trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
29.8.2003
Nguyễn Khắc Phê
Nghĩ về từ “đồng chí”
 

Năm trước, có một bài báo “chất vấn” một tòa báo nọ vì sao không gọi người đại diện cơ quan X. là đồng chí mà lại gọi là ông. Nói thẳng ra thì bài báo ấy phê phán tờ báo nọ lập trường không rõ ràng, hoặc là mập mờ không muốn tỏ thái độ chính trị của mình.

Có lẽ vấn đề không đơn giản như thế. Từ đồng chí thời nay quả là chuyện đáng bàn.

Trước hết, xin mở Từ điển TIẾNG VIỆT ( Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1977), trang 308:



Đồng chí có 2 cách cắt nghĩa: 1- Những người cùng một chí nguyện; 2 – Từ chỉ những người thuộc cùng một đoàn thể cách mạng.

Nếu chỉ vậy thì còn gì đáng bàn nữa. Cũng như từ đồng chí thời nhà thơ Chính Hữu sáng tác bài thơ nổi tiếng thể hiện một tình cảm đẹp đẽ thiêng liêng đã được khẳng định. Những ai từng sống thời đó, cái thời mà “Áo anh rách vai, quần tôi có hai miếng vá…Thương nhau tay nắm lấy bàn tay…”, hẳn đều có lúc bồi hồi tưởng nhớ tình đồng chí cao đẹp ấy xen một chút như ngỡ ngàng. Ngỡ ngàng như không hiểu sao mình có thể sống đẹp và đơn giản như vậy; ngỡ ngàng không biết mình đã đánh mất “nó” từ bao giờ!…

Đã mấy chục năm qua! Cuộc sống biến động và phức tạp lên từng ngày. Từ đồng chí thời nay trở nên “phức tạp”, nhiều khi làm chúng ta đau đầu. Kể ra, cũng có khi “nó” giúp ta gỡ một tình thế khó xử, “nó” được dùng như là một đại từ…giống trung! Ví như gặp một người khách mà từ cách ăn mặc cho đến vẻ mặt rất khó đoán tuổi, cương vị, khó xác định nên gọi là chú hay anh, thì tiện nhất cứ chào đồng chí! Hoặc trước một thanh niên vận quần bò, tóc ngắn, cũng có khi là tóc dài, mà ta không dám chắc là trai hay gái thì từ đồng chí thật đắc dụng. Gọi bằng đồng chí cũng là cách “trung dung” mà một số cán bộ hay dùng. Trong mấy kiểu kể trên thì có trường hợp làm ta vừa bực, vừa ngượng. Ấy là lúc ta tìm hiểu được “đồng chí” nọ hóa ra là một kẻ buôn lậu đến xin miễn thuế, hoặc là một “quan” tham nhũng đang phè phỡn trên lưng chúng ta!

Dù sao thì các tình thế “giống trung”ấy cũng có chút vui vẻ, đáng cười (cười tủm tỉm hoặc là buồn cười). Điều đáng buồn thật sự là khi người ta không cùng chí hướng với nhau nữa, thậm chí thù nghịch nhau mà vẫn gọi nhau bằng “đồng chí”! Đó là trường hợp các “đồng chí” cùng một cơ quan, hội đoàn, nhưng lại chia phe này phái khác, hoặc là đang tìm cách “hất cẳng” nhau! Có tờ báo đã gọi một tên tham nhũng cỡ bự là ” đồng chí”, viện cớ “đồng chí”ấy chỉ mới bị tố cáo, đang trong giai đoạn “điều tra” chứ chưa bị tòa án kết tội! Trong khi cả nước đang tìm diệt bọn chúng như kẻ thù nguy hiểm, cách biện bạch ấy nghe khó lọt tai và làm chúng ta đau lòng!

