Vũ Ngọc Tiến
Từ lúc có ý định viết bài này tới khi ngồi bàn cầm bút, có nhiều đêm tôi suy nghĩ về cái lẽ biến đổi tuần hoàn không cùng vô tận của đạo dịch, về lẽ hưng phế của mọi quốc gia, mọi nền văn học nghệ thuật.
Ở phương Ðông ta, dân tộc Trung Hoa có quyền tự hào về nền văn học nghệ thuật vĩ đại trải qua mấy nghìn năm thăng trầm của lịch sử. Họ đã cống hiến cho nhân loại những kiệt tác văn học và những danh nhân văn hóa. Hồi nhỏ, tôi đã được nghe ông nội tôi tổng kết: “Tứ thư ngũ kinh là cái chìa khóa để mở cửa vũ trụ và thế giới tâm linh. Ðông Chu liệt quốc là cái túi khôn của muôn đời. Tam Quốc diễn nghĩa là tổng kết của lịch sử, là bài học thực hành cho các đấng minh quân, lương tướng. 72 hồi đầu của Thủy Hử là bài luận giải về “Hà chính”, “Bức thượng Lương Sơn” (ông nội tôi không thích các hồi sau). Tây du ký là bảo cho người đời từ thượng cổ chí kim có 5 hạng, 5 đẳng cấp phải gắn bó dựa vào nhau, đừng tranh đoạt đổi hạng thì mọi yêu ma quỷ quái trên thế gian này đều bị tiêu diệt hết, và cả năm hạng ấy đều hạnh phúc, sẽ lên cõi niết bàn”. Tôi yêu mến văn học nghệ thuật cổ điển Trung Quốc như một lẽ tự nhiên, bẩm sinh từ trong máu vậy.
Khi bắt đầu đi học, có chút ít định hình về nhân cách và cá tính thẩm mỹ, tôi đã say mê đọc sách văn học Trung Quốc. Từ những sách dịch rất sớm của cụ Ðặng Thai Mai như AQ chính truyện (Lỗ Tấn), kịch Lôi Vũ (Tào Ngu), đến các cuốn sách sau này do ông Trương Chính dịch vào những năm 60, tôi đều mua đọc và giữ đến bây giờ. Rồi những tiếng thanh la kinh hoàng của cách mạng văn hóa khi tôi lưu học ở Vũ Hán, đến những cuốn phim truyền hình nhiều tập làm tôi xúc động, vui mừng trước sự phục hưng văn học nghệ thuật Trung Quốc giữa những ngày xế chiều lẻ bóng ở Hà Nội… đã thôi thúc tôi tìm hiểu, suy nghĩ về nó, viết về nó.
Muốn hiểu được sự tưng bừng khởi sắc, báo hiệu cao trào phục hưng văn học nghệ thuật Trung Quốc hiện nay, phải xem xét qua tiến trình và sự thăng trầm của nó suốt 41 năm qua, kể từ năm 1949 đến năm 1990. Lẽ đời phải có hưng rồi có phế thì sau mới có phục hưng. Lịch sử văn học nghệ thuật hiện đại Trung Quốc từ năm 1949 đến 1990 có hai cao trào phát triển rực rỡ là năm 1949 – 1959 và 1979 – 1990, một lần chao đảo (1960 – 1965) và một lần bi thảm thoái trào (1966 – 1976).
Tháng 10 năm 1949, nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập. Trải bao cay đắng hy sinh suốt một thế kỷ đấu tranh, hơn 500 triệu người Trung Quốc (thời đó) từng bị áp bức, sỉ nhục, khinh rẻ đã được hoàn toàn giải phóng. (Bằng niềm tin trong sáng đến ngây thơ,) nhân dân và các văn nghệ sĩ được khích lệ bởi cuộc sống mới, con người mới trong Tổ quốc vừa được tái sinh. Ðại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất họp vào đêm trước ngày tuyên bố độc lập thật sự là cuộc “Hội sư vĩ đại” giữa những văn nghệ sĩ vùng giải phóng và đội ngũ những nhà văn, nhà nghệ sĩ thuộc vùng Tưởng Giới Thạch thống trị. Từ vài chục văn nghệ sĩ ở Diên An, con số của Hội liên hiệp văn học nghệ thuật đã lên hơn một ngàn người. Các văn nghệ sĩ nổi tiếng hoạt động ở vùng Tưởng Giới Thạch và ở Hồng Kông như Quách Mạt Nhược, Mao Thuẫn, Lão Xá, Ba Kim, Tào Ngu, Diệp Thánh Ðào… đã trở thành nòng cốt của “đội quân văn nghệ mới”.
