C. John Cadoux
Lời nói đầu
Gần đây trên talawas có bài cho rằng Alexandre de Rhodes là một gián điệp đã vận động Pháp đem quân xâm chiếm Đông phương, bằng cớ là ông đã viết rằng: “Tôi tin rằng nước Pháp, vương quốc ngoan đạo nhất thế giới, sẽ cho tôi nhiều chiến sĩ đi chinh phục cả Đông phương để biến thành thần dân của Jesus Christ…” (“J’ai cru que la France, étant le plus pieux royaume de monde, me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conquête de tout l’Orient, pour l’assujetter à Jésus Christ…”).
Cách hiểu này dường như khá phổ biến ở người Việt, ngay cả trong giới trí thức khoa bảng, và cách đây không lâu người ta đã từng phá tượng Alexandre de Rhodes ở Việt Nam vì sự hiểu lầm đó! Những người gán âm mưu xâm lược cho de Rhodes thường viện vào nghĩa đen của chữ soldat trong một cuốn từ điển yếu lược nào đó. Không hiểu nếu de Rhodes tự xưng là con chiên thì họ có nghĩ rằng ông kêu be be và gặm cỏ hay không? Và nếu giảng câu “Râu hùm hàm én mày ngài, vai năm tấc rộng thân mười thước cao” cho người ngoại quốc thì họ sẽ giảng ra sao? Thực ra, những từ điển đáng tin cậy đều cho nghĩa bóng của soldat/soldier là người phụng sự (servir) hay tranh đấu (combattre) cho một niềm tin nào đó, chẳng hạn:
Oxford English Dictionary: SOLDIER: fig. usually with ref. to spiritual service or warfare… (theo nghĩa bóng, thường nói về [người] phụng sự hay đấu tranh về tâm linh).
Trésor de la Langue Française: SOLDAT: Personne qui combat pour la défense de quelqu’un ou de quelque chose, pour le triomphe d’une croyance, d’un idéal. Soldat du Christ, de Dieu, de la démocratie, du droit, de la liberté, de la philosophie, du progrès, de la vérité…
Littré: Fig. et poétiquement, serviteur. Soldat de Dieu. Lors même que M. de Turenne commande, il se regarde comme un soldat de Jésus-Christ, FLÉCH. Turenne.
Académie Francaise (1935): SOLDAT: se dit encore, figurément, de Celui qui sert une cause, qui combat pour elle. Soldat de l’Église, de Dieu. Soldat de la liberté.
Ngôn ngữ Cơ-đốc giáo (CĐG) xưa nay rất hay dùng ẩn dụ quân sự. Ở hải ngoại ai cũng biết hội từ thiện Salvation Army (Đạo quân Cứu rỗi) chuyên cứu trợ người nghèo, với những ông già tự xưng là “soldiers”, mặc áo lính cầm hộp quyên tiền tại các góc đường. Bài hát nổi tiếng “Onward Christian Soldiers” đầy những từ ngữ chiến tranh để nói về đời sống tôn giáo:
Tiến lên, hỡi các chiến sĩ của Chúa, bước đều như thể ra chiến trường
Với thập tự giá của chúa Giê Xu đi trước
Chúa Ki tô, vị Chủ tướng vương giả, chỉ huy ta chống kẻ thù
Trông kìa quân kỳ của ngài tiến ra trận…
Onward, Christian soldiers, marching as to war,
with the cross of Jesus going on before.
Christ, the royal Master, leads against the foe;
forward into battle see his banners go…
Nhiều người (kể cả người dịch này) có thể khó chịu hay buồn cười với lối ăn nói “Rambo” đó nhưng không ai nghĩ rằng bài hát này thúc giục tín đồ CĐG cầm súng giết địch! Chính người CĐG nhiều khi cũng băn khoăn với kiểu dùng ngôn ngữ quân sự trong đạo của họ. Năm 1905, Adolf Harnack nghiên cứu về chuyện này trong cuốn Militia Christi: Cơ-đốc giáo và quân đội trong ba thế kỷ đầu (Militia Christi: die christliche Religion und der Soldatenstand in den ersten drei Jahrhunderten). Ông viết rằng những vị tổ của đạo (apostles) và những nhà truyền giáo thường được gọi là chiến sĩ. Năm 1919, C. John Cadoux viết cuốn Thái độ của người Cơ-đốc giáo sơ khai về chiến tranh (The Early Christian Attitude to War) trong đó dành hẳn một chương nói về việc “Dùng ngôn từ quân sự để minh họa đời sống tôn giáo” (The use of military terms and phrases to illustrate the religious life). Gần đây hơn Charles Sherlock viết một bài nhan đề “Ngôn ngữ quân sự [của CĐG] có khuyến khích bạo lực không?” (Military Language – promoting violence?). Ông viết: “Cách dùng ẩn dụ thường thấy nhất trong Tân Ước là để tả đời sống tín đồ CĐG như đời sống của một người lính” (The commonest NT use of military metaphors is the description of the Christian life as like that of a soldier). Gần đây, sau vụ Mỹ xâm lăng Iraq năm 2003 thì ngôn ngữ quân sự trong CĐG trở thành một vấn đề bứt rứt cho rất nhiều người CĐG chuộng hòa bình, như Old Cambridge Baptist Church.
