Nguyễn Mạnh Hùng
Nguyễn Bình Phương là ai? Tôi không biết và cũng chưa được biết! Ấy là nói từ ý muốn tìm hiểu tiểu sử. Chỉ biết Nguyễn Bình Phương là tác giả của bốn thiên tiểu thuyết gần đây nhất gây cho tôi một sự chú ý đặc biệt giữa cánh rừng gọi là tiểu thuyết Việt Nam cuối thế kỷ XX. Có khi như thế mà lại hóa hay. Bởi vì, nhiều lúc tìm hiểu đuợc tiểu sử tác giả lại “quen chân” tìm hiểu luôn tiểu sử nhân vật thì quả thật chẳng nên chút nào! Nhất là đọc tiểu thuyết. Trần Ðình Sử đã có một ý kiến khá thú vị về vấn đề này nhưng là ở lĩnh vực thơ: “Hễ tác giả là người chiến sỹ thì hình tượng thơ họ thường được nâng lên hàng chiến sỹ” [1] . Chỉ biết rằng, một lần tình cờ vào một hiệu sách, cũng với ý thức là tìm một công cụ, một phương tiện phục vụ cho mục đích cơm áo, tôi gặp Người đi vắng.
Tiểu thuyết – thế giới của những ám ảnh?
Cái tiêu đề tác phẩm thật lạ lùng. Nó hấp dẫn tôi ngay. Nó ném tôi vào ngay một truòng liên tuởûng đậm màu sắc dân gian và rất nhiều những câu hỏi của con nguòi thời hiện đại: Lý do gì? Khi nào về? Cái gì sẽ xẩy ra và còn lại?… NGƯỜI ÐI VẮNG? TRỜI ÐI VẮNG? DÒNG SÔNG, NGỌN NÚI ÐI VẮNG? CON ÐUÒNG ÐI VẮNG? MÙA THU ÐI VẮNG? CHỦ NHÀ ÐI VẮNG? TÔI ÐI VẮNG? ANH ÐI VẮNG? CHÚNG TA ÐI VẮNG? ÐỜI ÐI VẮNG? LỊCH SỬ ÐI VẮNG và RẤT NHIỀU ÐI VẮNG? Mơ hồ và cụ thể. Một tiêu đề của tiểu thuyết hiện đại đầy tính dự cảm. Tôi đọc và quả vậy. Cuốn tiểu thuyết đã cho tôi một cảm nhận về sự thiếu vắng khủng khiếp giữa cuộc đời đầy ắp những con người, đến mức nạn nhân mãn đã trở thành báo động đỏ của nhân loại và công tác kế hoạch hóa gia đình đang trở thành chương trình trọng điểm của quốc gia. Người đi vắng thì còn gì? Còn tôi hay anh?! Còn lại Nguyễn Bình Phương lang thang trên những trang viết với nỗi ám ảnh nhân sinh và sự cô đơn của tiểu thuyết những ngày cuối thế kỷ. Cái sự đã có mà hiện tại thiếu hụt này là điểm xuất phát hay là một kết thúc? Một điểm tựa tinh thần hay vật chất? Một lý tuởng, một lẽ sống? Có thể là một cuốn tiểu thuyết tử tế? Một bài thơ nghiêm chỉnh? Một nền văn học đang trăn trở truớc áp lực cuộc sống? Nguời đi vắng hay là một khát vọng văn chương, một con đuờng sáng tạo, một con đường sống cho thể loại? Nguyễn Bình Phương đang một mình trên sa mạc? Anh đã “Vào cõi” tiểu thuyết với bước đi và suy nghĩ của “Những đứa trẻ chết già” và giờ đây đang bơ vơ với trái đất lạnh tanh khi “Người đi vắng” trong “Trí nhớ suy tàn” [2] .