Trong không khí tưng bừng của “ngày hội đổi đời” toàn dân tộc, suốt 10 năm liền họ đã cống hiến những tác phẩm xuất sắc. Một bản thống kê làm nức lòng người: Từ 401 nhà văn (1949) lên tới 3136 nhà văn (1959); năm 1954 có 6 phân hội, đến 1959 có 23 phân hội; năm 1949 có 18 tờ văn nghệ và tạp chí, đến 1959 có 86 tờ; số lượng phát hành tác phẩm năm 1950 là 2.147.700 bản, đến năm 1958 là 39.764.094 bản; lượng đầu sách 1950 là 156, đến năm 1959 là 2.600… Trong số các ấn phẩm thời ấy, có rất nhiều bộ truyện, vở kịch, tập thơ đã được dịch ra tiếng Việt. Viết về chiến tranh giải phóng có Ánh lửa đằng trước của Lưu Bạch Vũ, Thành đồng vách sắt của Liễu Thanh. Viết về đấu tranh cách mạng có Ðá đỏ của Dương Ích Ngôn, Ngõ ba nhà của Âu Dương Sơn, Rừng thẳm tuyết dày của Khúc Ba. Viết về cuộc sống mới ở nông thôn có Tam Lý Loan của Triệu Thụ Lý, Bản làng đổi mới của Chu Lập Ba, Sáng nghiệp sư của Liễu Thanh. Viết về lý tưởng, tình yêu của giới trí thức có Bài ca tuổi trẻ của Dương Mạt, Thượng Hải ban mai của Chu Nhi Phục… Tôi chỉ kể ra những cuốn còn lưu giữ trong tủ sách gia đình bằng tiếng Việt hay tiếng Trung mà thôi. Còn nhiều tác phẩm, tác giả khác được người Trung Quốc, Việt Nam hâm mộ, mà tôi không được biết! Nói cho công bằng, những tác phẩm ấy, ở góc độ nào đó, đã là một bước lùi về nghệ thuật so với tác phẩm của chính tác giả viết ra trong giai đọan lịch sử trước đó. Nó chấp nhận hình như là tự nguyện những giáo điều trong bài nói chuyện về văn học của Mao Trạch Ðông ở hội nghị Diên An. Xa hơn nữa, nó chịu ảnh hưởng của lý thuyết hiện thực xã hội chủ nghĩa sơ lược và khô cứng mà Zdanov khởi xướng trong Ðại hội các nhà văn Xô viết ở Matxcova năm 1931. Tuy nhiên, tác phẩm vẫn có sức rung động người đọc bởi người viết cũng thật lòng rung động, bởi họ đặt cược cả đời văn, sự nghiệp sáng tác cho chế độ mới dưới sự lãnh đạo của Mao. Ðiều này cũng đã từng xảy ra với nhiều nhà văn ở Ðông Âu, Liên Xô, Việt Nam vào lúc đang buổi bình minh của chế độ mới, khi họ còn ngỡ rằng nó chứa đựng nhiều sự hứa hẹn cho cả dân tộc.
