Trong diễn từ mở đầu chương trình văn hoá Việt Nam kéo dài 3 tháng tại nhà văn hoá thế giới ở Berlin 1999, nhà thơ Lê Đạt phát biểu “Tôi sinh ra ở Yên Bái, một tỉnh thượng du Bắc Việt đa sắc tộc, nơi dân số thưa thớt hơn cây rừng, có lẽ vì vậy mà tôi luôn luôn là người thiểu số ngoài đời cũng như trong văn học.”
Tôi hỏi, vậy bác thuộc dân tộc nào?
Nhà thơ cười: dân tộc Kinh. Nói thiểu số ở đây là nói thân phận thiểu số của một người làm thơ. Nhà thơ ít nhiều độc đáo nào cũng đều thiểu số vì bao giờ cũng đưa ra một ngôn từ mới lạ và chỉ được thiểu số người chấp nhận. Những tác phẩm của Henri Michaux thoạt đầu chỉ in nhiều nhất là một hai trăm bản.
Bác nghĩ thế nào về tính quần chúng của thơ?
Có những nhà thơ may mắn sinh ra đã có một ngôn từ đại chúng …Còn các nhà thơ thiểu số thì nếu trời thương chỉ có thể trở thành đa số với thời gian. Thời gian nhiều khi rất dài.
Ta trở lại vấn đề ban đầu một chút… Bác học ở đâu?
Ở trường tiểu học Yên Bái, hết lớp nhất về Hà Nội thi vào trường Bưởi.
Có ông thầy nào để lại trong bác ấn tượng đặc biệt không?
Có, đó là thầy Phạm Duy Khiêm, dạy ngữ latinh. Ông có một bộ óc sâu sắc và uyên bác, đồng thời cũng là một người thiểu số và cô đơn. Ông thường đi về một mình, không vợ con và cũng ít giao tiếp với người xung quanh.
Bác có kỷ niệm gì thời “thơ thiếu nhỏ” không?
Có lẽ là ít, ngoài một ấn tượng thiểu số và cô đơn. Ngay từ nhỏ tôi đã ít gần bạn bè, và vào cái tuổi mà các bạn chơi đùa nô nghịch bịt mắt bắt dê hay mèo đuổi chuột thì tôi chúi đầu vào đọc sách hay đi tha thẩn một mình bên con sông Hồng, theo dõi những cánh buồm trôi rất xa. Khi ở Yên Bái cũng như khi viết tập Bóng chữ “Chiều Âu lâu bóng chữ động chân cầu” thì bến Âu lâu chưa có cầu, nhưng mấy năm gần đây đã có một cây cầu rất đẹp. Người ta nói nhà thơ ít nhiều có khả năng tiên tri, chẳng biết có đúng hay không? Hồi nhỏ có lẽ vì tôi sống hơi khác lạ nên gia đình đặt cho một biệt danh chẳng lấy gì làm sang trọng lắm là “Đạt rồ”.
Bác đã trải qua ba mươi năm cực kì cô đơn?
Tôi xin cải chính, đó là ba mươi năm bị hắt hủi lưu đầy. Một người thiểu số, một người cô đơn nào cũng có thân phận, còn một người bị hắt hủi bị lưu đầy (dầu biệt xứ hay nội xứ) là một người không có thân phận. Và trong một xã hội tập trung và chính trị hoá cao, đó là một vị thế rất bất tiện. Lúc nào mình cũng nơm nớp bị kiểm tra giấy tờ. Tôi đã bị ám ảnh đến mức một hôm ăn cưới con ông thông gia, trên đường đi tôi phải quay lại nhà tìm chiếc thiếp mời dự tiệc đút túi, nhỡ đến người ta không cho mình vào thì sao! Với người lưu đầy, mọi cửa đều là cửa ải:
Tôi mơ một giấc mơ đáng sợ
Khu phố cả ngôi nhà tôi ở
Biển vàng in chữ đỏ
“Không phận sự miễn vào”.
