Harumi Ozawa
May Shigenobu là một phụ nữ Nhật hiện sống và làm việc tại Tokyo, nhưng suốt 28 năm cô đã là một người A Rập vô tổ quốc. Con gái của Fusako Shigenobu, người sáng lập Hồng quân Nhật (Nihon Sekigun), May Shigenobu đã phải di chuyển hết nơi này đến nơi khác trốn tránh các nhà cầm quyền. Khi sau cùng mẹ cô bị kết án 20 năm tù tại Tokyo, cô đã xuất đầu lộ diện dẫu rằng quá khứ là một phần không thể xoá mờ của cô. Cô ngỏ với Harumi Ozawa, đặc phái viên tại Tokyo của hãng thông tấn AFP, về cuộc đời người con của một trong những kẻ khủng bố bị truy tầm ráo riết nhất thế giới.

May Shigenobu đã 28 tuổi ngày cô lần đầu đặt chân lên đất Nhật, tháng 4 năm 2001. Một chuyến hồi hương đầy xúc động. Đèn máy ảnh chớp loang loáng, và đông đặc kí giả vây kín cô, dồn dập đặt câu hỏi. Câu hỏi thường nhất là: “Cô nghĩ sao về mẹ cô?”
Cô lặng thinh, chỉ giơ hai ngón tay làm hiệu chiến thắng – và không dừng bước.
Mái tóc nâu dài và tấm khăn choàng A Rập phủ trên vai khiến cô là hình ảnh sống động của mẹ cô, Fusako Shigenobu, người sáng lập phong trào tàn nhẫn Hồng quân Nhật khi xưa nay đã bị bắt.
Khác biệt là cô không mang súng, và cô mang dáng vẻ Trung Đông thừa hưởng từ ông bố người Palestine.
Bay từ Bayrūt về Tokyo sau khi mẹ cô bị bắt ở đây, Shigenobu sau cùng đã bước ra ngoài bóng tối – đến một xứ cô chẳng hiểu biết bao nhiêu – để nâng đỡ mẹ cô, người với quá khứ dính máu mà nhiều người ở đây vẫn còn ghê sợ.
Tháng 2 vừa qua, Fusako Shigenobu bị một toà án Tokyo kết án 20 năm tù. Nhưng cùng lúc mẹ cô bị giam cầm thì chính May Shigenobu lại bắt đầu ổn định một cuộc sống tự do mới – và đảm nhận lai lịch của cô.
“Tôi là con gái của một người không được xã hội Nhật chấp nhận,” May Shigenobu nói qua tách cà-phê, vẻ đầy tự tin.
Nhưng cô thêm, “Tôi vui sống ở đây. Tôi nghĩ tôi muốn sống với người dân Nhật.”
Năm 1971, thời đỉnh cao của phong trào sinh viên cấp tiến toàn thế giới chống chiến tranh Việt Nam, Fusako Shigenobu, khi đó 25 tuổi, lên đường đi Liban tham gia cuộc tranh đấu giành độc lập cho Palestine và hy vọng một ngày nào đó đưa cách mạng cánh tả đến đất Nhật.
Năm sau, ba người Nhật đồng chí của bà, mặc đồ lớn bước xuống từ một chuyến bay của hãng hàng không Air France, nổ súng tại phi trường Tel Aviv, khiến 26 người chết – phần lớn là những khách hành hương đến từ Puerto Rico.
Cuộc tấn công, phối hợp với Mặt trận Nhân dân Giải phóng Palestine khuynh hướng mácxít, khiến Hồng quân Nhật nổi danh khắp thế giới.
Nhóm này, vào lúc hưng thịnh nhất cũng chỉ gồm vài chục đoàn viên toàn là người Nhật, phát động một loạt những vụ cướp máy bay và chiếm đóng các toà đại sứ trong những năm 1970, hầu hết nhằm bắt con tin để đòi trả tự do cho những đồng chí bị cầm tù. Vụ chiếm đóng toà đại sứ Pháp tại Den Haag năm 1974 sau này sẽ thành cáo trạng để kết án và bỏ tù Fusako Shigenobu.
“Tôi đã phải rời xa bạn bè không một lời giã biệt”
Trong khi tên tuổi bà bị liệt vào danh sách những người bị truy tầm ráo riết nhất thế giới, bà hạ sinh May, người con duy nhất của bà, năm 1973.
