Gabriel Kolko

taz: Ông Kolko, cách đây 60 năm Hoa Kỳ đã ném bom nguyên tử biến Hiroshima và Nagasaki thành tro bụi dù không cần thiết về quân sự. Vậy động cơ nào đã khiến Hoa Kỳ hành động như thế?
Gabriel Kolko: Phía Nga biết rằng Hoa Kỳ cũng chế tạo bom nguyên tử như họ. Nếu để gây ấn tượng với Moscow thì chỉ cần ném bom xuống Hiroshima thôi là đủ. Như vậy quả bom thứ hai ném xuống Nagasaki cho ta thấy suy nghĩ thật sự của người Mỹ. Đơn giản là họ có bom nguyên tử và vì vậy phải sử dụng chúng. Việc này không liên quan gì đến chính trị mà chỉ đơn thuần là ngu xuẩn. Do quen với việc giết người, giới quân sự đã sử dụng bom nguyên tử như một phương tiện giết người khác, kinh tế hơn và hiệu quả hơn.
Chiến tranh thế giới thứ hai chấm dứt vào ngày 2 tháng chín năm 1945 với sự đầu hàng của Nhật Bản. Giờ đây nhìn lại thì đặc trưng của chiến tranh thế giới thứ hai là gì?
Trong khi chiến tranh thế giới thứ nhất chủ yếu là một cuộc chiến châu Âu, thì trái lại thế chiến thứ hai thật sự mang tính toàn cầu. Sự kiện quan trọng nhất của cuộc chiến này là cuộc cách mạng Trung Quốc. Trung Quốc, Việt Nam và Bắc Triều Tiên theo đường lối cộng sản, xuýt nữa thì Philippin cũng thế. Có thể tranh cãi về vấn đề ba quốc gia này thật sự cộng sản đến mức độ nào, nhưng thực tế thì các nước này đã giành được độc lập, không phụ thuộc vào phương Tây, bài Mỹ và phần nào có những tiềm năng kinh tế lớn. Những thay đổi trọng tâm xuất phát từ thế chiến thứ hai đã diễn ra ở châu Á. So với châu Âu, trong những năm từ 1917 đến 1939 châu Á tương đối ổn định, nhưng sau 1945 châu Á trở thành khu vực chính của sự thiếu ổn định.
Trong cuốn Thế kỉ của chiến tranh ông có viết rằng không có cuộc chiến nào kết thúc như các nhà chiến lược mong muốn cả. Vậy trong cuộc chiến ở Thái Bình Dương các nhà chiến lược đã nhầm lẫn ở điểm nào?
Người Nhật đương nhiên không hình dung rằng họ sẽ thua trận. Hải quân Nhật Bản nhận thấy rằng họ sẽ thiếu nguyên liệu trong một cuộc chiến kéo dài, chính vì vậy mà quân đội Nhật Bản đã thực thi một chiến lược cướp bóc ở các nước châu Á bị chiếm đóng với phương thức nhiều và nhanh ở mức tối đa. Đây là một cách làm hoàn toàn phản hiệu quả về chính trị. Chẳng hạn việc biến đồng ruộng ở Việt Nam thành đồn điền cao su đã dẫn đến nạn thiếu thốn lương thực. Không có việc này, có lẽ đã không có cuộc cách mạng Việt Nam.
Trong một qui mô lớn hơn thì ở Trung Quốc cũng vậy. Đảng Cộng sản Trung Quốc vào năm 1927 có 58.000 đảng viên. Năm 1937 giảm xuống còn 40.000. Sau đó Nhật vào và đã gián tiếp huy động lực lượng nông dân Trung Quốc. Các nhà chiến lược của Nhật không hề lường đến khả năng Trung Quốc có thể đi theo chủ nghĩa cộng sản. Cả Hoa Kỳ cũng vậy. Họ đều nghĩ rằng Quốc Dân Đảng sẽ thắng. Nếu không, họ không bao giờ dành ghế thành viên thường trực với quyền phủ quyết của Hội đồng bảo an Liên hiệp quốc cho Trung Quốc cả. Ghế này vốn dành cho Quốc Dân Đảng. Như vậy kết cục cuộc chiến ở châu Á đã làm tất cả mọi bên ngạc nhiên.
Dù sao thì thế chiến thứ hai đã chấm dứt hệ thống quân phiệt và đế quốc Nhật, vốn là mục tiêu chiến tranh của Hoa Kỳ.
