Mikhail Piotrovsky
Thời gian gần đây giới văn hóa bị xâu xé bởi nhiều vụ scandale. Khi thì người Đức đòi lấy lại các bức tranh đã bị đưa ra khỏi nước Đức vào cuối Thế chiến II, khi thì giữa thanh thiên bạch nhật các kho báu của bảo tàng quốc gia Iraq ở Baghdad bị cướp bóc… Ai là chủ nhân thực sự của các giá trị văn hóa – những nước chúng bị lấy đi, hay những nước hiện sở hữu chúng. Mikhail Piotrovsky, Giám đốc bảo tàng quốc gia Ermitage (Nga), trò chuyện với phóng viên báo “Argumenty i Facty” về vấn đề này.
Hiện nay khó khăn lớn nhất của các bảo tàng là tiền bạc. Nhưng tuyệt nhiên không phải là thiếu tiền như người ta hay nghĩ. Vấn đề ở chỗ khác. Đáng tiếc là mọi người đã thôi suy nghĩ về bản thân nghệ thuật, mà chỉ nghĩ về chuyện nghệ thuật giá bao nhiêu. Các bức tranh, pho tượng đều bị biến thành tư bản.
Hãy thử nhớ lại vụ bê bối mới đây về bộ sưu tập tranh Bremen được đưa về Liên Xô như là chiến lợi phẩm. Báo chí Nga lập tức làm ầm lên về cái giá hàng triệu đô la của bộ sưu tập này. Còn tôi thì nhớ lại cuộc trưng bày đầu tiên các bức tranh Bremen. Hôm khai mạc có rất đông người đến dự, cả các nhà chính trị lẫn các nhà báo, nhưng sang ngày hôm sau thì phòng tranh vắng tanh, bởi vì đối với những người văn hóa bình thường thì những bức tranh đó chỉ khiến họ ngáp ngắn ngáp dài mà thôi. Chúng chỉ có giá trị đối với các chuyên gia đang tìm hiểu kỹ thuật vẽ tranh của Dürer chẳng hạn. Ở bất kỳ bảo tàng nào thì những phác thảo như vậy, thậm chí có là của những bậc thầy đại tài đi nữa, cũng chỉ mấy năm mới lấy ra khỏi kho và trưng bày một lần, và thực tế là không thu hút được công chúng. Vậy thì sao không trả lại bộ sưu tập Bremen cho những người chủ cũ của nó, nhất là khi nó lại rơi vào tay chúng ta một cách không được hợp pháp cho lắm?
Trả lại hay không trả lại?
Nhưng có nên lấy tất cả các tác phẩm nghệ thuật ra khỏi các bảo tàng và trả về nguyên quán của chúng không? Bởi ai cũng biết là bảo tàng Louvre, bảo tàng Anh quốc chứa đầy những hiện vật do các nhà thực dân chuyên chở từ các nước bị xâm chiếm về. Có thật sự cần phải trả những hiện vật Ai Cập trong các bảo tàng thế giới về Ai Cập, các hiện vật Hy Lạp – về Hy Lạp không?
Anh biết đấy, người Hy Lạp, mặc dù tôi rất kính trọng họ, chỉ biết yêu nền văn hóa của mình sau khi nó được những người ở các nước phát triển châu Âu phát hiện ra và yêu mến. Điều này cũng đúng với di tích của các nền văn minh cổ xưa khác. Hứng thú với chúng chỉ nảy sinh sau khi các kiệt tác đó đã được các nhà khảo cổ châu Âu tìm thấy rồi đem ra trưng bày trong các bảo tàng tổng hợp – Ermitage, Louvre, v.v. Những nền văn hóa dân tộc riêng rẽ trở thành một bộ phận của nền văn hóa thế giới là vì chúng đã được tập trung lại từ những mảnh riêng rẽ ở các nước khác nhau.
Ta thử hình dung xem nếu tranh của các họa sĩ Pháp chỉ có ở Pháp, của các họa sĩ Hà Lan – chỉ ở Hà Lan thì sẽ ra sao. Nghệ thuật của các nước này sở dĩ phổ biến khắp thế giới, được đánh giá cao là vì tranh của các bậc thầy Pháp và Hà Lan đều có thể xem được trong bất kỳ bảo tàng lớn nào trên thế giới. Đến lượt mình nghệ thuật lại quảng cáo cho đất nước gốc của nó. Chẳng hạn khi vào Ermitage xem tranh của các họa sĩ ấn tượng Pháp, người xem bất giác muốn đến thăm đất nước và thành phố nơi những bức tranh đó được vẽ ra, và thế là du lịch sẽ được phát triển.
