trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
27.5.2005
Nguyễn Vĩnh Nguyên
Người Việt cười khoe mười cái răng…
 
“Ta đã phong thánh cho tiếng cười!”

(Zarathustra đã nói như thế – F. Nietzsche)

Khóc, trong cuộc đời, dễ lắm. Một đứa bé sơ sinh đã tự biết cất tiếng khóc chào đời. Nhưng mất tới một khoảng thời gian sau đó nữa, nó mới biết mỉm cười. Vậy thì, cười vừa là biểu hiện cảm xúc (vừa quá đau khổ, vừa quá hạnh phúc, vừa là sự phản ứng trước những mâu thuẫn, phi lý của cuộc đời…); đã trở thành một phản xạ mang tính biểu hiện sự tri kiến trước thế giới!

1.

Ðầu thế kỷ XX, ông Nguyễn Văn Vĩnh đã viết bài tản bút văn hóa được nhiều người biết đến; nói về cái “thói lạ” hay cười của dân An Nam. Có đoạn:

“An Nam ta có một thói lạ là gì cũng cười. Khen cũng cười, chê cũng cười. Hay cũng hì mà dở cũng hì. Nhăn răng hì một tiếng thì mọi việc hết nghiêm trang.

Có kẻ bảo cười là hết cả, cũng là một cách của người hiền. Cuộc đời muôn việc chẳng qua là trò phường chèo hết thảy, không có chi là nghiêm đến nỗi người hiền phải nhăn mày nghĩ ngợi.

Ví dù được y như vậy, thì ra nước An Nam ta cả dân là người hiền. Nếu thế tôi đâu dám đem lời phường chèo ra mà nhủ người nhếch mép bỏ tính tự nhiên mà làm bộ đứng đắn lại, nghiêm nhìn những cuộc trẻ chơi. Nhưng xét ra cái cười của ta nhiều khi có cái vô tình độc ác, có cách láo xược khinh người, có câu chửi người ta, có nghĩa yên trí không phải nghe hết lời người ta mà đã dèm trước ý tưởng người ta, không phải nhìn kỹ việc người ta làm mà đã chê sẵn công cuộc người ta.” [1]

Chưa có một công trình nghiên cứu phẫu thuật sinh học nào khẳng định về sự phát triển của những dây thần kinh cười của người Việt Nam mạnh hơn những dân tộc khác. Song, những phát hiện của ông Nguyễn Văn Vĩnh từ đầu thế kỷ XX tới nay, quả là chưa chịu sai. Hình như đó là một tập tính dân tộc khác biệt với nhiều dân tộc khác trên thế giới. Nhưng nếu đó là một cái cười mang tính sinh học thì chớ vội mừng. Vì một thói quen, giả dụ như xuất phát từ sự phát triển thái quá của “dây cười” trong não bộ làm hạn chế sự lớn lên của những dây khác như thông minh, cầu tiến, sáng tạo… thì đó là cả một sự nguy hiểm. Vô cùng nguy hiểm! Bởi chúng ta đang cười một cách thất thần và ngờ nghệch và… có vấn đề về tâm thần!

Ngày nay, phương tiện thông tin ào ạt, chúng ta thấy nhan nhản gây-cười cực kỳ rẻ tiền trên các sân khấu hài kịch từ Bắc tới Nam, từ tấu hài thay cho tiếng chuông đồng trên ghi-đông bán cà-rem cho đến những “gala cười” trên màn ảnh truyền hình, từ những trò giễu nhại thấp kém xuất phát từ sự hằn học nôn nóng và nhân danh hậu hiện đại trong văn chương cho đến những phát biểu kiểm điểm to tát trong báo cáo hàng năm của cấp này bộ kia… cũng chỉ là cách “cười khoe mười cái răng”. Rồi thôi! Chẳng mang lại gì, chẳng giải quyết được gì vì từ trong nhận thức tiếng cười đã có nhiều sự “trục trặc”, nông cạn và bệnh hoạn!

