triển cưỡng bức giáo dục tiểu học phổ thông và bảo đảm cho quần chúng rộng rãi được hưởng giáo dục trung học và đại học còn phải có bộ máy quản lý nhà nước có trách nhiệm và thẩm quyền, sự hiện hữu một quan niệm rõ ràng về những nhiệm vụ trong lĩnh vực phát triển, việc quản lý kinh tế vĩ mô một cách thông thạo và tình hình kinh tế vĩ mô ổn định, những sự bảo đảm vô điều kiện cho quyền sở hữu, hệ thống ngân hàng đáng tin cậy và linh hoạt cho khả năng huy động tiền tiết kiệm và duy trì lượng vốn đầu tư của tư nhân ở mức cao ổn định và cả những khoản đầu tư cần thiết của nhà nước vào cơ sơ hạ tầng. Các cuộc cải cách ruộng đất và chính sách tích cực nhằm nâng cao năng suất nông nghiệp để phá bỏ những nguyên nhân gây nên sự bất bình đẳng về kinh tế xã hội đều được chú ý đặc biệt. Vai trò tích cực của những sự can thiệp từ nhà nước vào kinh tế để bổ cứu những khiếm khuyết của thị trường cũng được nhấn mạnh.
Trong đa số các nền kinh tế này, sự can thiệp được thực hiện một cách có hệ thống theo nhiều kênh và dưới những hình thức khác nhau để gia tăng tốc độ phát triển chung, và trong một số trường hợp thì cũng để lôi kéo các ngành và (hoặc) các bộ phận kinh tế lẻ tẻ. Nhà nước cũng can thiệp vào việc phát triển hệ thống tài chính, cả vào quá trình thay thế nhập khẩu và vào việc công nghiệp hoá theo định hướng xuất khẩu từng đóng vai trò quyết định trong sự nghiệp hiện đại hoá kinh tế nhanh chóng.
Rõ ràng, vấn đề ở đây không phải chỉ là ở những khát vọng của các thủ lĩnh chính trị điạ phương quan tâm đến số phận của đất nước mình. Mặc dầu chính sự quan tâm đó và những khát vọng đó đã sản sinh những cố gắng để tạo mọi điều kiện nâng cao nhịp độ tăng trưởng kinh tế. Khoảng điều chỉnh của nhà nước rộng hơn so với ở các nước tiên tiến về kinh tế là do những nhu cầu phát triển bắt buộc đòi hỏi, trong tiến trình đó, như N.A. Simonia nhận xét, “không tránh khỏi sự rút ngắn (diễn ra không đầy đủ) và sự chồng chéo của các giai đoạn (hoặc các mặt của các giai đoạn) khác nhau của chủ nghĩa tư bản. Tương ứng với điều đó, vai trò của nhà nước tăng lên khác thường, các chức năng khác nhau của nó bị biến dạng đi (phình ra hoặc teo lại, v.v.). Tại nhiều nước đang phát triển, nhà nước phải thực hiện các chức năng các cấu trúc của xã hội công nghiệp “từ trên xuống dưới”, tổ chức trực tiếp quá trình sản xuất trong một loạt các ngành công nghiệp mới, kiểm soát chặt chẽ sự phân phối các luồng tài chính (tín dụng), kiểm soát phương hướng xuất khẩu sản phẩm, có sự kết hợp linh hoạt với việc thay thế nhập khẩu và chính sách thuế quan bảo hộ” [19] .
Tuy nhiên, mặc dầu nhà nước can thiệp trên những tầm mức đáng kể vào diễn biến tự nhiên của các quá trình kinh tế, nhưng, theo sự thừa nhận của các chuyên gia của Ngân hàng thế giới thì điều đó đã không dẫn đến những sự sai lệch đáng kể nào. Bí quyết của điều đó là ở trình độ chuyên môn và tinh thần trách nhiệm cao của những người cổ vũ và những người thi hành. Sự can thiệp có chọn lọc của nhà nước hết sức rộng rãi và hiệu quả đã được thực thi ở năm nước đầu tiên mà ta đang nói tới, điều đó liên quan với sự phát triển của những cơ chế pháp lý đặc biệt quy định những tiêu chuẩn phân minh và thực hiện việc giám sát tình hình. Những sự can thiệp đã được thực hiện một cách thận trọng, có chú ý đến những sự thay đổi đang diễn ra, và điều đó đã cho phép tránh được những phí tổn quá mức. Khi xuất hiện những mối đe doạ đối với sự ổn định kinh tế vĩ mô thì điều đó mở ra một lối thoát, ví dụ như trong các cuộc thử nghiệm xây dựng công nghiệp nặng và công nghiệp hoá chất ở Hàn Quốc và ở Malaysia.