Cha của May là một chiến sĩ của Mặt trận Nhân dân Giải phóng Palestine; tên cha cô, cô chỉ biết khi đã là một thiếu nữ, và cũng chưa bao giờ được tiết lộ. Nhưng cô vẫn nhớ rằng các đoàn viên Hồng quân sống tại một xã ở Liban và tất cả đối xử với cô như họ đều là cha mẹ của cô.
May đi học tại các trường trong các trại tị nạn Palestine và bây giờ cô vẫn nhớ nếp sống đầy những lúc vui thú – thay nhau lo bữa ăn sáng và ca hát sau bữa chiều với một người lớn gảy đàn lục huyền.
Nhưng cuộc sống hoàn toàn không ổn định. Bị các nhà cầm quyền Do Thái và Nhật săn đuổi, cô bé May và hai em bé khác mỗi tháng phải đổi nơi ẩn trú một lần.
Khi Do Thái xâm lăng miền Nam Liban năm 1982 săn đuổi các chiến sĩ Palestine, May thoát sang một nước A Rập khác và được phép ở lại đây cho đến khi lên trung học.
Cô không nêu tên nước này, bảo rằng cô không muốn gây rắc rối.
Cô sống trong các gia đình A Rập và bắt đầu giấu kín tung tích của mình. Nói tiếng A Rập thông thạo và dáng vẻ cho là người A Rập hay người Nhật cũng được, cô không để ai biết mình.
“Hồi trung học, tôi đổi trường bốn đến năm lần mỗi năm,” cô nói.
“Đôi khi tôi cảm thấy bất nhẫn khi phải rời xa bạn bè mà không một lời giã biệt hay cho biết mình đi đâu,” May nói. “Nhưng người lớn phải trốn tránh cùng trẻ nhỏ thì tất còn khó khăn hơn nhiều.”
Tất nhiên lớn lên May cũng học tiếng Nhật, nhưng vị thế khác thường của cô khiến cô không những không được nói tiếng Nhật ở những nơi công cộng mà còn không được tỏ lộ mình biết ngôn ngữ này.
Cô bắt buộc phải cư xử như một người A Rập 100 phần trăm.
“Ngay cả khi tôi thấy có những du khách Nhật cần giúp đỡ tôi cũng phải làm bộ không hiểu họ”, cô nói. “Nếu có ai tỏ dấu nghi ngờ tôi có liên hệ với Nhật, họ có thể tìm ra mẹ tôi và những gia đình khác đang ở đâu, như ván bài domino vậy.”
Cô không biết ngay cả tên Nhật của mẹ cô cho đến khi lên trung học.
Sau đó May trở lại Liban theo học trường đại học Mĩ tại Bayrūt, và vẫn sống kín đáo để thoát thân, cách sống cô đã quen thuộc.
“Mẹ tôi thường bảo tôi, ngay dù có người ân cần thân tình với chúng tôi, họ có thể vô tình hại chúng tôi khi đồn đại chúng tôi là ai. Tôi phải chối từ dẫu họ đáng mến đến đâu.”
“Tôi không thể thôi nói về Palestine”
May Shigenobu vẫn chưa có câu trả lời đơn giản cho câu hỏi người ta đặt ra với cô ở phi trường: cô nghĩ sao về mẹ cô?
Lớn lên giữa những giới A Rập cấp tiến, đó là một câu hỏi cô ít phải gặp.
“Tôi lớn lên là một người con của những người chiến đấu,” cô nói. “Có lẽ vì tôi đã sống trong thế giới A Rập, nhưng tôi kiêu hãnh vì họ chiến đấu cho chính nghiã (Palestine). Đó không phải là điều tôi phải đặt câu hỏi.”
Cô nhớ một lần duy nhất cô chất vấn một đoàn viên Hồng quân về những phương pháp của họ. Người ấy cho cô hay một trong những “mẹ” của cô đã bị bắt tại Perú.
Trong một quán cà-phê bên bờ Địa Trung Hải, cô khóc và la lên, “Tại sao tất cả các bác chọn cách chiến đấu như thế để nguy hiểm mạng sống của mình?”
Mẹ cô đã bày tỏ hối tiếc về các nạn nhân của Hồng quân, nhưng không hối tiếc về chính nghiã.
