trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
10.12.2002
Đào Tuấn
Nghe chuyện nhà thơ Lê Đạt
Người thiểu số, Ông bình vôi, Bóng chữ
 

Tôi tới thăm bác Lê Đạt. Bác kêu hồi này mệt, đến phở Nguyễn Tuân cũng chẳng buồn ăn nữa là viết. Tuy thế giọng nói và tiếng cười vẫn trẻ trung, hóm hỉnh. Sao bác cứ trẻ trung được mãi như thế? Có lẽ vì mình quên mất lối về già – bác trả lời và tất nhiên kèm theo một kiểu cười sảng khoái tự nhiên rất đặc trưng của Lê Đạt. Một người đã chịu bao bất công của cuộc đời do tài năng và nhân cách mà vẫn luôn thanh thản, không căm tức, không thù hận, vẫn luôn công bằng với những người một thời chẳng mấy công bằng với mình. Những tai nạn của đời người được bác xem nhẹ như không, thế là đạt tới vô vi của Lão Tử rồi. “Vô vi cái gì đâu, mình cố là người bình thường”, Lê Đạt tự nhận. Nghe ra thì chẳng bình thường chút nào. Câu chuyện với bác lúc nào cũng bắt đầu với những chuyện về Hà Nội. Rồi sẽ là đủ thứ chuyện, và mọi chuyện đều được lý giải đến ngọn nguồn bằng sự sắc sảo vốn cũng rất đặc trưng của Lê Đạt.

Tôi hỏi, phải sống sao để luôn được thanh thản? Bác nói, mỗi ngày nên dành lấy ít phút, đẩy ra khỏi đầu mình những suy nghĩ nhỏ nhen, những chuyện làm mình hèn kém đi. Sống cốt ở sự độ lượng, ở lòng khoan dung. Đừng đánh vào chỗ chết tươi của người ta. Chuyện ấy có dễ đâu, tha thứ là việc khó. Phải biết là mình cũng có thể sẽ mắc sai lầm thì mới tha thứ được. Tôi thích triết lí vị tha và hóm hỉnh ấy.

Xin ghi lại một phần cuộc trò chuyện với nhà thơ Lê Đạt. Thật ra là những câu trả lời cho những câu hỏi ngớ ngẩn của tôi. Ghi lại mà không sửa chữa gì, vì thế sẽ có nhiều chỗ lặp lại, lan man, từ chuyện nọ bất chợt nhảy sang chuyện kia và thiếu hẳn những lời như “thưa bác Lê Đạt”, “cảm ơn nhà thơ Lê Đạt”, “xin phép hỏi nhà thơ”…hay những câu thừa ra như “nó mà già hơn chút nữa thì hay”, …



Phải tập lại thói quen biết xấu hổ (chuỵên thứ nhất)

Ở Hà Nội, tới các ngã ba, ngã tư không phải đợi lâu có thể thấy nhiều người mắt trước mắt sau phóng xe vù một cái vượt qua đèn đỏ. Một hôm tôi hỏi một bạn sinh viên làm thế có thấy xấu hổ không, có ngượng không. Câu trả lời là không, vì quen rồi. Đem chuyện kể với bác Lê Đạt, bác giải thích: Một việc anh thường làm sẽ thành thói quen và anh không thấy xấu hổ. Vấn đề là mình có tán thành cái thói quen không biết xấu hổ ấy hay không? Có những người đứng tè ra ngoài đường chẳng thấy xấu hổ gì cả. Đúng ra thì mỗi người nên có thói quen xấu hổ hơn là thói quen không biết xấu hổ.

Xấu hổ hay không cũng chỉ là chuyện vặt, như bao chuyện to đùng đùng ở xứ mình cũng được xem là chuyện vặt hết, nó có hại gì đâu? Bác Lê Đạt không cười: Thói quen không biết xấu hổ rất có hại. Ví dụ như thói quen ở Việt Nam mà ai cũng làm cả, mà có ai thấy xấu hổ đâu, đó là phong bì. Việc gì cũng phải phong bì, xin cái gì cũng phải phong bì. Người ta thấy cái đó là đương nhiên, đến cái độ nó thành một tập tục, một thứ văn hoá. Mình mà không phong bì thì thiên hạ cho mình là lập dị, khiếm nhã, “văn hoá thấp”.