Thực ra tôi lấy mốc 10 năm (1949 – 1959) là nhìn nhận một cách tổng thể ở góc nhìn lịch sử. Từ năm 1957, những nhà văn, nghệ sĩ ưu tú của Trung Quốc đã bắt đầu có những suy nghĩ trăn trở. Sứ mệnh của văn nghệ là soi rọi quá khứ, mổ xẻ hiện tại và dự báo tương lai cho dân tộc mình và cho nhân loại. Ở thời điểm này, một số nhà văn đã nhìn thấy những nghịch lý của mô hình xã hội theo chủ nghĩa bình quân tuyệt đối. Vốn nhạy cảm với thời cuộc và có truyền thống châm biếm, trong văn học Trung Quốc đã xuất hiện những bài tạp văn kiểu “Yên Sơn dạ thoại” của Ðặng Thác hay những vở kịch mượn xưa nói nay như vở Hải Thụy bãi quan của Ngô Hàm. Hiện tượng này xuất hiện càng nhiều vào những năm 1960 -1965 như vở Tạ Giao Hoàn của Ngô Hàm hay vở Lý Tuệ Nương của Mạch Siêu… Trước hiện trạng đó, một số nhà chính trị ưu tú muốn xem xét lại hệ quả đáng buồn của mô hình xã hội quan liêu, độc đoán, trì trệ. Nhưng có những thế lực khuynh tả chính trị lại la lối về nguy cơ “Câu lạc bộ Pê-tơ-fi” trong văn học Trung Quốc. Họ phát động giới văn nghệ sĩ sáng tác theo phương châm “Tam phương” và phương pháp “Hai kết hợp”. Thực chất đó là sự ép buộc văn nghệ sĩ sáng tác theo kiểu một chiều, nông cạn, sơ lược, trái ngược với các nguyên lý mỹ học hiện đại. Họ còn dùng các thủ đoạn “dụ hổ ra khỏi hang” bằng việc kêu gọi “Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng” để làm “viên gạch gõ cửa” trong lòng các văn nghệ sĩ ưu tú, dám nói thẳng sự thật, dám bộc lộ khát vọng đời sống tốt hơn của nhân dân. Họ còn tiến hành các thủ đoạn “ném đá”, “trộn cát”, chuẩn bị “đào sập móng tường” lâu đài văn hóa nghệ thuật mà những văn nghệ sĩ ưu tú 10 năm xây đắp trong xã hội mới. Kể ra các nhà chính trị khuynh tả Trung Quốc thời ấy biết dùng các tổ từ, các khái niệm rất văn nghệ như đã nêu! (Và cũng rất thâm độc, đểu cáng nữa.)
Ðiều bất hạnh của dân tộc Trung Hoa và các văn nghệ sĩ Trung Quốc là cuộc “Ðại cách mạng văn hóa vô sản” thực chất là cao trào thanh toán, tiêu diệt, nhằm vào những người cách mạng chân chính do phái cực đoan khuynh tả phát động. Bi kịch ở chỗ ngòi nổ của nó lại bắt đầu từ các chiến dịch phê phán những tác phẩm văn nghệ ưu tú. Mở đầu là việc phê các tác phẩm Yên Sơn dạ thoại, Hải Thụy bãi quan, Lý Tuệ Nương… sau đó đến các tác phẩm trước năm 1949 như Nửa đêm của Mao Thuẫn, Gia đình của Ba Kim và cả những bài thơ, truyện ngắn tuyệt vời của cụ Quách Mạt Nhược. Xa hơn nữa, họ phê các kiệt tác của Trung Quốc trong lịch sử như Hồng lâu mộng, Liêu trai chí dị… Trong bối cảnh ấy, đương nhiên các văn nghệ sĩ ưu tú bị đàn áp, tù đày hay bức hại là điều không thể tránh khỏi. Lịch sử sẽ ghi nhớ những năm 1966-1976 có hàng nghìn văn nghệ sĩ Trung Quốc bị đấu tố, xử tử hay đánh đập đến chết hoặc bị giam cầm. Có thể kể ra những tên tuổi đáng kính như: Ngô Hàm, Ðặng Thác, Liêu Mạt Sa, Hạ Diễn, Ðinh Linh, Triệu Thụ Lý, Khang Trạc, Lão Xá, Ba Kim, Hạ Diễn, Thiệu Quyền Lân… (Lịch sử cũng ghi nhớ 10 năm cách mạng văn hóa, văn học nghệ thuật Trung Quốc đã đi đến tột cùng của suy đồi, trượt dốc dài theo vết xe đổ của bạo chúa Tần Thủy Hoàng.) Người ta phủ sạch trơn cả bề dày lịch sử vĩ đại của nền văn hóa văn nghệ Trung Quốc trong suốt tiến trình lịch sử. Ðến cả vong linh Khuất Nguyên, Lý Bạch cũng bị bôi nhọ.