Ở Việt Nam, đặt ra ngoài lề những kẻ có óc kỳ thị hay hận thù tôn giáo, tôi nghĩ rằng sự hiểu lầm về câu của de Rhodes là do sự thiếu hiểu biết về văn hóa Tây phương, nhất là của người Cơ-đốc giáo. Đọc sách của một ông cố đạo TK17 mà không biết điển tích CĐG thì khác nào đọc thơ của một nhà nho TK19 mà không biết điển tích Trung Hoa. Với ý nghĩ đó, tôi đã chuyển ngữ chương 14 trong sách của Cadoux, một tác phẩm nghiên cứu nghiêm túc và tương đối khách quan, với rất nhiều dẫn chứng cụ thể. Mục đích của tôi không phải là để bênh vực cho một tôn giáo nào, mà để người ở Việt Nam hiểu rõ hơn lối suy nghĩ và hành văn của người Tây phương, nhất là người thời xưa, để tránh những hiểu lầm tai hại.
Những người không quen thuộc với văn hóa và lịch sử tư tưởng Âu châu có thể hỏi tại sao lại dùng từ điển, sách báo tiếng Anh để giải thích trong khi đó de Rhodes viết bằng tiếng Pháp. Thực ra, văn chương Cơ-đốc giáo Âu châu thời xưa đều viết bằng tiếng La-tinh. Các học giả, tu sĩ viết sách và bàn luận với nhau đều bằng thứ tiếng này. Cho tới nay, tiếng La-tinh vẫn là ngôn ngữ chính thức của Giáo hội Công giáo. Chỉ từ thời Phục sinh (TK16), sách viết bằng tiếng bản xứ (vernacular) phát triển, thì ngôn từ tôn giáo mới được chuyển dịch thẳng từ La-tinh sang các thứ tiếng Anh, Pháp, v.v. Do đó, không có sự khác biệt nào đáng kể giữa ngôn ngữ tôn giáo của các nước Âu châu.
Trong bản dịch tôi viết lại đầy đủ những số tham khảo (reference numbers), nhưng không viết lại danh sách tham khảo (reference list) vì độc giả có thể tìm thấy dễ dàng ở nguyên bản tiếng Anh ở trang web http://www.compassionatespirit.com/Cadoux/TOC.htm.
Phạm Quang Tuấn
*
C. John Cadoux
Dùng ngôn từ quân sự để minh họa đời sống tôn giáo
Trong phần trước chúng ta tập trung vào những cách thức người Cơ-đốc giáo biểu lộ thái độ ghét và chống chiến tranh. Bây giờ chúng ta nghiên cứu mặt kia – những điều kiện và hoàn cảnh trong đó người Cơ-đốc giáo nghĩ về chiến tranh mà không chỉ trích nó. Mặt trái này có rất nhiều khía cạnh, từ cách dùng những ẩn dụ, ví von quân sự cho đến việc người Cơ-đốc giáo phục vụ trong quân đội. Việc của chúng ta là xem xét từng khía cạnh một cách kỹ càng vô tư, và xem nó liên quan gì đến thái độ phản chiến mà chúng ta đã thấy.