Những con người có tên tuổi mà như không tên không tuổi mang nặng nỗi ám ảnh nhân sinh. Những ám ảnh của người sống và ám ảnh của người chết. Ám ảnh của quá khứ và ám ảnh của thực tại. Những ám ảnh song hành bên nhau tương tác với nhau không tự biết trong nỗi cô độc không chia sẻ được. Nhân vật bị ám ảnh và người đọc lại chịu sự ám ảnh của nhân vật, về nhân vật. Ðời sống tâm linh của nhân vật được nhà văn quan niệm như một hiện thực không thể thiếu trong quá trình phản ánh. Nguyễn Bình Phương cắt nghĩa và thể hiện cuộc sống bằng những nỗi ám ảnh? Và chỉ bởi những ám ảnh buồn. Cứ tưởng như tiếng mọt rào rào và âm ỉ trong ngôi nhà của cụ Ðiển kia đang gặm nhấm trong từng dòng chữ, từng trang sách và dòng Linh Nham đang âm thầm cuộn chảy trong cõi hư vô, trong những kiếp người cũng như ngọn núi Rùng vừa là một chứng tích vừa như một sự đe dọa. Xa hơn, lịch sử song hành với những đội Cấn, đội Trường, cai Xuyên…của cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên. Xa hơn nữa, gia đình Lưu Nhân Chú như đang mải miết trôi về phương Nam với cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi và cái chết oan khuất đến như chấp nhận số phận của ông. Ám ảnh của lịch sử tạo ra một chút bi hùng cho dòng đời (hay những dòng tâm trạng) được mô tả trong tác phẩm nhưng cũng không chống đỡ nổi với sự rời rạc và hờ hững hôm nay. Con ngựa nào của xa xưa Nguyễn Bình Phương hay ai đó thả bên bờ dậu, dưới những gốc cây bạch đàn? Tiếng nhạc ngựa leng keng và tiếng lá bạch đàn xào xạc khô cứng cùng cánh hoa ngọc lan thẫm nâu hững hờ rơi xuống là một niềm an ủi hay một gợi nhớ bi thương của quá khứ đối với hiện tại – một nỗi ơ hờ của cõi người. Con người sống với những ám ảnh biết và không biết, ý thức và không ý thức. Có thể yêu cầu một hiện thực được phản ánh khác hơn chăng khi nó là như thế trong tác phẩm.
Mỗi một thân phận đều có một ám ảnh riêng tư. Một mặt, ám ảnh tạo ra nỗi sợ hãi, nỗi lo âu mơ hồ, tính không xác định của sự vật. Mặt khác, ám ảnh tạo nên những ham muốn, những khát khao, rất cụ thể. Cả hai tạo nên tính cách nhân vật. Những ám ảnh đối với con người trong cuộc sống và trong văn học xưa nay không hiếm, nhưng có lẽ Nguyễn Bình Phương là tiểu thuyết gia đầu tiên của Việt Nam có ý thức tạo dựng nhân vật bằng những ám ảnh, bằng một hệ thống ám ảnh. Phạm Thị Hoài với Thiên Sứ cũng đã có ý định như thế nhưng chỉ là ám ảnh của thực tại. Cô bé Hoài đơn độc quá, chưa đủ sức tạo nên một thế giới. Những ám ảnh chỉ giúp cô chiêm nghiệm cuộc sống hơn là sống với nó. Và cô kể cho mọi người biết những những ám ảnh đó. Nhân vật của Nguyễn Bình Phương dấu kín những ám ảnh của mình và sống với nó. Nói cách khác Nguyễn Bình Phương không chủ định mô tả những ám ảnh đó mà chỉ tập trung mô tả trạng thái tâm lý của con người trước những ám ảnh mà họ phải chịu đựng. Những đoạn in nghiêng trong tác phẩm buộc người đọc (quả thật rất mệt nhưng cũng đầy hứng thú) phải tự tìm hiểu lấy mối quan hệ giữa chúng với nhân vật, từ đó lắp ráp, xác định quan hệ để nhận ra những chân dung. Mỗi một ám ảnh tạo nên một chiều sâu riêng cho đời sống tâm hồn nhân vật. Mỗi nhân vật mang một dòng ý thức triền miên trôi chảy bên nhau hờ hững, êm đềm mà dữ dôị. Các nhân vật dẫu bên cạnh nhau với quan hệ vợ chồng, anh em, bố con, hàng xóm, thông gia, bạn bè, nhân tình mà vẫn cách xa nhau bởi những ám ảnh này để trở thành mỗi nhân vật là một vũ trụ. Bởi thế, Người đi vắng trở thành nhân vật chính trong quan hệ với bất cứ nhân vật nào trong tác phẩm và đối với sự quan tâm của độc giả. Cũng tương tự, trong mỗi một nhân vật đều có một Người đi vắng khác nhau. Một Người đi vắng trở thành nhiều Người đi vắng và một thế giới đi vắng nhưng bóng hình còn lẩn quất đâu đây, tiếng nói còn vang vọng đâu đây. Người đi vắng rồi người sẽ trở về chăng với những gì dung dị hằng ngày ta đang sống? Người đi vắng vẫn chưa thôi ám ảnh? Hay chính là những ám ảnh? Hay chính ta – người đọc tiểu thuyết – lại chính là Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương? Người đi vắng tạo nên sự đợi chờ, tạo nên một khát vọng! Tạo nên một tương lai, dẫu là một tương lai mơ hồ.