Văn nghệ Trung Quốc 10 năm cách mạng văn hóa nhung nhúc những tên bồi bút phi nhân cách, phản nghệ thuật. Trên văn đàn chỉ thấy hai loại: Một là những tác phẩm nông cạn, sơ lược như Bài ca Âu Dương Hải, Nhật ký Lôi Phong hay vở kinh kịch Ðèn đỏ. Hai là những tác phẩm sặc mùi thuốc súng. Nhà mỹ học Thiệu Quyền Lân đã phải thốt lên: “Tại sao văn học chúng ta sặc mùi thuốc súng, toàn những con người bê tông cốt sắt? Tại sao trong văn học nghệ thuật không xuất hiện những Tề Bạch Thạch? Tại sao tiểu thuyết kiểu ngụ ngôn, thần thoại, khoa học viễn tưởng lại rất ít? Tại sao tình yêu con người với con người lại xem như cấm kỵ?” Một điều đáng ghê sợ là họ còn bôi nhọ những kiệt tác và danh nhân văn hóa văn nghệ của thế giới. Nhân dân nhật báo ngày 3/6/1968 có đoạn viết: “Chúng ta đã xây dựng được một đội ngũ phê bình văn hóa văn nghệ dám giương cao khẩu súng nhả đạn vào những đại nhân được bốc lên tận mây xanh của văn nghệ xét lại Liên Xô: Solokhov, Simonov, Ehrenburg…” Họ không buông tha cả truyền thống văn học nhân đạo và dân chủ châu Âu. Họ kết tội Boccaccio và Shakespeare là kẻ tuyên truyền tư tưởng giải phóng cá nhân và tự do cá nhân, Byron và Roland chỉ là người hâm mộ sự phản kháng cá nhân tư sản, Hugo và B. Shaw chỉ là bọn cải lương (báo Văn nghệ số 9/1964, bài của Triệu Ly). Vì bọn bồi bút đội lốt nghiên cứu lý luận, phê bình văn học này mà bao người bị bức hại, đấu tố, phải đi lao động khổ sai.
Cuộc bắt giam khẩn cấp “bè lũ 4 tên” đêm 6/11/1976 đã chấm dứt bi kịch cách mạng văn hóa trong sự mừng vui đến ngỡ ngàng, tưởng như chết đi sống lại của văn nghệ sĩ Trung Quốc. Nhưng phải ba năm sau họ mới bắt đầu cuộc phục hưng văn hóa văn nghệ bằng Ðại hội văn nghệ toàn Trung Quốc lần thứ IV ngày 30/10/1979. Báo cáo chính trị trước Ðại hội của nhà phê bình mỹ học Chu Dương với tiêu đề “Kế thừa quá khứ, mở cửa tương lai, xây dựng nền văn nghệ XHCN phồn vinh trong thời đại mới” có thể được coi là một tuyên ngôn cho cuộc phục hưng. Ông kết án gay gắt cách mạng văn hóa vô sản Trung Quốc và gọi nó là “nền chuyên chính phát xít theo kiểu phong kiến man rợ”. Chu Dương lên tiếng đòi xét lại hàng loạt vấn đề. Ông nói: “Vấn đề viết sự thực, vấn đề con đường của chủ nghĩa hiện thực, viết về nhân vật anh hùng và con người trung gian v.v… vốn đều là những vấn đề học thuật hoàn toàn có thể tự do thảo luận. Nếu coi nó là tư tưởng văn nghệ tư sản xét lại rồi hàm hồ phản đối nó là không đúng. Việc phê phán hội nghị Ðại Liên năm 1962 và thuyết “con người trung gian” của Triệu Thụ Lý là không phù hợp thực tế, là thóa mạ những nguyên lý mỹ học. Sự thực là sinh mệnh của nghệ thuật, xa rời sự thực thì xin đừng nói đến tính tư tưởng, tính nghệ thuật của tác phẩm”. Chu Dương kêu gọi giải phóng tư tưởng cho văn nghệ sĩ và bản thân các văn nghệ sĩ phải tự giải phóng mình. Ông còn nói: “Có mặt sáng sủa thì có mặt đen tối, có ca tụng thì cũng có phê phán vạch trần. Chúng ta chủ trương khuyến khích mọi hình thức cổ – kim, trung – ngoại, trên trời dưới đất, trước sau hàng nghìn năm, dọc ngang hàng vạn dặm đều cần thu vào tầm mắt và sự chú ý của nhà nghệ thuật, đều có thể thành đối tượng của nghệ thuật”.