Chúng ta bắt đầu với kiểu hay dùng từ ngữ quân sự của người Cơ-đốc giáo để nói về đời sống tôn giáo. Dường như Paul [thánh Phao-lồ] là người khởi sự phong tục dùng những ẩn dụ và ví von với thế giới quân sự để mô tả những khía cạnh của đời sống tôn giáo và nhất là tryền giáo. Ông kêu gọi người Thessalonians hãy đeo tấm hộ tâm của đức tin và yêu thương, và dùng hy vọng cứu rỗi làm chiếc mũ sắt. [1] Để biện hộ cho việc sống bằng tiền của giáo hội ông hỏi: Có ai đăng lính mà không ăn lương không? [2] Ông nói về quyền hạn tâm linh và quyền áp dụng kỷ luật của ông trong giáo hội bằng ngôn ngữ của một vị tướng cầm binh và diệt loạn. [3] Ông nói về vũ khí của thiện đức cầm trong tay phải và tay trái (để tấn công và bảo vệ). [4] Ông gọi Epaphroditos và Arkhippos là bạn đồng ngũ (fellow soldiers) và nhiều người khác là bạn tù. [5] Ông tả tỉ mỉ những vũ khí để tấn công và phòng thủ, những ví von giữa chiến tranh và cuộc tranh đấu của người Cơ-đốc giáo chống những thiên thần ác. [6] Trong Pastoral Epistles ông kêu gọi Timotheos theo ông sống cuộc đời cực khổ của một người lính của Chúa. “Không ai đăng lính mà còn vướng bận chuyện đời, (vì mục đích của người lính là) để làm vui lòng người đã chiêu mộ mình.” [7]
Điều quan trọng là Paul dường như cũng biết rằng ngôn ngữ đó có thể gây hiểu lầm, vì hai lần ông nhắc người đọc rằng ông không nói về chiến tranh thật:
“Dù chúng ta là người xương thịt, chúng ta không phải là lính theo nghĩa xương và thịt. Vì vũ khí của chúng ta không phải vũ khí của lính bằng xương bằng thịt, mà là vũ khí của Chúa để phá những thành trì, những [tà] thuyết che dấu sự hiện hữu của Chúa, và tù binh của chúng ta là tất cả những dự án mà chúng ta làm cho thần phục Chúa…” [8]
“Cuộc tranh đấu của chúng ta không phải là để chống (kẻ thù bằng) xương thịt, mà để chống những thiên thần ác, những thế lực tội lỗi trên cõi trời. Hãy mặc vào bộ áo giáp Chúa ban…” [9]
Sách Luke chứa câu chuyện ngụ ngôn duy nhất về Jesus mà dùng ngôn ngữ quân sự một cách rõ ràng, chuyện hai vị vua sửa soạn chiến tranh. [10] [Vị tử đạo] Clemens người La Mã bảo người Corinthians:
“Các anh em, hãy phục vụ dưới những mệnh lệnh toàn hảo của Người. Hãy coi những người phục vụ các quan tướng như chiến sĩ, thi hành mệnh lệnh một cách kỷ luật, ngoan ngoãn, phục tùng. Không phải ai cũng làm sĩ quan, cầm đầu một đội, nhưng ai cũng tuân thủ mệnh lệnh của Hoàng đế và các quan tướng. Người trên không thể không có người dưới, người dưới không thể không có người trên. Tất cả hợp lại, do đó họ mới mạnh.” [11]
Ignatius viết: “Hãy làm vui lòng Chúa, mà các ngươi là những chiến sĩ phụng sự Ngài, Ngài trả lương cho các ngươi. Đừng trở thành kẻ đào ngũ. Lễ rửa tội các ngươi là khí giới của các ngươi, đức tin là mũ sắt, tình yêu thương là ngọn lao, lòng kiên nhẫn là áo giáp. Công nghiệp của các ngươi là tiền để dành để được hưởng sau này.” [12]
Ta thấy rằng trong khi Ignatius chỉ dùng ẩn dụ, Clemens đi xa hơn nhiều. Trong cách ám chỉ của ông có hai điều mới. Thứ nhất, từ sự ví von quân sự đó ông suy ra rằng tín đồ phải phục tùng những người lãnh đạo tôn giáo. Thứ hai, rõ ràng là ông có vẻ khâm phục quân đội La Mã. Chúng ta sẽ trở lại chuyện này sau.