Sau những năm thống khổ vì chiến tranh, đói kém, người Việt đã gượng cười trong khổ đau, mất mát nhiều quá, cái nhu cầu được thụ hưởng tiếng cười giải trí, tiếng cười hồn nhiên (có khi là cười sinh lý) trở nên cấp bách, cần thiết biết bao. Vì sự nghiệt ngã cướp đi của họ thời gian, những khoảng nghỉ ngơi hay là cơ hội thư giãn, hưởng thụ cuộc sống và tiếng cười. Cuôc sống mới lại đặt ra những nghiệt ngã mới. Khi tốc độ “sống gấp” thời công nghiệp, đô thị hoá (dù công bằng mà nói, tốc độ ấy cũng chưa phải là nhanh!) đã làm cho người ta tất bật hơn, cần một tiếng cười, đơn giản là được quyền cười, được trở lại cái bản chất Việt, hoá ra, trở nên chính đáng. Và như thế, truyền thông, văn học nghệ thuật một thời dò được điều này để đáp ứng, lôi kéo thị hiếu. Có những người là nghệ sỹ, nhà quản lý văn hóa hẳn hoi, quan niệm đơn giản, văn chương nghệ thuật chỉ có hai con đường, một là lấy nước mắt nhân dân, hai là… thọc léc gây cười cho quần chúng và dĩ nhiên, sau đó là tự thưởng, tự sướng cho thành quả dễ hài lòng của mình.

Giữa thập niên 90, thế kỷ trước, không khí đổi mới dậy lên khá mạnh mẽ sau những bí bức thời cuộc. Lúc bấy giờ tràn lan cải lương hề, kịch hề (chứ không phải hài kịch!), chương trình truyền hình kiểu “trong nhà ngoài phố”, hay cả cho xuất bản lại rất nhiều sách tiếu lâm, ra đời nhiều tờ báo cười phục vụ nhu cầu được thưởng thức và… quyền được cười của dân mình. Từ đó sinh ra một loạt những cây bút chuyên viết truyện cười, nhà văn nhà thơ đi viết truyện cười kiếm tiền nhuận bút cao hơn đi viết tiểu thuyết, đạo diễn làm phim nhựa, nhiều người lao vào sản xuất chương trình hài trên truyền hình và… góp phần gây bội thực cho thị hiếu của quần chúng bình dân. Có những chuyện rất khôi hài, ví dụ: để đáp ứng cái thị hiếu cười rẻ tiền của nhiều khán giả, có một “danh hài” nọ đã tập cười được 36 kiểu (dù rằng đó cũng là một thứ kỷ lục)!

Nhưng cũng có những cái cười đã được chuẩn bị cả một tâm thế từ trước, chỉ chờ một điểm rơi là không khí thời đại, điều kiện xã hội thì xuất hiện. Vũ Trọng Phụng chỉ là Vũ Trọng Phụng khi được gieo đúng trong thời đại của ông. Tiếng cười vào những trục trặc thói đời không chỉ khoanh vùng trong thời buổi nhốn nháo ông sống, mà còn muốn đau đớn đả kích vào cả thói tật của dân An Nam. Không ngạc nhiên khi tiếng cười tiến bộ trong cuốn Số đỏ của ông, năm 2003, được bạn đọc tờ Los Angeles bình bọn là một trong 50 cuốn tiểu thuyết hay nhất trong năm của nước Mỹ. Người ta nói nhiều đến kịch Lưu Quang Vũ những năm ngấp nghé, đầu 1980 trong một bối cảnh lịch sử khắt khe, của sự kiểm duyệt văn hoá ngặt nghèo, những vở kịch như Hồn Trương Ba da hàng thịt, Tôi và chúng ta… được xem là những tiếng cười nhận thức nở sớm và dám đường đầu với nhiều… rủi ro. Lùi vài năm, đến khi Nguyễn Khải, cùng với sự phát sáng của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài (cuối 1980 đầu 1990) và mới đây là Hồ Anh Thái, Nguyễn Việt Hà, Tạ Duy Anh đương đại… thì cái độ chín của hoàn cảnh mới “he hé cửa” cho tiếng cười kia cất lên một “âm lượng” tương đối.