Ám ảnh hay thời gian đồng hiện và tâm tư đồng hiện trong mỗi một nhân vật. Không chỉ nhân vật mà người đọc cũng buộc phải chứng kiến những phút giây thực tạị của quá khứ bên cạnh thực tại của hiện tại. Thực tại quá khứ là những ấn tượng đau buồn hay hạnh phúc, nỗi lo hay niềm tin nhân vật mang theo suốt cuộc đời. Thực tại của hiện tại là những tâm trạng ứng xử trong vô vàn những quan hệ đã thành công thức nhàm chán trong xã hội tiêu dùng. Sự sâu sắc đam mê song hành cùng sự hờ hững tẻ nhạt làm nổi bật ý nghĩa của sự sống. Rất nhiều những khoảnh khắc thời gian được tạo ra trong tác phẩm và sự đan xen giữa chúng tạo cho chúng ta cảm giác về một giới hạn không thể vượt qua nhưng cũng là một vô cùng của kiếp người. Nhỏ bé trước vũ trụ, trước cõi đời, trước lịch sử mà vĩ đại với chính những khát vọng của bản thân mình. Quá khứ là những ám ảnh của thực tại và như vậy, trong dòng đời, thực tại sẽ là ám ảnh của tương lai. Hoàn với ám ảnh về những cuộc làm tình với chồng và với tình nhân. Cương với những ám ảnh về những bụi cậm cam một thủa ấu thơ trong sáng và vụ tai nạn của Hoàn. Thắng ám ảnh về những trận đánh khốc liệt một thời với những cái chết khủng khiếp. Chung bị ám ảnh bởi cơn mưa và tiếng rao “ai thiến đê…ê…ê…” cùng với cái chết của người yêu. Cái Hà ám ảnh bởi chất “nhà quê”. Thằng Sơn ám ảnh bởi dàn Compăc . Cái Yến bị ám ảnh bởi những trang tiểu thuyết rẻ tiền đọc trong những ngày chăm sóc chị dâu. Lão Bính bị ám ảnh bởi con quái vật thủa thiếu thời. Cụ Ðiển bị ám ảnh bởi một quá khứ do cụ sáng tạo ra với thuật rút đất. Kỷ ám ảnh bởi nỗi lo không rõ xuất xứ trong công việc làm nhà… Ðất Thái Nguyên ám ảnh bởi cuộc khởi nghĩa của Ðội Cấn… Trong một nhà cả mẹ lẫn con dâu đều bị tai nạn giao thông (ba trong bốn cuốn tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương đều nhắc đến những tai nạn giao thông và mô tả những ám ảnh của nó). Con trai bị tai nạn do trộm cắp. Con dâu, con trai ngoại tình. Một người bố lặng im, ngơ ngác trước cuộc đời không nói, Một người ông thì đúng như tục ngữ: Một đời người hai đời con nít (Nguyễn Bình Phương có biệt tài mô tả tâm trạng, hành động và ngôn ngữ những người già). Ðó không phải là những ám ảnh về một cuộc sống đau buồn, vô vọng hay sao?. Con người không phải đi tìm thời gian đã mất mà sống với thời gian đã mất trong sự mơ hồ của ý niệm về thực tại. Ngay cả thời gian: ngày tháng năm và đặc biệt là giờ phút cũng đầy ám ảnh hay nói cách khác, tăng thêm tính xác thực của những ám ảnh, tạo một niềm tin nơi độc giả về những ám ảnh. Một dự cảm về thế giới đời sống rời rạc, bơ vơ – con người chỉ quan hệ với nhau bởi những ấn tượng và sự dính líu bất khả kháng.