Mở đầu cuộc phục hưng là sự đấu tranh đòi trả lại nhân phẩm và tác phẩm cho những nhà văn, nhà thơ ưu tú của dân tộc. Trên các diễn đàn văn học nghệ thuật, người ta thấy lại những gương mặt nhân dân một thời yêu quý: Tiểu Quân, Hồ Phong, Du Ðình Bá, Ðinh Linh, Ngãi Thanh, Lưu Thiệu Ðường, Chu Dương, Hạ Diễn… Họ tổ chức truy điệu các nhà văn bị bức hại như Triệu Thụ Lý, Lão Xá, Ngô Hàm. Họ in lại Hải Thụy bãi quan, Yên Sơn dạ thoại, Tạ Giao Hoàn, Lý Tuệ Nương… Họ tổ chức quốc tang cho Quách Mạt Nhược (1979) và Mao Thuẫn (1981). Họ tái bản với số lượng lớn kiệt tác Gia đình của Ba Kim. Họ đi đón Ðinh Linh bị bắt đi lao động suốt 20 năm trở về Bắc Kinh. Rồi lần lượt các tuyển tập thơ của các thi sĩ Ðiền Gian, Lý Quý, Hạ Kính Chi, Hà Kỳ Phương… được tái bản. Không khí văn nghệ mở đầu cuộc phục hưng thật tưng bừng, xúc động, khiến tôi lúc này ngồi viết còn thấy cay rát bờ mi… (Người Trung Quốc họ làm được bao việc lớn lao, tình nghĩa cho những bạn văn đau khổ và bất hạnh của mình, sao ở Việt Nam ta không làm được điều cần thiết, hợp đạo lý ấy? Hai khóa Ban chấp hành gần đây vô tình hay thiếu dũng khí? Có dư luận cho rằng nhà văn Việt Nam chỉ giỏi cúng giỗ người đã chết, nhưng ngay cả người bị oan sai, vùi dập, khi chết cũng chỉ được xoa dịu bằng đôi lời biểu dương chung chung!)
Các sáng tác văn nghệ của thời kỳ Phục hưng từ 1979 – 1990 có thể chia ra hai dòng chính:
Dòng văn học bộc lộ, văn học vết thương, với chủ đề là cuộc sống đầy máu và nước mắt trong cách mạng văn hóa, với phong cách biểu hiện mới mẻ, đã làm chấn động dư luận một thời. Ðáng chú ý có tập thơ Thiên An Môn thi san vốn là tập thơ chép tay của những người biểu tình trước Thiên An Môn năm 1976. Ðó là tiếng kêu ai oán, là khúc hát bi phẫn của cả một dân tộc bị đọa đày, lăng nhục bởi “bè lũ bốn tên”, suốt 10 năm cách mạng văn hóa. Tập thơ một thời bị cấm nhưng người ta truyền tay nhau chép và đọc, sau đó được xuất bản chính thức năm 1980. Ngoài ra còn có vở kịch nói Trong chốn im lặng, vốn lấy từ câu thơ của Lỗ Tấn (1934): “Trong chốn im lặng nghe sấm dậy”, của Tống Phúc Hiền ở Thượng Hải. Vở kịch tập trung vào mâu thuẫn giữa hai gia đình có nhiều quan hệ ràng rịt vào thời điểm gay cấn từ chiều tối đến nửa đêm, kết thúc bằng sự chiến thắng của cái thiện trước cái ác, cái giả trá. Vở kịch được quần chúng Thượng Hải say sưa tán thưởng