Chuyện tưởng chừng nhỏ nhặt ấy lại thành to tát mất rồi. Thế xin hỏi bác, thói quen ấy có từ bao giờ, dân tộc mình ngàn năm văn hiến chắc không để lại cho con cháu thói quen ấy? Cái đó khó, phải hỏi những nhà sử học mới có dữ liệu. Nó phát triển vào lúc nào, sự lên xuống như thế nào thì cái đó phải nghiên cứu nghiêm cẩn. Nhưng có điều chắc chắn là sự xấu hổ bao giờ cũng gắn với dân trí, sự phồn thịnh và văn minh của một nước. Người tiền sử ăn lông ở lỗ hẳn khả năng xấu hổ phải ít hơn người văn minh. Tôi không nói người bây giờ đâu nhé. Bác Lê Đạt không nói thì những người tỉnh táo đều biết trình độ dân trí của chúng ta còn rất thấp. Số người biết chữ thì nhiều mà số người có văn hoá lại ít. Hơn nữa làm gì có cơ chế nào để buộc người ta phải tử tế đâu. Đừng có kêu gọi sự tự giác của một người Việt, chúng ta làm gì có thói quen ấy. Tôi nhớ có lần bác Lê Đạt nói, một xã hội văn minh thì luật pháp sẽ cấm một số việc người dân không được làm. Còn văn hoá sẽ cho người dân biết việc nào thì nên làm, việc nào không nên làm. Thế bác có sợ một thói quen lâu ngày sẽ trở thành thành một tính cách của dân tộc Việt không? May mà chưa trở thành một tính cách của dân tộc. Từ trước dân tộc mình không phải là không biết, hay ít người biết xấu hổ. Nhưng trong một gian dài chúng ta đã quen với thói quen không còn biết xấu hổ nữa. Đó không thể là tính cách của bất cứ dân tộc nào. Xấu hổ là một phản xạ của lương tri trước một việc làm không đúng. Con người ta do thuyết phản xạ có điều kiện cho nên có thể quen với rất nhiều thứ, kể cả quen với việc không xấu hổ. Và thật không may khi chúng ta đã tự tạo ra đủ các lý do để quen với thói quen đó. Tôi coi thói quen biết xấu hổ là một phản xạ có điều kiện của trí tuệ và của một nền văn hiến. Trong truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam, tại sao ta không nhắc đến truyền thống biết xấu hổ.

Ai đó không biết xấu hổ vì họ tưởng việc làm của họ không ai biết. Tôi kể một chuyện đại thể thế này. Ngày xưa có một ông quan. Một người đến đút lót ông quan ấy vào buổi đêm. Xưa những việc khuất tất đều diễn ra vào ban đêm. Bây giờ người ta ngang nhiên làm việc đó ban ngày – Thật đáng buồn. Quan không nhận. Người ấy hỏi tại sao không nhận. Nếu nhận sẽ không ai biết cả, chỉ có tôi với quan biết. Quan nói: có anh biết, tôi biết, trời đất biết tại sao lại không có ai biết. Mình phải cảm thấy rằng có người biết, cho nên mình mới xấu hổ. Thái độ không xấu hổ vì mình cảm giác việc mình làm không ai biết. Chứ nếu bây giờ mình công khai cho tất cả mọi người, mọi việc mình làm đều có con mắt dõi theo thì chắc là chúng ta phải cảm thấy xấu hổ ngay. Chính cái xấu hổ ấy là cái xấu hổ rất công khai, rất đàng hoàng, rất minh bạch của con người có tư cách.

Nếu phân tích thế thì chuyện mất thói quen xấu hổ sẽ ảnh hưởng tới phát triển của xã hội, nhất là chúng ta đang trong thời kì mà không ai trả lời được hiện thực nằm ở đâu. Mọi thứ cứ khi mờ khi tỏ thế này. Rất ảnh hưởng, tức là, nó làm nhiều điều rất bậy (Ai là ở đây, bác Lê Đạt không giải thích mà tôi cũng không hỏi lại). Xấu hổ là sự phản xạ, trước một việc làm sai trái của mình, hoặc không đúng với hoài bão của mình, thì mình xấu hổ. Mình cao thượng mà làm một việc hèn kém, thì mình xấu hổ. Hoặc mình làm một việc gì trái với lương tâm thì mình xấu hổ. Đó là một văn hoá. Đừng nên coi thói quen không biết xấu hổ là tự nhiên. Nhưng mà người ta có thể bất chấp. Người ta quen dần đến độ tưởng rằng đó là một tính tự nhiên trời cho. Đó là cái nguy hiểm nhất. Mọi người không thấy xấu hổ, tại vì ai cũng làm như thế thì việc gì phải xấu hổ. Tôi gặp anh giữa đường, tôi cầm điếu thuốc lá của anh, tôi châm luôn vào điếu thuốc của tôi, chẳng cần phải hỏi gì cả, mọi người đều làm như thế việc chó gì tôi phải xấu hổ. Nếu người Việt Nam chúng ta không có thói quen ấy thì đất nước sẽ rất khác. Ví dụ như những người làm công quyền ở Việt Nam, nếu biết xấu hổ thì họ đã không để xảy ra những vụ Năm Cam. Các cụ dạy chọn bạn mà chơi. Việc các cán bộ cao cấp của Đảng bị khởi tố là một tấm gương tầy liếp. Nếu các ông ấy biết xấu hổ thì dẫu có muốn cũng không được giao du gắn bó với đám cặn bã của xã hội, huống hồ là lấy tiền đút lót và trở thành đồng loã với chúng. Người ta bảo đồng tiền không có mùi. Nói thế là nguỵ biện. Có đồng tiền nhơ bẩn và đồng tiền sạch. Nếu không tại sao trong ngôn ngữ thế giới lại có chữ “rửa tiền”. Nền kinh tế thị trường cũng có nền tảng văn hoá của nó mà người ta không hay nhắc tới, đó là chữ tín. Thị trường tuyệt đối không phải là một thứ chợ trời hổ lốn.