Tiếng cười tự trào của một lớp người tiến bộ nhìn về lịch sử, về một dân tộc đã gồng mình “khoe mười cái răng” A.Q. quá nhiều trong những giai đoạn lịch sử khác nhau, cả những ấu trĩ thời cuộc…, đã tìm được sự đồng tình từ phía người tiếp nhận là quần chúng nhân dân và trí thức tiến bộ. Nhiều búa rìu của những người trầm trọng cho rằng đó là những tiếng cười phản động, xuyên tạc. Và nhân danh văn hoá, truyền thống, chính trị, họ đã chụp lên những con người biết cười. Nhưng sự hưởng ứng của trí thức, những người “thấy”, “nghe” và “nhìn” được một cách cao hơn thiên kiến, họ nhận ra trong tiếng cười, trong cái nhìn lạnh lùng đến nghiệt ngã, thậm chí, trong sự hằn-học-nực-cười ấy là cả một ý thức tự trào để đặt lại sự thật đúng vị trí của nó, không xu mị hay ấu trĩ nữa…

Chỉ tiếc, những con người “biết cười” đã không đủ lực để đánh đổi, chống cự và tiếp tục con đường dù đó là tiếng cười cô đơn!

2.

Nhà văn, nhà nghiên cứu Lâm Ngữ Ðường (Trung Quốc) cho rằng, sở dĩ thời nào trong văn học Trung Hoa cũng có người biết cười vì xuất phát từ nguyên nhân sâu xa của nó: trong một con người Trung Hoa (như bản thân ông cũng vậy) luôn có một ông Khổng xả thân nhập thế bề ngoài và một ông Lão được trang bị tinh thần u mặc đến thượng thừa ở bên trong. Tính đối cực và bổ sung của hai dòng tư tưởng này luôn vận động và có khi tạo ra sức mạnh, có khi tạo những mâu thuẫn nội tại, để giúp một trí thức nhìn ra sự dịch biến ngoại cảnh, từ đó có những cách thế hành xử khác nhau. Tính tự trào xuất phát từ bên trong, trong triết lý u mặc của Lão Trang, có khi đạt tới sự nhạo thế, mượn tiếng cười để phóng khí, trào lộng với sự đời ngổn ngang. Lão Trang coi đạo cũng là tiếng cười. Nếu tiếng cười Lão Trang vô vi và có phần li thế thì ông nhìn ra từ sâu xa một cuộc vần xoay tư duy trong những “đồ đệ” Lão Trang từ thời Ðào Tiềm, Vương Bột, cho đến mãi về sau này, có Lỗ Tấn và mới đây là loạt nhà văn được cởi trói tư tưởng như Bách Dương, người cười viết hẳn cả cuốn sách về Người Trung Hoa xấu xí gây sự quan tâm lớn, hay Lý Nhuệ với Cây không gió, Ðới Tư Kiệt với Balzac và cô bé thợ may Trung Hoa hay Mạc Ngôn với Báu vật của đời, Ðàn hương hình…

Tiếng cười u mặc là sự tế nhị và kín đáo của nhận thức. Học giả họ Lâm khẳng định: “U mặc là một phần rất quan trọng của nhân sinh, cho nên khi mà nền văn hoá của một quốc gia đã đến một trình độ cao rồi, ắt hẳn phải có một nền văn hoá u mặc xuất hiện!” [2] . Ðiều này được chứng minh bằng thực tế, nếu chịu khó nhìn về mạt kỳ văn học Trung đại với những nhà nho tài tử nổi loạn, như Hồ Xuân Hương quét váy ngang thói đạo đức giả của lớp hủ nho khệnh khạng, bỉ ổi, với sự rạn nứt quan niệm nho sĩ truyền thống trong tư chất nổi loạn, phóng khoáng tài hoa của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát… Hay sau nữa, là tiếng cười hóm hỉnh, sâu cay của Nguyễn Khuyến, Tú Xương, khi thế cuộc đang buổi mạt thời phong kiến, đầy rẫy ngổn ngang bề bộn và mâu thuẫn hài hước. Và rồi từ những tiếng cười ấy, tự trong ý thức hệ con người, đã có được khai thông. Nói như Kinh Dịch: vật cùng tắc biến, vật biến tắc thông!