Còn từ đồng chí khiến người ta phải đau đầu thì những ai để ý đến sự biến động trên chính trường quốc tế vừa qua hẳn đã rõ. Mới là đồng chí thân thiết đó, bỗng hóa ra “ông” và “ngài”.Và ngược lại… Đau đầu, vì cái ranh giới ấy đâu có rõ ràng và thời điểm nào thì sự chuyển vị ấy là thích hợp? Ai có thẩm quyền định ra các chuẩn mực đó? Vậy mà đôi khi chúng ta vẫn sợ bị khiển trách. “Ấy, đến lúc này mà các cậu còn gọi tay X. là đồng chí à?”, hoặc là thấp thỏm: “Chà! Không biết bây giờ đã gọi ông Y. là đồng chí được chưa?…”

Thực ra, cũng có cách giải thoát. Từ ông và bà rất lịch sự, có tự ngàn xưa và nay vẫn đắc dụng. Nhưng vì một quan niệm, một nếp quen, người ta lại chỉ muốn dùng hai từ có tính phổ biến ấy một cách hạn hẹp. Biết làm sao được! Đó là chuyện đã vượt ra ngoài lĩnh vực ngôn từ.

Cuộc sống đang biến động đến chóng mặt và trong cách sử dụng từ ngữ cũng như việc sắm đồ tiêu dùng, mỗi người có sở thích riêng. Dễ gì ai ép được ai. Chỉ mong sao đừng lầm lẫn, giả dối. Cũng mong sao đừng tráo trở. Có thể ai đó thay lòng đổi dạ, còn chúng ta, mong sao mãi mãi vẫn là đồng chí, là bạn tốt với nhau và với mọi người.

Đời hoa, NXB Hội nhà văn 1999

*


Cây bưởi góc vườn

Vài năm trước, khi chưa mấy ai tính chuyện buôn bán đất đai, tôi xin được miếng đất ven thành phố để làm nhà. Anh tôi, từ Thành phố Hồ Chí Minh ra, bảo: “Chú mi ở Huế có miếng đất thế này mà không trồng lấy một vài cây thanh trà.” Thanh trà là giống bưởi đặc biệt ngon ở Huế, được trồng nhiều trên vùng Long Thọ, Thủy Biều.

Nhớ lời anh, tôi mua một cùi về trồng và không ngờ chỉ mấy tháng sau, trên những cành nhánh khẳng khiu, hoa thanh trà nở trắng xóa từng chùm, tỏa hương ngào ngạt. Những chùm hoa hẳn đã có sẵn trong “bào thai” từ khi còn ở trên cây mẹ, nay cành bị cắt rời đi “ở riêng”, chỉ sống dựa vào chùm rễ mới hình thành, nên tàn rất nhanh và tất nhiên không đậu được quả nào.

Năm sau, vừa qua đợt rét đậm cuối đông, một đêm tôi đang dạo ở sân, bỗng thoảng đến trong làn gió nhẹ hương bưởi thơm nồng. Từ đâu vậy? Không lẽ cây thanh trà mới trồng, lại vừa trải qua mùa nắng hạn gay gắt mà đã có thể ra hoa? Cây trồng nơi “đắc địa”, bên lối ra vào, hầu như ngày nào tôi cũng để mắt đến. Nhưng biết đâu tạo hóa có phép màu?

Sáng hôm sau, tôi hồi hộp bước nhanh tới bên cây thanh trà thì vẫn chỉ thấy mấy chùm lá trên cành khẳng khiu. Nhưng khi tôi vừa bước chân ra vườn, hương bưởi lại thoảng đến, rất gần, khiến tôi đưa mắt nhìn lên. Trời! Thì ra chính cây bưởi tự mọc ở góc vườn nhà tôi đã ra hoa! Cây bưởi bấy lâu hầu như bị bỏ quên vì không rõ “lí lịch”, xuất xứ, biết đâu là loại bưởi chua loét, rồi sẽ phải chặt bỏ; hơn nữa, mấy thứ cây xung quanh đáng chú ý hơn – cây mãng cầu đã cho quả và cây sapôchê “rất kinh tế” như thiên hạ vẫn đồn!

Thú vị và sững sờ, tôi ngắm chùm hoa bưởi nở trắng khoe nhị vàng ẩn dưới những tàn lá rậm rạp, xanh sẫm đầy nhựa sống. Vậy mà đã có lần, suýt nữa tôi vung dao chặt nó. Ờ, biết đâu chính nó mọc lên từ hạt thanh trà hoặc là hạt bưởi Phúc Trạch nổi tiếng ở Hà Tĩnh mà tôi đã mua về ăn? Mỗi giống bưởi một vị riêng, khi “di cư” đến chỗ mới ít nhiều cũng biến đổi. Chỉ hương hoa bưởi muôn đời vẫn vậy. Đó là quà tặng vô giá, vô hình của tạo hóa, không dành riêng cho dòng giống nào.