Malaysia, Thái Lan và Indonesia tuy tham gia cuộc chạy đuổi theo các nước tiên tiến về kinh tế trên thế giới muộn màng hơn các nước láng giềng phía bắc và có ít khả năng cho sự can thiệp có chọn lọc, nhưng cũng đã sử dụng sự can thiệp ấy khá thành công. Như vậy, sự thách thức mà các nước phát triển đón đầu đang gặp phải không chỉ là ở chỗ phải hiểu rõ những biện pháp cụ thể nào có thể tạo thuận lợi cho sự tăng trưởng kinh tế, mà còn phải đánh giá đúng những hoàn cảnh kinh tế và pháp lý cần thiết để cho các biện pháp này có thể thực hiện được một cách hiệu quả.
Ngay trong công trình nghiên cứu và cả trong bản chú giải tóm tắt cũng đều chú ý đáng kể đến sự phân phối các phúc lợi kinh tế do quá trình phát triển tạo ra. Đặc biệt, phải ghi nhận rằng, ở các nước Đông Á và Đông Nam Á , khác với các nước đang phát triển khác, sự phân phối các khoản thu nhập đã không bị xấu đi mà còn đước cải thiện theo đà gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, ở một số trong những nước ấy, sự phân phồi thu nhập là đồng đều nhất trên thế giới do sự tăng trưởng năng động, hướng vào phúc lợi toàn dân (shared growth). Mức sống và chất lượng cuộc sống ở các nước này đã tăng lên rõ rệt. Rất nhiều chỉ tiêu kinh tế và xã hội chứng tỏ điều đó, kể từ giáo dục cho đến các đồ dùng trong gia đình, nhiều khi vượt quá các chỉ tiêu của các nước phát triển. Các tác giả của công trình nghiên cứu và bản chú giải thực ra còn tự giới hạn ở việc xác nhận sự thực đáng chú ý này, chưa nói đến ảnh hưởng cực kỳ tốt đẹp của nó đến việc cố kết xã hội và đến thái độ đối với các cuộc cải cách đang được thực hiện, và hơn hết là đến những khả năng tăng trưởng kinh tế.
Phán đoán theo số liệu thống kê mà mọi người đều biết thì thấy rằng, sự tiến bộ kinh tế của tất cả các nước này đã diễn ra vời mức chi phí quốc gia không cao lắm, điều mà những người ủng hộ các nước nhỏ thường lơi dụng. Nhưng, tài liệu thống kê mà họ sử dụng chỉ chứa những số liệu về chi tiêu của chính phủ trung ương. Thế nhưng, hẳn là khó có thể coi việc dẫn chứng chúng là hợp lý. Thứ hai là, với động lực tăng trưởng kinh tế cao khác thường thì không thật cần thiết phải tăng thuế suất nhiều nữa, nguồn chủ yếu cấp kinh phí cho hoạt động của nhà nước.
Tổng kết lại, có thể khẳng định rằng, trên nhiều phương diện, nhà nước giữ vai trò to lớn, quyết định trong công cuộc hiện đại hoá và năng động hoá sự phát triển của các nước đón đầu. Mà cũng không thể khác được. Bất chấp mọi điều khẳng định của những người đặt nền móng cho chủ nghĩa tự do mới, bản thân thị trường, trong mọi trường hợp, đã và sẽ không bao giờ có thể giải quyết được những vấn đề như vậy trong nhứng thời hạn ngắn ngủi so với thước đo lịch sử. Ngoài ra, do sự cách biệt về trình độ kỹ thuật giữa những nước đứng đầu và những nước đứng ngoài rìa nền văn minh do kỹ thuật sinh ra, do sự đẩy lùi khỏi thị trường thế giới một số sản phẩm của các tổ hợp nông nghiệp nguyên liệu và nhất là của các nước mà hàng xuất khẩu lại dựa trên sản phẩm ấy, và do sự cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt trong sản xuất hàng công nghiệp và dịch vụ, cho nên, thị trường toàn cầu dang hình thành chỉ bảo lưu tình huống có sẵn ở các nước lạc hậu nhều hơn là tạo điều kịên để đổi mới.
Sự điều chỉnh của nhà nước được đặt trên cơ sở hiểu biết, trong khuôn khổ chính sách kinh tế coi trọng thị trường, sẽ giúp cho các lực lượng sáng tạo được phát huy. Thứ nhất là, trong khi tạo thuận lợi cho việc năng động hoá quá trình phát triển, sự điều chỉnh như vậy thúc đẩy sự gia tăng thu nhập của dân cư tính theo đầu người, kèm theo việc đa dạng hoá và nâng cao yêu cầu đáp ứng sức mua. Thứ hai là, trong khi làm dịu và triệt tiêu áp lực của sự cạnh tranh không cân sức từ nước ngoài và bảo đảm sự trợ giúp về tài chính, nhà nước thúc đẩy và khuyến khích sự hình thành các dạng sản xuất mới. Thứ ba là, trong khi tạo mọi điều kiện để phân phối các phúc lợi kinh tế một cách tương đối đồng đều, nhà nước ngăn chặn tình trạng căng thẳng xã hội, giảm bớt các khoản chi phí cho các mục đích xã hội, đồng thời, thúc đẩy sự hình thành thị trường hàng hoá và dịch vụ hiện đại.