May Shigenobu vẫn tán đồng quan điểm của mẹ, ủng hộ chính nghiã nhưng không ủng hộ bạo lực.
Về vấn đề Palestine, cô tin cô có thể vận động một cách khác mẹ cô, đưa những bài bình luận đến với các cơ quan truyền thông Nhật.
Nhưng lập trường của cô vẫn gây dị nghị. Sứ quán Do Thái phản đối khi cô thuyết trình tại một trường học vùng Tokyo, nói rằng cô đưa ra một quan điểm một chiều.
“Tôi cảm thấy không thể bỏ rơi người ta được,” Shigenobu nói. “Tôi không thể bảo thôi, tôi mệt rồi, tôi không nói về Palestine nữa. Tôi phải thủ vai trò của tôi chứ.”
Ngỏ lời với các phóng viên sau khi toà tuyên án mẹ cô, May nói nước Nhật không nên nhìn mẹ cô với con mắt người đương thời.
“Chúng ta sống một thời khác,” cô nói với các phóng viên. “Còn đấy là một thời khắp nơi người người chiến đấu, suy tư và hành động chống chiến tranh Việt Nam và bao nhiêu áp bức khác trên thế giới. Chúng ta quên hết bối cảnh ấy và chúng ta lôi một người từ đấy ra và kết án người ấy với cảm quan của ngày hôm nay, những giá trị của ngày hôm nay và lối tư duy của ngày hôm nay.”
“Mẹ tôi đã chăm sóc cho tôi. Tôi muốn giờ đây chăm sóc cho bà.”
Khi Hồng quân suy tàn, Fusako Shigenobu lén lút trở về Nhật sau gần ba mươi năm trốn tránh.
Khi bà bị bắt tại Osaka năm 2000 do mật thám, May Shigenobu đang ở Bayrūt, cách xa nửa thế giới, và thấy hình ảnh mẹ bị còng tay trên truyền hình.
Bỏ học và giã từ người bạn tình, cô quyết định đi Nhật để nâng đỡ mẹ cô.
Giờ đây ai cũng biết lai lịch cô, con gái của Shigenobu, và bao nhiêu hệ luỵ sẽ theo đuổi cô cho đến cuối đời.
Một ngân hàng Mĩ từ khước mở tài khoản cho cô. Cô cho hay một nhân viên ngân hàng bảo cô: “Chúng tôi đã kiểm tra cô bằng máy điện toán. Chúng tôi không thể liên hệ với tiền bạc của một kẻ khủng bố.”
Nhưng May nói cô đã tưởng sẽ bị đối xử tệ hại hơn nữa sau khi tới Nhật.
“Giờ đây tôi có thể nói lên ý kiến của tôi, dẫu là về chính trị hay xã hội, và có những cơ hội lên tiếng công khai. Vì có một lai lịch tôi có thể tự tin mà nhận, tôi có thể hành động tự do hơn,” cô nói.
“Không phải là trước kia tôi không có tự do, nhưng tôi đã phải cảnh giác những hiểm nguy tôi có thể phải đương đầu.”
Hiện giờ cô đã đậu bằng cử nhân tại đại học Doshisha tại Kyoto, và tiếp tục theo học tiến sĩ về truyền thông quốc tế, chuyên khảo về Trung Đông. Cô cũng dạy tiếng Anh tại một trường tư thục.
Trong chuơng sách mời của đời cô, cô muốn gắn bó với mọi người.
“Suốt đời tôi, tôi cứ mất hết bạn này đến bạn khác. Giờ đây, tôi muốn ít ra vẫn giữ được liên hệ với những người đã thành bạn tôi, những người biết rõ cả tôi khi trước và tôi bây giờ.”
Một lòng nâng đỡ mẹ, May đến thăm bà tại một nhà giam ở Tokyo ít nhất mỗi tuần một lần, cho dù hai mẹ con chỉ được gặp nhau 15 phút qua một cửa sổ bọc plastic.
Cho dù đã phải sống một thời thơ ấu khó khăn, May nói cô biết cô được nuôi nấng với tình thương bao la của mẹ.
“Tôi biết bà đã chăm sóc tôi và lo cho tôi trước hết ngay cả những khi khó khăn nhất. Tôi muốn đến lượt tôi chăm sóc cho bà.”
Bản tiếng Việt © 2006 talawas