và nhanh chóng lan đi Bắc Kinh, Vũ Hán, Quảng Châu rồi khắp 21 tỉnh thành miền Ðông và Nam Trung Quốc. Có thể nói, dòng văn học này như măng mọc mùa xuân, phong phú về thể loại, đa dạng về phong cách biểu hiện và rất lớn về số lượng tác phẩm. Ðặc biệt thể loại truyện vừa và ngắn rất nhiều, những truyện được công chúng ưa thích là: “Chủ nhiệm lớp”, “Sứ mệnh thiêng liêng”, “Cửa sổ”, “Quân trưởng của chúng tôi”, “Vết thương”, “Kiều xưởng trưởng nhậm chức”, “Hoa ngọc lan đỏ dưới tường”, “Con đường nhỏ trên thảo nguyên”, “Giữa người và yêu quái”…
Dòng văn học thứ hai, văn học bứt phá mở đường, hướng vào những thay đổi của đất nước và con người sau năm 1979. Ở đây thấy xuất hiện ngày càng nhiều các nhà văn, nhà thơ trẻ, và họ đã gặt hái những thành công đáng khích lệ. Nhiều kịch bản và truyện ngắn được dựng thành phim đã nhanh chóng nhận được sự mến mộ của cả tỷ người dân Trung Quốc. Ðó là tác phẩm của các tác giả mới nổi lên sau cách mạng văn hóa: Tiểu Hoa, Lớp nhóc (Tiểu Tự Bối), Hãy trông gia đình ấy, Hai nàng và hai chàng (Nguyệt Lương Loan), Sự nghiệp ngọt ngào, Tiếng cười trên vịnh sáng trăng (Ðích Tiểu Thanh). Ðặc biệt là vở kịch Bên bờ kia được diễn đi diễn lại nhiều lần suốt nhiều năm và đã được dựng thành phim giới thiệu ra nước ngoài, rất được hoan nghênh… Trong dòng văn học thứ hai, bên cạnh niềm hân hoan ngợi ca sự thay đổi kỳ diệu của đất nước, con người vẫn luôn gợn lên những trăn trở suy tư. Những mặt trái của kinh tế thị trường, sự kém cỏi trong quản lý kinh tế từ cấp vi mô đến vĩ mô, sự băng hoại đạo đức trong lớp trẻ, đánh mất bản ngã trong lớp trung niên và lớp già… được phơi bày lên án ngày càng nhiều trong truyện ngắn và kịch, điện ảnh. Ðôi khi sự trả giá, lừa đảo lại rơi vào những con người vốn dễ dãi hiền lành, trung thực, bởi chính cái môi trường xã hội đã xô đẩy anh ta. Ðiều này thể hiện rất rõ trong vở kịch Giả sử tôi là thực của Sa Nguyệt Tân. Có lẽ trong giai đoạn đầu của cuộc phục hưng, kịch sân khấu gặt hái được nhiều thành công bởi tư tưởng người viết đến được nhanh và trực tiếp với công chúng, sức chấn động xã hội nhờ thế cũng mạnh mẽ. Nhiều vở kịch đã khơi nguồn cảm hứng cho dòng văn học hiện sinh phát triển ồ ạt vào đầu những năm 90. (Rất tiếc rằng ở Việt Nam, một loạt vở kịch của Lưu Quang Vũ những năm 80 lại không góp phần hình thành dòng văn học như vậy.)