3.

Gần đây, Tây Ban Nha tổ chức ngày hội Cervantes để kỷ niệm 400 năm cuốn tiểu thuyết Don Quixote được xuất bản. Cả thế giới, 400 năm qua, đã đọc và “quan niệm thêm” về tiếng cười của nhà văn tài ba này, mỗi thời đại “ứng” dưới một góc nhìn, lăng kính khác nhau. Cuốn Don Quixote bán rất chạy, kể cả tại Việt Nam. Cái nhu cầu trả lại sự cân bằng sâu kín và tiến bộ của tiếng cười có khi đã được đặt nền móng từ lâu. Vì nhiều lý do, chúng ta đã bỏ quên mất. Vậy, tìm lại tiếng cười “không khoe mười cái răng” hay nói không với sự trầm trọng của lễ nghi và những luận điệu quy chụp để cùng cười và cùng “ngộ” ra mình, quả không phải dễ. Nhà văn Adam ngạc nhiên: “Bên Tây Ban Nha, người ta khuyên đọc Cervantes phải đọc ba lần: lần thứ nhất, để cười; lần thứ hai, để suy nghĩ; lần thứ ba, để khóc!”.

Tính tự trào là một liều thuốc chữa lành căn bệnh của chứng xơ hoá hiện thực đời sống. Ðừng mong tìm thấy “tiếng cười tức bụng, khoe mười cái răng” trong văn chương u mặc, tự trào mà hãy chuẩn bị cho một cuộc nhận thức lại, tư duy lại cho tương lai của mình. Vậy, cái cười ấy, gặp gỡ trong tư tưởng của F. Nietzsche, sự tự trào chỉ có được khi chúng ta đứng cao hơn chính mình, và “hãy học cười vang cao vút khỏi đầu các người! Hỡi những kẻ khiêu vũ tài ba, hãy nâng lòng lên cao, cao hơn, cao vời hơn nữa! Và chớ quên cười thật ầm vang!” [3]

4.

Người Việt Nam hay cười. Nhưng ít tự cười mình. Và cũng chẳng thích người khác cười mình. Nếu có ai đó rục rịch cười, dễ bị gán cho cái nhãn “vạch áo cho người xem lưng”. Sự u mặc của chúng ta, nếu có, cũng thường thấy qua những cuộc trà dư tửu hậu của giới trí thức. Với chúng ta, sự tự trào, tự phủ định mình để phát triển, hình như còn khó khăn và chật vật lắm. Ðơn giản, vì chúng ta không tự cười mình và cũng chẳng cho ai cười mình cả. Vậy nên, cái chuyện cười cho ra thượng đẳng (theo cách nói của Nietzsche) hay thượng thừa (theo cách nói của Lâm Ngữ Ðường) cũng là chuyện bị coi là nhạy cảm và khó lắm lắm, nhất là ở xứ mình! Coi chừng vì cười mà… mất mười cái răng!

5.

Nhưng hằng ngày chúng ta vẫn cứ cười. Cười vì có lẽ về mặt sinh học, dây thần kinh cười của dân Việt Nam mình có vẻ phát triển hơn những giống dân khác.

Thời hội nhập, trong bối cảnh một thế giới đang nhận thức lại mình để tìm cách vươn ra trong cuộc hội lớn, thì, hình như… Ô kìa, hãy ngắm người Việt cười.

© 2005 talawas


[1]Xét tật mình, XVII, “Gì cũng cười”, Ðông Dương tạp chí, số 22.

[2]Sống đẹp, Lâm Ngữ Ðường do Nguyễn Hiến Lê dịch.

[3]Zarathustra đã nói như thế, F. Nietzsche, Trần Xuân Kiêm và Quang Chiến dịch, NXB Văn hoá Thông tin, 2003.

 
© talawas 2026