Do quá trình toàn cầu hoá, những khả năng tác động của nhà nước đến nền kinh tế đã bị thu hẹp. Điều lệ của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng đặt ra những hạn chế không nhỏ đối với sự can thiệp của nhà nước vào quá trình phát triển. Thiết nghĩ, những quy tắc đã được khẳng định đều bảo vệ quá đắc lực sự bình đẳng về quyền lợi của tất cả các chủ thể của thị trường, bất kể mức độ già dặn và sự sẵn sàng của chúng trước cuộc cạnh tranh toàn cầu khốc liệt, và 8 năm cho phép để thích ứng thì có lẽ không đủ. Tất nhiên, trong các tổ chức của WTO cũng có logic của họ. Nhưng logic này không hoàn toàn phù hợp với kinh nghiệm của những nước dẫn đầu nền văn minh do kỹ thuật sinh ra mà đã từng tham gia quỹ đạo phát triển đón đầu. Nó không để ý đến những bài học rút ra từ kinh nghiệm của các nước công nghiệp mới từng gia nhập WTO và không coi trọng những khả năng và những lợi ích của đa số các nước còn lại. Do đó, sớm hay muộn thì cũng phải sửa đổi cái logic ấy. Trong khi sự việc còn có cơ hội giải quyết, cần chín chắn và thận trọng sử dụng các loại và các hình thức điều chỉnh bằng nhà nước mà không rơi vào những hạn chế đã nêu, như nghị quyết tổng kết hội nghị UNCTAD về sự phát triển của các nước Đông Á họp năm 1996 tại Malaysia đã kêu gọi [20] .
[1]The State in a Changing World. The World Bank, Oxford University Press, 1997, tr. 3
[2] Xem: Marx K. Kapital//. Marx K i Engels F, Toàn tập, tập 23, tr. 767 (tiếng Nga)
[3]Để loại trừ ảnh hưởng của các khoản trong GDP, phần sử dụng của nhà nước trong GDP được xác định như là phần trung bình không có trọng số (xem: The Economist, 20.09.1997, tr. 11)
[4]Xem: Report on the World Social Situation 2001, UN. N.Y., 2001, tr. 101.
[5]Xem: Demodova L., Các cuộc cải cách khu vực công ích ở Phương Tây// ME i MO. 2001, No 11, tr. 29-38.
[6]Tính theo: European Economy, 1999, No 68, tr. 242-243.
[7]Xem: The Economist, 20.09.1976, tr.11
[8]Xem: Thế giới ở giữa hai thiên niên kỷ. Dự báo sự phát triển của kinh tế thế giới đến năm 2015, IMEMO RAN. M., 2001, Phụ lục. Bảng 10.
[9]Xem: World Economic Outlook, May 2000, tr. 171-178
[10]Xem: Economic Report of the President Transmitted to the Congress, February 1997, Wash. P. 189-234.
[11]Dễ dàng nhận thấy rằng, thực ra, đây muốn nói đến các công trình nghiên cứu mà ở Nga gọi là khoa học cơ bản (chú thích của người dịch).
[12]Xem: Economic Raport of the President…, tr. 186.
[13]Xem: Musgrave R.A., Musgrave P.B., Public Finance in Theory and Practice, Fifth Edition, N.Y., 1989; Nhà nước và các ngành của cơ sở hạ tầng trong nền kinh tế thị trường hiện đại, M., 2001; Nhà nước trong thời đại toàn cầu hoá, MEIMO RAN, M., 2001.
[14]Erhard Ludwig, Nửa thế kỷ suy ngẫm, Diễn văn và bài báo., M., 1993, tr. 30.
[15]Erhard Ludwig. Sách đã dẫn
[16]Như trên, trang 40
[17]Xem: Freeman C. New Technology and Catching Up// The Eropean Journal of Development and Research, June 1989, tr. 87-88.
[18]Xem: The Making of the East Asia Miracle. Wordl Bank Policy Research Bulletin, August-October 1993 (Drawn from Wordl Bank. The East Asia Miracle: Economic Growth and Public Policy, N.Y., 1993).
[19]Xem Simonia N.A., Về vai trò của nhà nước trong sự phát triễn xã hội. Phương Tây đối với các mô hình không phải Phương Tây// Vị trí và vai trò của nhà nước trong sự phát triển đón đầu, IMEMO RAN. M.,1999, tr. 9.
[20]Xem: Report of the Conference on East Asia Development. Lessons for a New Global Environment. Kuala Lumpur, Malaysia, 20.02-01.03.1996, UNCTAD/IX/Misc. 3. 09. 04. 1996, tr. 7-8.