Nơi rao bán các thiên đường hàng mã

Thánh thần tù mù mác giả đi đêm.

Không thể buộc tội nền kinh tế thị trường là khuyến khích sự không biết xấu hổ được. Một xã hội mà mọi người cảm thấy những việc xấu là bình thường thì phải coi là đang xuống dốc rồi. Đó chính là một biểu hiện của sự suy thoái đạo đức.

Liệu có sửa được thói quen ấy không? Một thói quen đã tồn tại mấy chục năm rồi (tôi đoán bừa). Có thể thay đổi được. Không gì là không thể thay đổi được, kể cả số mệnh, nhưng phải có những điều kiện, ví dụ dân trí cao lên, văn hoá cao lên thì tự nhiên người ta sẽ hiểu được việc gì là vô văn hoá và tự khắc biết xấu hổ. Nhưng chờ dân trí cao lên, văn hoá cao lên, người ta thành tử tế hơn thì hơi bị lâu. Sợ bọn trẻ con cứ noi gương người lớn mà học thì toi. Ai sẽ nói chuyện đó bây giờ? Phải có người nói về chuyện đó chứ (bác Lê Đạt đang nói!). Chính tuổi trẻ sẽ phải nói những điều ấy. Và một xã hội có văn hoá là phải nói điều ấy. Tất cả những người nào có ý thức, có lương tâm ở trong một xã hội, phải nói to lên những điều đáng xấu hổ. Thế mới là một xã hội lành mạnh. Xã hội mà không có xấu hổ là xã hội bệnh tật, xã hội đái đường là xã hội bệnh tật. Chúng ta tất cả, từ trẻ con đến người lớn tuổi, phải tập thói quen biết xấu hổ. Phải tập lại cái thói quen ấy. Nhưng việc này quả là không dễ dàng chút nào. Đúng, bẩm sinh chưa ai biết xấu hổ, mà cần phải được giáo dục. Mình sai thì phải xin lỗi. Chứ không biết mình sai thì cũng chẳng cần xin lỗi. Có xấu hổ thì mới xin lỗi, mới sửa mình được. Cái đó phải xem như là kết quả của giáo dục qua nhiều năm tiến triển của loài người, tôi xin nhắc lại. Xấu hổ là một thành quả của văn hoá loài người. Chúng ta bây giờ phải tập lại thói quen xấu hổ.

Các cuộc họp ở Hội nhà văn có hay phát phong bì không bác?

Chuyện thứ nhất xin kết thúc ở đây. Xin mời quý vị nghe tiếp chuyện thứ hai (nếu muốn, tất nhiên) cũng với nhà thơ Lê Đạt “Truyền thống là một ga đi chứ không phải là một ga đến”. Xin cảm ơn quý vị.

Hà Nội 8/2002

——————–

Chú thích: Nhà thơ Lê Đạt tên thật là Đào Công Đạt, sinh năm 1929. Hiện sống tại Hà Nội. Đã xuất bản: Bài Thơ Trên Ghế Đá (chung với Vĩnh Mai, 1958), 36 Bài Thơ Tình (chung với Dương Tường, 1990), Thơ Lê Đạt Sao Mai (chung với Sao Mai, 1991), Bóng Chữ (tập thơ, 1994), Hèn Đại Nhân (tập truyện ngắn,1994), Ngó Lời (tập thơ hai kâu, 1998).
Suốt 30 năm treo bút sau Nhân Văn Giai Phẩm, Lê Đạt vẫn không ngừng cách tân thơ Việt. Tập “Bóng Chữ” của ông đã gây nhiều tranh cãi trong nước cũng như trong giới văn nghệ Việt Nam ở nước ngoài. Nhà phê bình Thuỵ Khuê có nhã ý đặt tên cho nó là thơ Tạo sinh. Nhưng đó lại là đề tài của một cuộc trao đổi khác.



© Talawas 2002

 
© talawas 2026