Vở kịch Mối tình cay đắng của Bạch Hoa và Bành Ninh là tác phẩm được đông đảo công chúng hâm mộ. Khi dựng thành phim, nó được công chúng các châu lục đón nhận với niềm xúc động thiêng liêng và sự khâm phục như một “hiện tượng của văn nghệ thế kỷ”. Nhân vật chính là Lăng Thẩm Quang, một họa sĩ có tài, vì yêu nước mà bị Quốc dân đảng truy bắt, phải xa lìa Tổ quốc. Ông sang Mỹ và trở thành họa sĩ nổi tiếng, có phòng tranh riêng và rất giàu có. Sau năm 1949, ông đem cả gia quyến về nước, những mong đem hết tài năng, tâm huyết gây dựng nền văn nghệ cách mạng và được nhân dân yêu thích, mến mộ. Nhưng rồi hết “Tam phản”, lại “Ngũ phản”, rồi “Trăm hoa” làm ông ngơ ngác. Ðến Cách mạng văn hóa thì ông bị chụp cái mũ giấy “Hắc bang”. Dù bị đọa đầy trăm cay ngàn đắng nhưng ông vẫn dứt khoát cự tuyệt con gái và nhà thơ nữ Tạ Thu Sơn, người ông yêu say đắm, khi họ rủ ông trốn ra nước ngoài. Ông yêu đất nước, thiên nhiên và con người Trung Quốc, ông tin ở ngày mai tươi sáng của dân tộc Trung Hoa, ông ghê sợ cảnh tha hương nơi xứ người cho dù có đô la và các tiện nghi hiện đại. Kết thúc vở kịch là cái chết bi thảm của ông trong đêm bão tuyết. Ông vạch một dấu hỏi lớn trên tuyết trắng và cái chấm đen dưới dấu hỏi chính là thi hài co quắp của ông…
Hình như giống các cô gái sống trong gia đình cổ hủ bị cấm đoán, giám sát nghiêm ngặt, khi được tháo cũi xổ lồng thì yêu đương say đắm, cuồng si đến mê muội, văn học Trung Quốc những năm đổi mới rộ lên một thời đầy rẫy cỏ dại, rượu đào cùng thuốc độc. Có rất nhiều tác phẩm viết về tình yêu, như Lục Tôn Vỹ nhận xét, “Vầng sáng tình yêu đang lấp lánh trên văn đàn đại lục.” (tạp chí Studies on Chinese Communism – October 1982). Thật ra nhận xét này hơi thái quá. Không thể coi các tiểu thuyết ái tình như một khuynh hướng tiêu biểu cho văn học đổi mới của Trung Quốc. Trong những tác phẩm loại này, tôi thật sự thích thú một số như Tình Hồng hồ, Bắt tay lần thứ hai, Bức thư tình công khai và đặc biệt là vở kịch Khi lá phong rụng. Vở kịch này đã dựng thành phim, kể chuyện một thanh niên và một cô gái thuộc hai nhóm Hồng vệ binh đối lập. Họ yêu say đắm và chết bi thảm bên nhau như Romeo và Juliet. Sự trùng hợp ấy không làm tầm thường vở kịch mà ngược lại, nó được các nghệ sĩ nâng lên tầm hiện đại và bất tử, tạo nên những rung động thẩm mỹ sâu sắc. Ðáng tiếc, số tác phẩm loại này chưa nhiều. Trên các quầy sách là những cuốn sách nhạt nhẽo, rẻ tiền và lố bịch, chạy theo thị hiếu thác loạn, bệnh hoạn của một số ít độc giả vô học vừa mới phất lên như Tình Lô Sơn, Tình Thanh Sơn, Tình Hải Chi, Tình Ngân Hà, Cái góc ái tình bị lãng quên, Tình yêu ơi! Mi tên gì?, Cánh nhạn và bông hồng trong đêm…
Tôi muốn viết nhiều, nhiều nữa, về cuộc phục hưng văn hóa văn nghệ Trung Quốc, nhưng tôi nghĩ có viết mấy cũng không đủ. Tôi tin ở truyền thống và tài năng các văn nghệ sĩ Trung Quốc những năm đổi mới và phát triển. Tôi hiểu, trải qua những đau đớn mất mát khủng khiếp của một mô hình xã hội man rợ suốt 10 năm Cách mạng văn hóa, họ sẽ duy trì và phát triển cuộc phục hưng này sang thế kỷ 21 đầy biến động. Chúng ta chào mừng những gương mặt mới của văn đàn, thi đàn Trung Quốc xuất hiện ngày một nhiều như nấm sau cơn mưa. Chúng ta đón chờ những tác phẩm tương xứng với tầm vóc vĩ đại của nền văn hóa Trung Hoa, với bề dày truyền thống của họ.
Hà Nội, 1992-1996