Tôi “căng” mũi, cứ nghĩ là sẽ ngất ngây với hương bưởi nồng nàn. Vậy mà lạ thay, hoa bưởi vẫn đó, nhưng hương bưởi thì đã trốn đâu rồi? Chẳng lẽ tạo hóa không muốn ban tặng của quý cho con người, khi họ chỉ nhăm nhe chiếm hữu?…

Từ buổi sáng đó đến nay đã mấy tháng qua. Theo quy luật tự nhiên, hoa kết thành trái, rồi lớn dần. Phải nói là tôi hồi hộp, không biết hoa thơm nhưng trái có ngon lành không? Và Trung thu đến, vừa đúng mùa bưởi chín. Tôi chọn quả vàng hươm trên ngọn, thận trọng và như rụt rè gọt lớp vỏ ngoài. Phía trong lớp mu dày trắng tinh mềm mại là những múi tròn căng xếp khít bên nhau, ngon không kém gì thanh trà hay bưởi Phúc Trạch.

Đã đành là nếu nói đến “kinh tế vườn” thì không ai trông chờ những giống cây tự mọc. Nhưng chuyện hoa trái thì không chỉ là kinh tế. Tôi nhìn quả bưởi như đóa hoa trắng xòe nở trên bàn, lắng nghe tiếng trống của những tốp múa lân “tùng cắc tùng” dội vang giữa đêm Trung thu bất chấp trời mưa gió, chợt nghĩ đến những em bé vô gia cư, không rõ dòng giống nào đang lang thang trên các nẻo đường hè phố. Biết đâu trong đó rồi sẽ xuất hiện những nhân tài?…

Huế, Tháng 10/1996

Đời hoa, NXB Hội nhà văn 1999

*


Bà già bên dốc Bến Ngự và những chuyến xe qua

Dốc Bến Ngự nằm trên con đường đi lên nhà thờ cụ Phan Bội Châu, chùa Từ Đàm và các lăng vua nhà Nguyễn. Một hai năm trước, bên lối dốc này, bất kể trời mưa dầm hay nắng gắt, tôi thường gặp một bà già thân hình teo tóp, ngồi ngửa nón xin người qua đường bố thí. Thoạt đầu, gần như là tôi thản nhiên đi qua, vì tâm niệm rằng: tốt nhất, hãy góp sức vào sự nghiệp lớn đưa đất nước tiến lên, như thế người cùng khổ sẽ không còn; chứ bố thí cho người ăn xin là kiểu phô trương đạo đức của các thầy tu và bọn tư sản giàu có, chỉ như muối bỏ biển. Cũng không còn nhớ ai đã dạy tôi như vậy. Nhưng rồi nhiều lần dắt xe đạp lên dốc cạnh các chị, các bà buôn thúng bán bưng cũng như những người lao động nghèo trên vùng đồi khô cằn chắt góp từng quả khế, bó chè mang xuống chợ Bến Ngự kiếm dăm mười ngàn đồng, thấy họ vừa trò chuyện vừa thả những đồng tiền lẻ vào nón bà cụ một cách thản nhiên như không, tôi dần cảm thấy day dứt và xấu hổ. Tất nhiên là sau đó, mỗi khi dắt xe đạp lên dốc và có sẵn tiền lẻ trong túi, tôi cũng bỏ chúng vào nón cho bà cụ bên đường.

