trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
24.12.2002
Đào Tuấn
Nghe chuyện nhà thơ Lê Đạt
Truyền thống là một ga xuất phát chứ không phải một ga đến (chuyện thứ hai)
 

Thưa bác, vua hề Charles có câu “Chúng ta muốn sống trong hạnh phúc chung chứ không phải trong nỗi khổ chung”. Còn người Việt mình hình như lại quen với truyền thống sống trong nỗi khổ chung, để cho có tinh thần tập thể hay sao?

Không phải đâu, mình là một dân tộc tiểu nông, quen sống manh mún, lại nghèo khổ quá, nên bao giờ cũng thích bo bíu lấy một của riêng nhỏ nhoi. Nếu sau này đời sống khá giả ra, thì chúng ta sẽ có những tập quán mới. Cái quan trọng nhất của một dân tộc không phải là giữ những truyền thống cũ, mà trên những truyền thống cũ, tạo ra những truyền thống mới. Ngày nào cũng nghe báo chí, phát thanh, truyền hình nhắc nhở việc phải giữ gìn truyền thống, làm như không thì nó chạy mất. Trong sự vận động của một xã hội lành mạnh, truyền thống không phải là một điểm đến, truyền thống là một điểm từ đấy mà đi. Giáo dục trẻ con đừng quên thành tựu của ông cha nhưng đồng thời, cũng phải cho thấy cái hạn chế của ông cha, thấy cần phải lập nên những truyền thống mới. Mình cứ giáo dục truyền thống theo một mặt thôi thì hỏng. Tức là ông cha cái gì cũng tốt cả. Chúng ta phải đi từ chỗ ông cha dừng lại.

Thế nói cho học sinh lịch sử đến chừng nào thì là đủ?

Cái đó thì tuỳ, đến chừng nào thì khó nói lắm. Nhưng hướng là mình phải dạy cho trẻ con rằng không phải trên thế giới chỉ có một, mà có rất nhiều truyền thống tốt đẹp. Không phải chỉ dân tộc Việt nam anh hùng, mà rất nhiều dân tộc khác cũng anh hùng. Bao giờ nhìn lại mình cũng nên nhìn hai mặt, không nên chỉ ca ngợi một chiều. Và bao giờ cũng phải coi truyền thống là một ga xuất phát, chứ đừng bao giờ coi là một ga đến cả. Nếu cứ tập mãi cho bằng ông cha thì hoá ra mình đi giật lùi à. Không nên giáo dục kiểu dập khuôn, điều này rất nguy, mình cứ kể nó chi tiết quá, tức là mình khuyến khích học sinh dập khuôn theo khuôn mẫu của ông cha. Mình chỉ dạy cái tinh thần, cái nhân cách của ông cha thôi, cái đó là quan trọng. Và như thế mới tiến bộ được. Phải khuyến khích một tinh thần mở đường. Khi đứa con khôn lớn không níu áo theo đuôi bố mẹ, mà cần phải ra ở riêng để bay nhảy. Buồn nhất là những người đã lớn tuổi mà cứ quanh quẩn sống mãi dưới bóng ô dù của cha ông – Như thế là vị thành niên suốt đời.

Vậy là trong từng hoàn cảnh cụ thể phải lựa chọn một giải pháp tối ưu, nhưng không thể đắn đo lựa chọn mãi được. Lựa chọn dĩ nhiên là tốt nhưng vì lý do kỹ lưỡng mà nấn ná không dám quyết là một sai lầm. Một dân tộc trẻ là một dân tộc trên đường đi. Cha ông mình có những cách làm như thế trong những hoàn cảnh như thế. Còn trong hoàn cảnh khác thì mình phải làm khác. Như thế mới là theo truyền thống của ông cha. Chứ không phải là làm như ông cha trong những hoàn cảnh đã khác rồi. Như thế là chống lại truyền thống, không phải theo truyền thống. Truyền thống cho ta một mô hình để lựa chọn và cải tiến, chứ không phải một cẩm nang có sẵn để chấp hành.

Học lịch sử là cần, nhưng không phải để thồ trên lưng những niên hiệu, những thánh tích của cha ông, mà học cái tinh thần dám nghĩ dám làm, tuỳ cơ ứng biến của cha ông – Quyết liệt mà bao dung, tự hào mà khiêm tốn… Học cổ nhân chủ yếu là học cái tâm của cổ nhân. Giữa thời đại công nghệ cao của thế kỷ XXI lại càng phải học cái tâm ấy. Với đà phát triển của tin học nên cẩn trọng với bệnh bội thực thông tin mà để lấp mất cái tâm.

Rabelais thời Trung cổ đã nói “Khoa học không có lương tri chỉ là sự điêu tàn của tâm hồn”. Chưa bao giờ khoa học cần thiết như bây giờ nhưng chưa bao giờ triết học và các khoa nhân học cần thiết như bây giờ. Tôi có cảm giác khoa học đẩy tốc độ nhân loại đi một cách quá nhanh, hình như nhân loại chỉ có thời giờ “nghĩ đi” mà ít có thời giờ “nghĩ lại” Mà khả năng nghĩ lại theo tôi là khả năng ưu việt nhất của con người. Máy tính điện tử siêu hạng đến đâu cũng không bao giờ giải đáp được cho loài người câu hỏi cốt tử về ý nghĩa của cuộc sống.

Thưa bác, chúng ta có lẽ chỉ thông minh trong những chuyện nhỏ, nhưng không có những cái giỏi tầm cỡ. Đó là do giáo dục hay là do truyền thống?

Do hoàn cảnh xã hội. Hoàn cảnh xã hội bao giờ cũng quy định nếp sống của một con người. Một con người chỉ sinh hoạt và tư duy trong một không gian ba sào thì làm sao mà khoáng đạt được. Dân ta chỉ gò bó trong cái luỹ tre của mình, trong cái thửa ruộng của mình thôi. Có được tí tài sản, tý suy nghĩ là rào cho kín, thành thử giữ người mà lại tự cầm tù mình. Trong hoàn cảnh mới chúng ta sẽ phải cố gắng thay đổi tính cách đó đi. Tính cách của một dân tộc không phải là cố định. Cha ông mình thời trước làm như thế là giỏi rồi, nhưng bây giờ mình lại làm như cha ông là mình tồi. Mình có nhiều điều kiện hơn, tại sao mình không làm hơn cha ông? Không nên quên câu “Con hơn cha là nhà có phúc”. Một đứa con hiếu thảo không phải là kẻ tế lễ cha ông thật linh đình vào những ngày tết giỗ mà là người phục sinh cha ông trong việc hoàn thành những nhiệm vụ mới chưa từng được đặt ra ở thời đại các cụ. Chúng ta nợ các cụ một tương lai và chẳng ai muốn mang tiếng là quỵt nợ.

Kết thúc câu chuyện với bác Lê Đạt, trong đầu tôi vương vấn mãi câu hỏi chúng ta có đang quỵt nợ của cha ông không, những người đã già và những người đang còn trẻ.

Chuyện thứ hai xin kết thúc ở đây. Xin mời quý vị nghe tiếp chuyện thứ ba (nếu muốn, tất nhiên) cũng với nhà thơ Lê Đạt “Chúng ta nên tập sống khó khăn hơn là sống dễ dãi”. Xin cảm ơn quý vị.

Hà Nội 8/2002

© Talawas 2002

 
© talawas 2026