Đã không có thân phận thì còn có phận sự nào dành cho mình nữa.
Kỷ luật đã chấm dứt, bác còn là người thiểu số nữa không?
Vẫn tiếp tục là người thiểu số. Trong mỗi con người có một bản năng hết sức dai dẳng và nguy hiểm, đó là bản năng bầy đàn. Lúc nào mình cũng sợ khác người nên nhiều khi mình dễ dàng đánh mất mình, dễ dàng nhìn cái nhìn của người khác, nghe cái nghe của người khác, thậm chí tư duy bằng cái đầu của người khác. Cái phần độc đáo, phần tính cách ít ỏi trong từng con người luôn bị đe doạ, bị tấn công. Sểnh ra một cái là mất mình như chơi. Sống một vị thế thiểu số là một việc không dễ dàng vì không những một siêu ngã khắc nghiệt luôn luôn kiểm duyệt mình, sự tự kiểm duyệt này nhiều khi hết sức gay gắt, mà xung quanh lại có rất nhiều người tốt bụng tìm cách đa số hoá mình, coi đó là một hành động thiện chí. Tôi đã phải cố gắng sống một cách khó khăn để khỏi rơi vào cái cảnh:
Trọn đời khách trọ nhìn thiên hạ
Cam tâm làm khách lạ bản thân.
Có một ngôi nhà để mình “ra ở riêng” là một việc không dễ dàng. Nhất là đối với một người làm chữ. Cái nạn “chung cư” trong văn học mới ghê gớm làm sao! Cách đây ít lâu tôi có gửi cho một tờ báo quen một chùm thơ Hai Kâu trong dó có bài:
Tiệm cà phê bến đò ngang ăn khách
Mỗi tình một tách quá thời giang…
Ông biên tập cũng là một người quen. Và chẳng cần hỏi tác giả, ông thân mật sửa luôn câu thứ hai
Mỗi tình một tách vượt thời gian
Đã thế ông còn hể hả bảo “Lời thơ đại chúng mà ý thơ vẫn giữ nguyên…” Đến nước ấy thì mình đành chịu chứ còn biết nói gì trước thịnh tình của người ta nữa. Chẳng lẽ mình lại khởi tố kiện ông vì đã ngộ sát một câu thơ.
Bác thường tuyên bố “Tôi là người lạc quan ngoan cố”. Đã thiểu số thì còn lạc quan thế nào được?
Đừng lầm thiểu số với “yếm thế” và “cô đơn” với ” bi luỵ” Đó là những quan niệm lỗi thời của chủ nghĩa lãng mạn. Tôi có đọc ở đâu đó truyện một nhà sư lui vào nơi thâm sơn cùng cốc để khổ tu cho đến đắc đạo. Trong những năm dài thiền mặc về huyền cơ của tạo hoá về lẽ sống và lẽ chết của con người, sớm nào ông cũng thả những tư tưởng tinh khiết và thanh cao lên bầu trời để giảm bớt sự ô nhiễm của khí quyển. Đó là một con người thiểu số, cô đơn và lạc quan tuyệt vời. Một trong những điểm yếu của xã hội hiện nay là có quá nhiều người dễ dàng bị sức hút của đa số mà người ta quen gọi là đại chúng.
Nếu bây giờ cuộc trò chuyện giữa chúng ta có thể có một phó đề, bác chọn phó đề gì?
Nhà thơ cười sảng khoái, cái cười đặc biệt Lê Đạt, trả lời không biết đùa hay thật. Tôi sẽ chọn phó đề sau: “Nói bên lề toàn cầu hoá”
Xin cảm ơn bác và chúc bác mau bình phục.
Chuyện thứ ba xin kết thúc ở đây, mời quý vị tạm nghỉ trước khi theo dõi cuộc phỏng vấn (nếu muốn, tất nhiên) cũng với nhà thơ Lê Đạt về một số vấn đề của thanh niên thời kỳ đổi mới. Xin cảm ơn quý vị.
Hà Nội 8/2002