Ở các bảo tàng lớn châu Âu và Mỹ thấy rất ít có tranh của các họa sĩ Nga treo ở đấy. Họa chăng chỉ có Malevich hay Kandinsky. Theo ông, nghệ thuật tạo hình Nga trên thế giới được biết đến mức nào?
Tài sản chính của chúng ta không phải là tranh, mà là tượng thánh (icone). Đây là loại hình mĩ thuật thực sự độc nhất. Nhưng các quy định quá nghiêm ngặt về xuất khẩu đã khiến cho không ở đâu trên thế giới có được những bộ sưu tập hội họa Nga có chất lượng và nghệ thuật Nga ở nước ngoài được biết rất sơ sài.
Có chăng những nguyên tắc chặt chẽ quy định những tác phẩm nghệ thuật nào thì bảo tàng phải trả về quê hương của chúng, còn những tác phẩm nào thì không?
Có một quy ước về ranh giới thời gian không được vượt qua: đó là Thế chiến hai. Tất cả những gì các bảo tàng có trước khi nổ ra cuộc chiến mặc nhiên được coi là sở hữu thiết cốt của chúng và không thuộc về người ngoài, nếu không thế giới nghệ thuật sẽ rối tung lên cả.
Quyền sở hữu các vật thể nghệ thuật bằng cách này hay cách khác mà bảo tàng có được trong hay sau Thế chiến hai được quy định chặt chẽ bằng luật pháp quốc tế. Đã có không ít trường hợp chẳng hạn như bảo tàng Metropolitan (Mỹ) trả lại những tác phẩm nghệ thuật được đưa bất hợp pháp vào Mỹ.
Những người thừa kế vô tài sản
Có thể Metropolitan đã trả lại của ăn cắp, nhưng còn những hiện vật trong Bảo tàng quốc gia ở Baghdad (Iraq) bị chính những người dân Iraq lấy cắp thì có lẽ đã được chở về Mỹ sung vào các bộ sưu tập cá nhân và chúng không phải một sớm một chiều quay lại được quê gốc. Nhưng biết đâu ở đây lại chẳng chứa đựng một sự công bằng lịch sử nào đấy? Những người Iraq hiện nay có quan hệ thế nào với các dân tộc cổ xưa trên vùng lãnh thổ hiện họ đang sống?
Chắc anh cũng biết, người Iraq luôn luôn ghi nhớ họ là người thừa kế của quốc vương Assyri Navukhodonosor, còn người Ai Cập coi mình là con cháu của các Pharaon.
Tất nhiên, tiếng Arab không giống tiếng của dân Shumer, còn văn hóa Hồi giáo khác với các văn hóa dị giáo cổ xưa. Nhưng có một nguyên lý kế thừa liên tục giữa các nền văn hóa cổ xưa và hiện đại, và tôi đồng ý với điều đó. Chỉ cần đặt người Iraq hiện nay bên cạnh bức phù điêu Assyri cổ là đủ hiểu những người này cùng chung một dòng máu. Nhưng đồng thời không ai được độc quyền về di sản riêng của mình. Mỗi di sản đều thuộc về toàn nhân loại.
Nhưng nếu nói về Ai Cập thời các Pharaon hay Iraq thời người Assyri thì đấy là những nền văn minh cổ xưa đã tồn tại khi mà người Âu còn leo trèo trên cây. Còn văn hóa hiện nay của các dân tộc Arab thì ít ai biết đến ngoài lãnh thổ riêng của họ.
Các nền văn hóa khác nhau có ý nghĩa thế giới vào những thời khác nhau. Thế kỷ VIII-XII ai mà có thể nói về vực thẳm giữa văn hóa châu Âu và văn hóa hồi giáo Arab. Chỉ có theo nghĩa ngược lại. Châu Âu đúc những đồng tiền có chữ cái Arab vì tiền Arab là thứ ngoại tệ mạnh nhất thế giới hồi đó, sao chép lại trên đồ gốm của mình những hoa văn Arab vì coi chúng là đẹp nhất, còn những đường thêu Arab trên vải vóc thì lan khắp châu Âu như bây giờ mác “Levi Straus” trên quần bò.
Thời cận đại văn hóa châu Âu có điều kiện phổ biến vì sự phồn thịnh của nó trùng với thời đại chủ nghĩa đế quốc, khi các nước châu Âu đi xâm chiếm thuộc địa và gieo cấy vào đấy nền văn minh của mình. Cũng như nhìn từ quan điểm phát triển công nghệ thì văn hóa châu Âu cũng dễ phổ biến, lưu truyền. Ngành xuất bản, việc sản xuất ra máy hát, máy ghi âm bắt đầu phát triển là ở châu Âu và Mỹ, và lan truyền cùng với những phát minh kỹ thuật là các thành tựu văn hóa của nền văn minh châu Âu.