Tiểu thuyết hay sự phản đối một thói quen thẩm mỹ
Không mở đầu và cũng không có kết thúc, và nếu có thì đó chỉ là những khoảnh khắc nhân sinh.Tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương có thể dừng lại bất cứ ở chương nào như Milorad Pavic đã từng nói về tiểu thuyết hiện đại: không có kết thúc hoặc một hoặc có rất nhiều kết thúc [3] . Và như vậy cuốn tiểu thuyết cũng có thể mở đầu ở bất cứ chương nào. Các nhân vật không có tiểu sử, hay nói cách khác tiểu sử nhân vật là xâu chuỗi những ám ảnh. Lối kết cấu theo dòng tâm trạng như thế tạo cho tác phẩm một không khí mơ hồ nhuốm vẻ huyền thoại và nhân vật trở nên bí hiểm gợi trí tò mò của người đọc. Nhờ đó một điều thú vị rất tiểu thuyết đã xảy ra: Nhân vật được mô tả nhiều nhất nhiều khi chưa hẳn là nhân vật chính. Nhân vật chính tồn tại đâu đó trong những nhân vật, trong tác giả hay trong người đọc. Thế giới tâm linh đươc Nguyễn Bình Phương khai thác triệt để không chỉ ở con người mà còn ở chính cảnh vật trong tác phẩm: dòng sông, ngọn núi, cây nhãn, cây chuối, cơn mưa, cây cầu, đường phố… cả những yếu tố không hiện diện trực tiếp trong tác phẩm là tác giả và người đọc. Huyền thoại hóa cuộc sống đời thường là một đặc điểm dễ nhận thấy nhất trong toàn bộ tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương đã viết cho đến nay. Không chỉ trong Người đi vắng, trong Vào cõi , trong Những đứa trẻ chết già hay trong cuốn tiểu thuyết mới nhất của mình Trí nhớ suy tàn (xuất bản năm 2000), Nguyễn Bình Phương dường như không biết đến vấn đề “quyết định luận”, “chủ nghĩa duy vật biện chứng” hay “chủ nghĩa toàn trị” đối với văn học. Hiện thực được mô tả trong tác phẩm bao giờ cũng được bao phủ bởi một màn sương huyền bí, đầy những ảo ảnh mơ hồ. Con người tồn tại như một trò đùa của tạo hóa giữa mênh mông biển đời. Ngôn từ tác phẩm như từ một cõi âm u nào đó cất lên, như những lời thì thầm giữa hư vô không xác định. Vì vậy, đọc tiểu thuyết Nguyễn Bình Phương ta không nghĩ rằng nó được viết vào những ngày nhân loại và dân tộc đang bước vào thế kỷ XXI. Thông thường huyền thoại về ai đó, về vấn đề gì đó, về một câu chuyện nào đó chỉ xuất hiện khi đối tượng được quan tâm cần phải thần thánh hóa hoặc là do không lý giải được hoặc là do lợi ích vật chất và tinh thần của những người tạo nên huyền thoại. Cao hơn, huyền thoại xuất hiện khi con người khát khao một vẻ đẹp khác với vẻ đẹp thông tục. Ðiều này tạo ra một ý thức sáng tạo nghệ thuật. Nguyễn Bình Phương kiến giải cuộc sống bằng huyền thoại, kéo huyền thoại về với đời thường chứ không nâng đời thường với những cái tầm thường thành huyền thoại. Cuộc sống là những huyền thoại khác nhau. Mỗi nhân vật có một huyền thoại của riêng mình. Ðằng sau những gì là hoang đường kỳ ảo là trăn trở, là nỗi đau rất thật của con người. Nhờ vậy, những huyền thoại của Nguyễn Bình Phương không tách khỏi gốc rễ của cuộc đời thực tại. Huyền thoại tạo nên tính phổ biến của tâm thức con người hiện đại dưới một cái nhìn khác về cuộc sống. Huyền thoại cũng làm cho hiện thực cuộc sống được phản ánh trong tác phẩm trở nên lung linh và tạo nên một khoảng cách xa và sâu về không – thời gian giữa