Có thể nói đó là “chuyện cũ”, khi tôi còn đi làm bằng chiếc xe đạp Phượng Hoàng tróc hết sơn, mua từ hồi còn chiến tranh. Từ năm ngoái, nhờ chịu khó làm ăn và cũng gắng theo bạn bè, tôi “lên” được chiếc Honda. Thế là thoát cảnh dắt xe đạp lên dốc khi nắng đổ, lúc mưa dầm, nhưng cũng không còn dịp dừng bước để bỏ những đồng tiền lẻ vào chiếc nón tả tơi của bà cụ nữa. Và mấy lần, khi thì đi nhờ xe ông bạn vừa lên chức được quyền sử dụng xe ô tô đời mới, khi thì đưa khách thăm lăng tẩm, tôi càng không thể dừng lại bên bà cụ, chỉ còn biết ái ngại ngoái nhìn mái đầu bạc rối bời khẽ quay đi tránh bụi đường xe cuốn lên qua khung cửa kính bóng lộn khép chặt.

Cho đến mùa Xuân này, tôi không còn thấy bà cụ ngồi bên dốc Bến Ngự nữa. Bà đã qua đời? Hay vì nhiều người “lên” Honda, lên ô tô quá, số lượng tiền lẻ hứng được trong chiếc mê nón không còn đủ sống, khiến bà cụ đã phải chuyển chỗ kiếm ăn? Tôi nào có biết …

Lao động 2003

*


Chuyện con cu của tôi

Xin được nói ngay kẻo các bạn lại cho là tôi đùa dỡn tục tằn: thoạt đầu, tôi đã viết là “con bồ câu…”, nhưng thế là không chính xác; vì đây là con chim cu – loại cu gáy, “cu cườm” chính hiệu mà người chơi chim cảnh thường chưng trong lồng đẹp treo dưới mái hiên hoặc cành cây trước nhà. Có điều, con cu của tôi không bị nhốt trong lồng mà nó được tự do.

Cũng phải thành thật là thoạt tiên tôi chưa có lòng tốt cho con cu được tự do. Chỉ do đãng trí, mở cửa cho nó ăn rồi quên đóng lại; sáng ra, nhìn lồng chim trống không, đã tưởng là mất tăm, không ngờ một lúc sau thấy cu ta từ đâu ngoài vườn cây sà xuống đậu trên thành lan can trước phòng làm việc, cái đầu trơn bóng với đôi mắt tròn xinh xắn thập thò nghiêng ngó, vừa thăm dò, vừa cảnh giác. Cả khi tôi tung một nhúm thóc ra, cu ta vẫn e ngại, đôi chân hồâng hồng mảnh nhỏ cứ rụt rè không dám bước tới.

Nhưng rồi cu ta thấy không có gì đe doạ, bụng thì chắc đói meo mà những hạt thóc vàng mẩy ngon lành cận kề thếâ kia, nên dần dà “bữa ăn” tôi dọn ra cũng được chiếc mỏ nhọn thu nhặt gọn vào cái diều không bao giờ phình ra lộ liễu như mấy ả gà vừa ăn no đang gọi trống ồn lên ngoài vườn.

Con cu quen dần với cảnh sống tự do như thế và tôi cũng không còn lo nó bay đi nữa, tất nhiên là ngày nào cũng phải nhớ cho nó ăn. Chỉ buồn một nỗi là từ hôm sổng lồng, nó không gáy nữa! Ôi chao! Tôi nhớ lần đầu tiếng cu gáy cất lên vào một chiều hè đã muộn làm tôi xốn xang. “Cục cù cu…r…”! Từng hồi nhịp ba như thế, âm cuối rung nhẹ, rất gần mà như xa. Phải, tiếng cu gáy thật dễ gợi một nỗi buồn xa vắng, dịu ngọt và bồn chồn; trong giây lát, ta như được trở về làng quê, sống lại thời thơ trẻ, lưng trần quần cộc lon ton chạy theo người bẫy chim với chiếc lồng nhỏ hình bán cầu một mặt phủ lưới và cây sào dài để treo cu-mồi lên cành cao…