Justinus dùng ẩn dụ quân sự một cách đáng chú ý. Ông nói với hoàng đế: “Lính của Ngài sẵn sàng hy sinh mạng sống, từ bỏ cha mẹ, bạn bè, quê hương để phục vụ Ngài, dù Ngài không có gì vĩnh cửu để trả công cho họ. Vậy lẽ nào chúng tôi không chịu đựng nổi bất cứ cái gì để nhận từ Chúa những phần thưởng vĩnh cửu mà chúng tôi yêu thích.” [13]
Trong chuyện giả tưởng “Sự tử đạo của Paul”, tác giả cũng như các nhân vật gọi tín đồ Cơ-đốc giáo là lính phụng sự Chúa. [14] Chuyện Tử đạo giả tưởng về Peter cũng dùng ngôn ngữ tương tự. [15] Trong “Trích từ Theodotos” của giáo phái Gnostic, có câu “Chúng ta phải trang bị vũ khí của Chúa, giữ xác và hồn tránh những vết thương”. [16] Eirenaios nói về những thành quả của chúa Ki-tô như những thành quả quân sự. [17] Clemens người Alexandria dùng rất nhiều thành ngữ và ví von quân sự để nói về những khía cạnh của đời sống Cơ-đốc giáo. [18]
Tertullianus, tuy ghét đăng lính trong đời thật, lại rất thích dùng ngôn ngữ này [19]. Nó được dùng nhiều trong giáo hội phương Tây (Tây Đế quốc La Mã) hơn là giáo hội phương Đông (Đông Đế quốc La Mã). Chữ “sacramentum” được dùng cho cả lời thề của người lính lẫn một số nghi lễ Cơ-đốc giáo cũng khiến cho quan niệm quân sự dễ dàng đem vào Cơ-đốc giáo. Dù rằng Tertullianus hoàn toàn không nghĩ tới chuyện tín đồ Cơ-đốc giáo cầm vũ khí thật để bảo vệ đạo của mình, quan niệm coi tín đồ Cơ-đốc giáo như là những người lính cũng đủ sống động để ông nghĩ tới một cuộc nổi loạn thực sự [20].
Đối với Origenes, quan niệm đời sống tôn giáo như một trận chiến tâm linh rất ích lợi, vì nó cho ông một cái chìa khóa để giải thích những điều trong Cựu Ước mà nếu hiểu theo nghĩa đen thì sẽ rất ghê gớm đối với ông. Những ẩn dụ quân sự xuất hiện trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, nhưng được khai triển nhất là trong những bài giảng về những sách Numbers, Joshua, và Judges. Trong bài giảng về Joshua, ông viết: “Nếu không hiểu những cuộc chiến tranh này là chiến tranh tâm linh, thì những cuốn sách lịch sử Do Thái sẽ không bao giờ được các vị tổ của đạo Chúa truyền lại để đọc trong nhà thờ, vì tông đồ của Chúa tới đây là để giảng về hoà bình”. [21]
Những tác phẩm khác trong nửa đầu thế kỷ thứ ba chứa những ngôn ngữ và ví von quân sự là luận án của Hippolutos chống Noetos [22], sách giả tưởng “Những hành động của Thomas” [23], “De Pascha Computus” được gán sai cho Cyprianus [24], và “Octavius” của Minucius Felix, trong đó có một sự so sánh rất hay một người tử đạo kiên định với một người lính thắng trận. [25]
Từ giữa thế kỷ thứ ba trở đi, ngôn ngữ quân sự được dùng để tả cuộc sống tôn giáo càng ngày càng nhiều, nhất là dưới ngòi bút những tác giả La-tinh. Tín đồ Cơ-đốc giáo được gọi là lính của Christ; Christ được gọi là imperator (tướng lãnh, hoàng đế); Giáo hội là trại lính của ngài; rửa tội là sacramaentum (tuyên thệ của lính); dân dị giáo và ly giáo gọi là kẻ nổi loạn và lính đào ngũ, v.v. Vô số từ ngữ quân sự được dùng để tả những gian nan và thành quả của người Cơ-đốc giáo, nhất là trong khung cảnh bị bức hại do cấm đạo. Không cần phân tích nhiều những đoạn này: có những đoạn chỉ là lối nói hùng biện kiểu “lên gân”; có khi sự ví von được khai triển tỉ mỉ; có khi chỉ là một sự so sánh ngắn gọn. [26]