Nỗi cô đơn của Nguyễn Bình Phương trước hết bắt đầu từ sự bước ra khỏi lối mòn trong thói quen thẩm mỹ của cộng đồng. Nỗi cô đơn ấy là một tất yếu toát ra từ những dòng chữ của Người đi vắng. Ðó không chỉ là sự “lạ hóa” nội dung và hình thức biểu hiện. Ðó là một sự thay đổi lớn trong quan niệm về văn học nói chung và về thể loại tiểu thuyết nói riêng không phải bằng lý luận mà bằng nghệ thuật hình tượng . Có thể trong quá trình vươn tới một tầm cao tiểu thuyết cần phải thay đổi một cái gì đó trong tâm thức tiếp nhận văn học. Nhưng muốn thay đổi tâm thức tiếp nhận phải hội tụ rất nhiều điều kiện mà trước hết là phải thay đổi tâm thức sáng tạo. Một việc làm khó thay! Trong trường hợp này, Nguyễn Bình Phương hình như đang ” đơn thương độc mã” . Sự mở đường với tư thế một trái tim Ðankô không chỉ ở phương diện kỹ thuật viết tiểu thuyết mà cơ bản là ở ý tưởng về một thể loại đang có nguy cơ khủng hoảng xem ra là lạc lõng. Trong chừng mực nào đó, Nguyễn Bình Phương đang đối mặt với chủ nghĩa hiện thực truyền thống và tầm đón nhận của độc giả Việt Nam khi phản ánh đời sống bằng tiểu thuyết mà nhân vật không có tiểu sử (lý lịch) cụ thể, không gắn bó với những sự kiện lịch sử – xã hội, không tồn tại trong một cốt truyện có đầu đuôi, huyền thoại hóa đời sống sinh hoạt tức là không phù hợp với quan niệm thẩm mỹ của đại chúng đã được định hình trong môi trường thẩm mỹ của truyện cổ tích, truyện Nôm và tiểu thuyết sử thi. Còn điều này nữa, theo tôi, rất quan trọng, trong số đông đại chúng ấy chúng ta thấy rất rõ nhiều gương mặt tiểu thuyết gia Việt Nam hiện đại.
Tuy nhiên, như đã thành một thói quen khó sửa, người đọc của chúng ta trong mấy chục năm qua, khi đọc tác phẩm thường tồn tại ở tư cách người chia sẻ những gì mà tác phẩm đã có trong mối liên hệ với thực tại cuộc sống. Có nghĩa là người đọc cố gắng tìm xem những gì mà tác phẩm phản ánh có chân thực hay không, có đúng như cuộc sống đang, đã, sẽ diễn ra theo quan niệm của một chủ nghĩa hiện thực đơn giản. Ðiều này có nguyên nhân sâu xa của nó. Ðó là vấn đề giảng dạy văn học trong nhà trường, vấn đề hướng dẫn người đọc của các nhà phê bình lý luận, vấn đề các nhà văn sáng tác theo những yêu cầu thực dụng của xã hội. Từ đó dẫn đến một thực trạng là việc tiếp nhận văn học của người đọc thiếu đi một chiều sâu suy nghĩ và tình cảm thẩm mỹ thực sự. Người đọc chỉ quan tâm đến nội dung cụ thể và ý nghĩa bề mặt của tác phẩm văn học. Do đó khi có những loại hình nghệ thuật khác đáp ứng được những chức năng và nhu cầu ấy, tất yếu văn học bị bỏ rơi, nhất là tiểu thuyết. Có một quan niệm rất phổ biến hiện nay là đến với văn học chỉ mất thì giờ. Ngoại trừ những học sinh phải học để thi và giáo viên phải đọc để dạy, nhà nghiên cứu phải đọc để viết. Lối văn chuong cử tử tuỏng đã lùi xa với ý thức hệ phong kiến chẳng ai ngờ, chẳng ai thấy rằng nó đang ngự trị trong đời sống văn học hôm nay một cách bình thường, không tự biết. Văn chuong đang từng ngày một từ đối tuọng thẩm mỹ chuyển sang làm công cụ kiếm sống một cách đau lòng ở cả hai phuong diện sáng tác và tiếp nhận. Mối quan hệ giữa tác giả, tác phẩm và người đọc là một mối quan hệ hết sức phóng túng và tự do, đồng thời cũng là mội quan hệ có tính ràng buộc nhưng là ràng buộc tự thân đến bây giờ đã bộc lộ đúng bản chất của nó. Chúng ta vẫn hằng khao khát một nền tiểu thuyết Việt Nam hiện đại sánh bước cùng thế giới nhưng chúng ta sẽ đang còn phải chờ đợi rất lâu khi mà ngay cả công việc giới thiệu những thành tựu tiểu thuyết thế giới cho độc giả vẫn còn nghiêng về thế giới tiểu thuyết cổ điển. Các tác giả hiện đại và tác phẩm của họ chỉ được giới thiệu lẻ tẻ trong tính cục bộ và tự phát. Những M. Kundera, F.Kafka, A.Grillet, M.Bungacov… và tác phẩm của họ – những khắc khoải nhân sinh, những câu hỏi lớn về nhân loại cho hiện tại và tương lai xem ra vẫn còn rất bơ vơ trong văn hóa đọc Việt Nam ngoài dăm ba tri kỷ.