Nuôi chim cu cườm mà mất tiếng gáy thì còn gì để nói nữa! Thật may vào lúc đó tình cờ tôi đọc thấy trong bài viết về sự tinh tế, hiểu biết sự đời cặn kẽ của một nhà văn đàn anh có câu: “chim cu ăn no nó mới gáy”. Thì cũng như con người “có thực mới vực được đạo”. Chỉ đơn giản vậy mà tôi không biết! Phải! Hồi còn nhốt trong lồng, bình đựng nước, đựng thóc lúc nào cũng có sẵn; tôi cứ tưởng cu ta đựơc tự do ít nhiều cũng tự kiếm ăn thêm, hàng ngày chỉ cần cho nhúm thóc để nó nhớ về với chủ. Tôi quên là các cánh đồng quanh thành phố đã nhường chỗ cho những lâu đài, đi xa thì chắc là cu ta e ngại. Kể ra thì cũng không thiếu chỗ kiếm được miếng ăn, nhưng cu ta – với kẻ nuôi nấng quen thuộc còn e dè nghiêng ngó cảnh giác mỗi khi lại nhặt thóc tôi ném ra, hẳn thừa biết con người mấy ai cho không, chỗ có miếng ăn thường là nơi cạm bẫy. Cũng vì ông Trời sinh ra cái giống điệu đàng chỉ biết cất tiếng hát gợi hồn quê và khoe “bộ cánh” mượt mà với cái đuôi dài quét đất, với chiếc khăn quàng cổ lóng lánh như đeo cườm, còn cái diều chứa miếng ăn hàng ngày thì lại “sĩ diện” giấu kín, nên nào ai biết cu đói hay no!

Quả nhiên, sau hai ngày tôi để cả lon thóc mỗi lần cho cu ăn, tiếng gáy “Cục cù cu…r…” nhịp ba làm xao xuyến lòng người lại cất lên những trưa nắng đổ và cả những chiều mưa dầm dề. Nói cho đầy đủ thì không chỉ vì được ăn no mà nó ở với tôi. Tôi thường “gáy” theo nó, “nói chuyện” với nó, dỡn chơi với nó mỗi khi nó chạy theo mổ vào chân tôi. Con vật cũng như con người, đâu chỉ cần miếng ăn. Đưa lon thóc ra mà bỏ đi ngay, có khi nó không thèm ăn. Nó ưa tôi ngồi lại, âu yếm gọi “cu cu” và tung từng hạt như người mẹ bón cháo cho con. Con cu thân thiết với tôi đến mức nhiều khi bay lên đậu trên màn hình máy vi tính hoặc trên chiếc quạt máy nơi tôi làm việc, có lần đậu cả lên vai tôi, chẳng màng chi đến tiếng kêu gọi bạn của đồng loại – tiếng cu gáy đâu đó thỉnh thoảng lại vọng tới.

Một chiều nắng dịu, tôi theo hướng tiếng cu gáy vẫn thường vẳng đến ấy, thử xem vì sao tiếng kêu đồng loại tha thiết đến thế mà không dẫn dụ được con cu của tôi bay đi theo. Phía ấy, vốn có một vườn cây um tùm bao quanh ngôi miếu nhỏ. Chỉ mới mấy tháng qua mà lùm cây đã nhường chỗ cho những ngôi nhà cao tầng lấp loá mặt kính với đủ kiểu chóp nhọn và vòng cung. Vậy thì tiếng cu gáy kia cất lên từ đâu đây? Nghiêng ngó một lúc, tôi đã nhìn thấy môït con cu gáy y chang con cu của tôi đang buồn bã rụt cổ thu chân đậu trong một chiếc lồng tre vàng hươm giống hệt chiếc lồng mà tôi đã mua ngày nào! Hèn chi con cu của tôi không màng đến! Dù sao nó cũng được tự do hơn – một tự do tương đối, vì hàng ngày vô hình trung nó vẫn bị “buộc chân” bởi lon thóc mà tôi mang tới. Phải! Ở đời làm gì có tự do tuyệt đối.

Nghe kể chuyện “con cu của tôi”, ai cũng bảo tôi như thế là người có phúc, chứ giống cu gáy mấy khi thả tự do mà chịu ở với chủ. Chuyện hậu vận xa xôi nào ai biết chắc, nhưng quả là tôi đang có phúc vì quanh mình vẫn là nơi yên tĩnh với rất nhiều bóng cây xanh.

Giữa những đô thị náo nhiệt hôm nay, liệu còn bao nhiêu người có phúc như tôi?

Huế, Trước thềm Xuân Quí Mùi -2003

 
© talawas 2026