Stalin đúng chăng?
Nhiều người cho rằng thực sự có một nền văn minh Mỹ, nhưng trong đó ít văn hóa. Theo ông, có khái niệm văn hóa Mỹ không? Không phải là loại văn hóa đại chúng như phim Hollywood, nhạc pop, rock và các thứ phẩm âm nhạc khác, mà là một nền văn hóa thực thụ, sánh được với văn hóa cổ điển châu Âu?
Tôi nghĩ là có. Người Mỹ một thời gian dài đã cố chạy theo châu Âu và xây cho mình những ngôi đền giả cổ, tạc những bức tượng giả cổ. Nhưng bản thân họ thì không muốn nhìn cái đống vớ vẩn đó, hễ giàu lên một chút là họ đi sang Hy Lạp để được tận mắt chiêm ngưỡng đền Pantheon thực sự. Biết sao được, vì Mỹ đâu có các di tích kiến trúc cổ xưa! Thế nhưng họ có một nền văn học xuất sắc, một nền hội họa đáng chú ý. Điểm khác của Mỹ so với Nga là ở chỗ chúng ta nhập khẩu tư tưởng, còn Mỹ nhập khẩu con người. Và những con người đó vừa giữ nguyên bản chất gốc Âu, Á, Phi của mình, vừa hòa trộn với các sắc dân di cư khác đôi khi đã làm nên những hiện tượng văn hóa chấn động. Kết hợp nhịp điệu da đen với các nhạc cụ châu Âu đã cho ra đời nhạc jazz, đó là một thí dụ. Cố nhiên người Mỹ khiến nhiều người khác bực tức vì tham vọng bá chủ thế giới của họ, kể cả trong lĩnh vực văn hóa, nhưng ngay cả ở đây cũng đành vậy chứ sao. Phải chấp nhận họ là vậy thôi…
… Hoặc không chấp nhận. Ông thấy có sự tương đồng nào trong sự phát triển văn hóa của Nga và Mỹ?
Nga và Mỹ là hai cái chảo lớn hỗn hợp người của các sắc tộc khác nhau. Nhưng ở Mỹ dân di cư đánh mất dân tộc tính của mình và trở thành người Mỹ. Con đường phát triển của văn hóa Mỹ chỉ diễn ra bằng tiếng Anh. Nước Nga trước cách mạng tháng Mười cũng đi theo con đường đó, toàn bộ văn hóa của nó phát triển dựa trên tiếng Nga. Nhưng những người bonsevich đã chia đế quốc Nga ra thành 16 mảnh lớn và nhiều mảnh nhỏ. Khi duy trì mỗi sắc tộc và tạo ra – thường là từ số không – “nền văn hóa sắc tộc độc đáo” bằng cách đặt ra bảng chữ cái và soạn sách giáo khoa bằng các thứ tiếng sắc tộc, những người bonsevich đã gieo rắc hạt giống phân rẽ đất nước bùng ra vào cuối thế kỷ trước. Và một đất nước thống nhất trước đây đã bị tan rã.
Nghĩa là Stalin đã đúng khi đề nghị để cho mỗi sắc tộc tự trị về văn hóa chứ không tạo ra các nước cộng hòa dân tộc?
Mỗi nhà chính trị chỉ đúng khi đưa đất nước đi theo con đường tự nhiên. Tất cả tư tưởng của chủ nghĩa xã hội về lý thuyết là đúng đắn, nhưng chúng lại chỉ vận hành khi gí súng vào mỗi người.
Kế hoạch giải quyết vấn đề dân tộc thời xô viết đã thất bại. Số phận nào đang chờ nước Mỹ?
Hiện giờ hệ thống Mỹ đang vận hành. Nhưng chúng ta thường quên là nước Mỹ đã phải khó khăn thế nào mới đạt được sự hòa hợp dân tộc. Bây giờ giữa người da trắng và người Mỹ gốc Phi đã có sự hòa hợp. Nhưng vào thập niên 60 và thậm chí thập niên 70 thì các tư tưởng hằn thù chủng tộc ở đấy còn rất thâm căn cố đế. Nhưng trong tương lai không xa Mỹ có thể sẽ vấp phải vấn đề người gốc Mỹ Latin. Hiện giờ tại một số bang người nói tiếng Tây Ban Nha đã đông hơn người nói tiếng Anh.
© 2003 talawas