Lý luận văn học hiện đại đã khẳng định vai trò của người đọc đối với sự tồn tại và vòng đời của tác phẩm văn học. Nhà văn sản xuất ra tác phẩm, người đọc hưởng thụ tác phẩm, tất yếu giữa họ phải có một nhu cầu giống nhau. Có thể xác định ngay đó là nhu cầu thẩm mỹ- nhu cầu về sự giãi bày và chia sẻ và khám phá trước cái đẹp. Tuy nhiên, để định hình được những nhu cầu thẩm mỹ ấy, cả nhà văn và độc giả phải qua một quá trình được đào luyện và tự đào luyện, phải chịu sự chi phối mạnh mẽ của những yếu tố khác trong cuộc sống như chính trị, kinh tế, văn hóa… cũng không loại trừ yếu tố bẩm sinh hay đột biến tâm lý…… Tóm lại nhà văn không chỉ có tầm nhìn mà còn phải có cả tầm đón vì anh ta là độc giả đầu tiên của tác phẩm của mình, anh ta phải đọc tác phẩm với tư cách một độc giả chân chính. Ðộc giả không chỉ có tầm đón mà còn phải có cả tầm nhìn bởi vì ở một phương diện nào đó họ cũng tham gia sáng tạo. Tác giả có tầm nhìn tốt sẽ chủ động trong sáng tạo, người đọc có một tầm nhìn tốt sẽ chủ động trong việc tiếp nhận.
Vậy thì Nguyễn Bình Phương …
Nguyễn Bình Phương với Vào cõi, Những đứa trẻ chết già, Nguòi đi vắng, Trí nhớ suy tàn xuất hiện trong cái không khí thẩm mỹ ấy, trong sự thờ ơ của độc giả tiểu thuyết bởi sự hấp dẫn của các phương tiện nghe – nhìn, bởi sự ỷ lại và thỏa mãn đối với những đồ vật tiêu dùng đầy cảm hứng dung tục và oái oăm thay, bởi sự quan tâm quá nhiều đến tiểu thuyết, khoác cho nó quá nhiều trọng trách tưởng làm cho nó vinh quang hóa ra đã bào mòn tâm thức và cảm hứng sáng tạo của nhà văn. Cái giá quá đắt của văn hóa đọc hôm nay (sử dụng nhiều thời gian, sự mệt nhọc của tư tưởng do phải suy nghĩ nhiều, sự uể oải của thể chất do cường độ lao động cao, giá sách lại hoàn toàn phù hợp với các thư viện nhà nuóc là nơi dùng tiền công để mua…), có lẽ sẽ làm cho nhiều người cho rằng nêu ra nhưng băn khoăn như trên là không cần thiết. Một số rất đông trong hơn bảy mươi triệu dân Việt Nam chắc chắn sẽ cho là như vậy. Một sự thờ ơ trong quan hệ tiểu thuyết mà Nguyễn Bình Phương đã dự cảm trong tác phẩm của minh. Không ai kết tội được độc giả bởi sự thờ ơ ấy đối với tiểu thuyết. Sự thờ ơ kết tinh trong nó một quan niệm về văn hóa. Ðúng là như vậy khi nói về tiểu thuyết và văn hóa, khi nói tiểu thuyết là văn hóa.
Nhìn vào lịch sử văn học dân tộc cũng như thế giới, ta thấy rất rõ một điều: Người đọc là quan trọng, tuy nhiên vấn đề là người đọc nào.
Nguyễn Mạnh Hùng, tiến sĩ văn học, 1956, Khoa Văn, Ðại học Ðà Lạt.
© 2003 talawas
[1]Trần Ðình Sử, Tống biệt hành của Thâm Tâm, Những thế giới nghệ thuật thơ, Nxb Giáo dục, H, 1997, tr.237
[2]Tên những tiểu thuyết của Nguyễn Bình Phương
[3].Xin xem:Milorad Pavic, Bắt đầu và kết thúc của tiểu thuyết, Website:
http://www.khazars.com (Ngân Xuyên dịch, 2000).