Những ẩn dụ quân sự được dùng nhiều nhất bởi Cyprianus và những người trao đổi thư từ với ông [27], Commodianus [8] và các tác giả của các truyện Tử đạo (Martyr acts) [29]. Được dùng nhiều bởi các tác giả La tinh hay Đế quốc Tây La mã [30] hơn là Đông La mã [31], và càng được dùng nhiều khi Cơ-đốc giáo bị đàn áp. [32] Chữ “paganus”, thoạt đầu chỉ có nghĩa là thường dân (đối nghĩa với lính), dần dần mang nghĩa người ngoại đạo. Điều đó cho thấy quan niệm rằng tín đồ Cơ-đốc giáo là lính đã thấm sâu vào đầu óc của người Cơ-đốc giáo La tinh tới chừng nào. [33]
Hầu hết những đoạn dùng ẩn dụ quân sự không cho biết gì hết về thái độ của người viết đối với chiến tranh, tuy cũng có một vài đoạn cho thấy người viết chấp nhận rằng chiến tranh có thể chính đáng. Chẳng hạn Cyprianus viết: “Việc của người lính là bảo vệ trại của chủ tướng, và việc của chủ tướng là bảo vệ những lá cờ được giao phó cho mình”, và sau đó ông kêu gọi rửa tội lại cho những kẻ dị giáo. Ông cũng viết: “Nếu người lính trần gian hưởng vinh quang khi trở về sau khi chiến thắng kẻ địch, thì chiến thắng quỷ sứ và trở về thiên đàng sẽ vinh quang hơn biết bao!”. [35]
Lactantius khuyến khích người đọc chống quỷ sứ bằng cách so sánh tỉ mỉ những gian nan của trận chiến đó với những khó khăn của cuộc chiến để tự vệ và bảo vệ nhà của mình chống một kẻ địch trần gian. [36]
Nhưng không thể kết luận rằng những sự so sánh đó có hậu ý gì. Để lý luận cho hùng hồn và thuyết giảng cho văn vẻ, người viết có thể dùng những ẩn dụ củng cố lý lẽ của mình, nhưng điều đó không hàm ý gì về cái dùng để ví von. Chẳng hạn, Lactantius tuy hùng hồn nói về sự cần thiết phải tự vệ, nhưng thực ra lại là người chống đổ máu, chống cả án tử hình và quân dịch. Cyrpianus hầu như chắc chắn cũng vậy. [37]
Tuy nhiên, thói quen dùng ẩn dụ quân sự không phải là không nguy hiểm. Harnack nhận xét: “Khi những hình tượng quân sự được đem vào tôn giáo thì có vẻ như nó có ý nghĩa ngược lại hay chỉ còn là một biểu tượng. Nhưng những hình tượng ấy có cái logic và hậu quả tất yếu của chúng. Dần dà, từng tí một, yếu tố quân sự từ một biểu tượng trở thành sự thật, và vũ khí tinh thần trở thành vũ khí thật. Dù không đến độ đó, nó cũng có thể gây ra một tâm tính võ biền có thể đe dọa tính hiếu hòa và hòa bình.” [38]
Và khi nói về Cơ-đốc giáo La-tinh trong thế kỷ thứ ba: “Một giọng điệu vừa cuồng tín vừa huênh hoang đi vào văn chương thuyết giảng ở Đế quốc Tây La Mã. Tín đồ Cơ-đốc giáo có thể trở thành những anh hùng rơm hay tướng tuồng (“miles gloriosus”). Dù chỉ nói về cuộc chiến tâm linh, kiểu viết đó có thể đưa tới sự thích đánh nhau, cướp bóc, háo thắng theo nghĩa đen. Ngôn ngữ quân sự nhiều khi dùng không đúng chỗ, trừ trường hợp nói về những người bị đàn áp vì theo đạo. Nó đã trở thành cái mốt. Những truyện về việc đàn áp tín đồ viết dưới thời Diocletian và những hoàng đế khác, và nhất là những truyện viết sau đó, thiếu cái sự hiếu hòa và cẩn trọng mà những tác phẩm kinh điển, trừ sách Apocalypse, dạy cho các tín đồ Cơ-đốc giáo. Ta không thể trách những người bị hành hình, nhưng nên trách những người viết tiểu sử của họ.” [39]
Tóm lại ta có thể nói rằng việc lấy chiến tranh làm hình ảnh đẹp của người Cơ-đốc giáo, tuy có thể bị lạm dụng và gây hiểu lầm, nhất là trong những kẻ có đầu óc thô bạo trong giáo hội, nhưng thực ra chỉ dùng để nói về cuộc chiến tâm linh, và không có gì trái ngược với việc kiên quyết tránh bạo động.
Bản tiếng Việt © 2006 talawas