Trần Nhuệ Tâm
Tôi đến nhà hoạ sĩ Nguyễn Hưng Trinh. Ông vừa về từ cuộc triển lãm “Tiếng nói nghệ thuật đương đại Việt Nam” ở Ðức. Theo một nghĩa nào đó, những bức tranh mới của hoạ sĩ đã đưa tôi đến đây, đến để khám phá những đặc tính của hội hoạ đương đại. Ông là hoạ sĩ được xem là hiện tượng đậm chất hiện đại nhất của nghệ thuật tạo hình Việt Nam. Nguyễn Hưng Trinh hiểu rõ những nguyên nhân sâu xa phát sinh tính đề kháng trước những cơn lốc, mỗi lúc một hung bạo hút con người vào lối sống hiện đại. Con người đang choáng váng, họ buộc bỏ lại niềm tin cũ để lao vào phía trước. Hội nhập để sống! Vậy rồi con người rơi hút vào thế giới khác! Như cành cây bị gió thời đại ném vào khoảng ầm ào dị thường, họ biến dạng và không ngừng thay đổi, chính cái hình thể và bản chất đã biến dạng đó trong khoảng trống trơ giữa quá khứ và tương lai, trong vũng màu ngập ngụa sáng và tối.
Trong bức “Ðôi bạn”, Nguyễn Hưng Trinh không choáng váng. Ông thầm lặng tạo ra hai người đàn ông dị dạng, trố mắt tìm nhau trong mảnh không gian quan hệ huyết thống, cộng đồng đậm màu máu tươi. Tôi tin rằng họ từng tìm thấy nhau bằng mắt và có thời gian đủ để ngôn ngữ hình thể họ đọc được nhau. Con người cho dẫu đã trở nên dị hình trong cái nền đen rộng và sâu của nhịp sống hiện đại, có tan hoang mấy chăng nữa thì vẫn còn đó khát vọng hạnh phúc muốn chia sẻ. Nếu hạnh phúc mà họ tìm gặp trong hiện thực chỉ luôn là những mảnh vỡ, thì từ một góc khuất sâu thẳm của tâm hồn, chắc chắn họ đang lắng nghe nhau. Hoạ sĩ trao cho ngọn đèn dầu sức biểu hiện cái nôi ánh sáng đó, thứ ánh sáng đang dần lan toả bằng giọng thì thầm của sắc vàng tinh khôi. Và “Ðôi bạn” trong tranh lại lắng nghe nhau, giống như cách những đứa trẻ nghe kể chuyện thiên đường có thật của chính chúng nó, vào một ngày nào đó!
Lần triển lãm tranh của Nguyễn Hưng Trinh ở Australia, trong diễn văn khai mạc của tiến sĩ Mark Stevenson (thuộc phân khoa Á châu và Quốc tế, Viện đại học Victoria) có đoạn: “…Có lẽ sự nối kết Ðông Tây tuyệt đỉnh đến từ Marc Chagall. Tôi nghĩ cả Chagall và Trinh cùng chia sẻ khoảng không gian của những nguyện đường tối ám. Từ vùng mịch quan đó họ bước vào những hành trình khác nhau…”. Có điểm tôi không đồng ý với cách nhìn đó. Nghệ thuật của Nguyễn Hưng Trinh không “nối kết Ðông Tây tuyệt đỉnh đến từ Chagall”. Tôi thích nghĩ ông đến từ vùng biểu hiện của Georges Rouault (hoạ sĩ Pháp 1871- 1958), ”sáng tác của Georgges Rouault toát lên tình thương mênh mông với những số phận hẩm hiu, những niềm khát khao giải thoát lớn…”. [1] Tôi tin rằng, từ muối và ánh sáng tạo thành nguyên xứ Nguyễn Hưng Trinh, từ nơi chốn nhạy cảm của ý thức sâu thẳm, Hưng Trinh đang là người Linh Mục, chăm sóc niềm tin Phúc Âm cho nghệ thuật của chính mình. Ông chậm rãi đi sâu vào những tâm tình của hình thể đa đoan dâu biển, của màu sắc bị nhuộm bởi nỗi sầu luôn chực chờ lao vào vũng tuyệt vọng, những mảnh không gian sống nhăn nhúm không lành, những đoạn thời gian giằng xoắn trên những khoảng đời mà thời đại đã bỏ rơi.
Trong bức “Thi sĩ”, những đầu ngón tay nhúng màu của Nguyễn Hưng Trinh khoét thành vũng màu vàng tê mê, trên đó hình thể thi nhân chỉ còn là gương mặt giẻ rách của một gã sửa xe bên lề đời, tấm áo tuột màu lem luốt của một bà vợ bán hàng rong, thứ bìa tạp chí mà đứa con của họ đang tìm cách ráp lại cho trò chơi xếp hình. Trong cái màu vàng tê mê đó, chúng ta có cảm giác hoạ sĩ không có đủ cam đảm “kính tặng” cho thi nhân một cái chết. Không phải như cách biểu hiện khổ nạn cao cả của đấng Jésus Christ trên thập giá. Chỉ đơn giản là thi nhân tự ngược đãi mình cho đến tình trạng chết “tột đỉnh” giữa ngôn ngữ tê mê. Nhưng đó chỉ là một cảm nhận của tôi riêng về bức “thi nhân”.
Họa sĩ Nguyễn Hưng Trinh có con đường riêng để chăn dắt những hình thể biến dạng của ông quy hồi. Nghệ thuật của ông trước sau gì cũng là một nguyện đường biểu hiện cảm xúc chân thật và ông sẽ luôn là một linh mục nhân hậu với chính hình ảnh xấu – tốt – thiện – ác – lành – rách… những hình thể đi cùng sự sống của ông và thao thức bên trong ông. Và tất thảy đều là giáo dân, đang cùng hân thưởng phúc âm về cái đẹp của nghệ thuật.
Không chỉ trong số tranh đang triển lãm ở Ðức, trong cùng một ý nghĩa, loạt tranh mới sáng tác của ông đang đồng hành với những ai mênh mang cảm xúc trắc ẩn. Ông thong dong đi tìm lại đức tin cho chính mình bằng hình thể, màu sắc… dẫu có lệch lạc bất khả phục hồi hay đang đau đớn biến dạng thì cũng đừng quên tìm lại mình, ở ngay cái chỗ mà xã hội hiện đại đã vô tình muốn chúng ta đánh mất chính mình. Và cũng xin nói thêm rằng chúng tôi tạm biệt nhau cùng ý nghĩ: Thời đại nào cũng gây ra những tổn thương. Hãy là linh mục, nhà sư, người tình… chăm sóc cho ý thức quá nhạy cảm của mình.
© 2004 talawas
[1]Trích:
Nghệ thuật môdéc và hậu môdéc của Lê Thanh Ðức