Nhật bại trận về quân sự và chính trị. Mỹ chiến thắng về quân sự ở châu Á, nhưng lại thất bại về chính trị vì về mặt này cuộc chiến không kết thúc như họ mong đợi. Không ai lường trước được rằng phía cộng sản sẽ kiểm soát cả một khu vực rộng lớn như vậy. Việc cộng sản lên cầm quyền ở Trung Quốc năm 1949 phải xem là một tai họa đối với Hoa Kỳ. Về danh nghĩa thì Trung Quốc trở thành đồng minh của Liên Xô. Sau này Hoa Kỳ cũng hối hận về chính sách của họ đối với chế độ quân phiệt và đế quốc Nhật. Ngày nay Hoa Kỳ xem Nhật là đối trọng của Trung Quốc. Dưới quyền của thủ tướng Koizumi, Nhật đã trở nên dân tộc chủ nghĩa và quân phiệt hơn. Ngoài ra người Nhật vẫn gìn giữ Nhật hoàng và qua đó cũng bảo tồn được một phần truyền thống đế quốc của họ. Nếu sắp tới Nhật Bản có trang bị vũ khí nguyên tử thì tôi cũng không lấy làm ngạc nhiên.
Trong cuốn Thế kỉ của chiến tranh, ông tuyên bố rằng hai cuộc thế chiến đã làm rung chuyển các nền móng xã hội và qua đó mới tạo điều kiện cho chủ nghĩa cộng sản nẩy nở ở nhiều nước. Với châu Á thì thế nào?
Người ta, đa phần, không phải ai cũng sinh ra để làm cách mạng. Quyền lực của Lenin là sản phẩm của thế chiến thứ nhất. Thế chiến thứ hai tiêu hủy tầng lớp trung lưu ở Trung Quốc, đến năm 1943 thu nhập thực tế đã giảm đi 90%. Nạn lạm phát thảm khốc đã thúc đẩy nhiều người thành cộng sản. Họ không theo chủ nghĩa Marx-Lenin mà chỉ muốn Trung Hoa lớn mạnh trở lại, họ là những người dân tộc chủ nghĩa. Ở Việt Nam, những người cộng sản đã dẫn đầu những cuộc cướp kho gạo. Sự huy động lực lượng ở Trung Quốc và Việt Nam xảy ra trên cơ sở của tính dân tộc, những người cộng sản ở các nước này rất tôn sùng chủ nghĩa dân tộc. Từ 40.000 đảng viên vào năm 1937, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã có đến 4,5 triệu đảng viên vào năm 1949. Đảng Cộng sản Trung Quốc là lực lượng dẫn đầu trong việc chống ngoại xâm, trong trường hợp này là Nhật Bản. Trái lại, Quốc Dân Đảng thì hoàn toàn thối nát. Những người cộng sản đấu tranh cho một nước Trung Hoa mang tính dân tộc và phồn vinh. Chính chủ nghĩa dân tộc này cho đến hôm nay vẫn còn là hạt nhân của chính quyền cộng sản ở Trung Quốc. Nếu có bầu cử thì Đảng Cộng sản sẽ thắng vì họ đã làm Trung Quốc trở nên vững mạnh.
Phải chăng thế chiến thứ hai đã đánh dấu bước chuyển từ chủ nghĩa thực dân cũ sang chủ nghĩa thực dân mới? Nói cho cùng thì nhiều nước châu Á đã giành lại độc lập nhờ cuộc chiến này.
Năm 1945 Hoa Kỳ đột nhập vào khoảng chân không mà Nhật và các thế lực thực dân châu Âu để lại ở châu Á. Theo nghĩa này thì ảnh hưởng lớn của Hoa Kỳ ở châu Âu và châu Á là kết quả của sự ngông cuồng của châu Âu và thất bại của Nhật Bản. Chậm nhất thì vào cuối những năm 70, bá quyền của Hoa Kỳ ở châu Á đã chấm dứt. Vào thời điểm đó châu Á đã tìm được diện mạo riêng của mình, Hoa Kỳ thì thất bại cả về quân sự lẫn kinh tế ở Việt Nam, trong lúc châu Á từ từ phát triển. SEATO, tổ chức châu Á tương ứng với khối NATO, ngày nay không còn nữa. Hiện tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đã trở nên khá độc lập.
Thế nhưng Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan ngày nay vẫn còn dựa dẫm vào sự bảo vệ của quân đội Hoa Kỳ. Phải chăng Hoa Kỳ đúng hơn vẫn giữ vị trí bá quyền ở châu Á và vì quyền lợi của mình mà kiềm chế không cho thế lực nào khác trở nên quá mạnh cả?
Trung Quốc không phải là mối đe dọa về quân sự, vì họ không muốn chiến tranh mà muốn làm ăn. Hoa Kỳ có một guồng máy quân sự lớn thật, nhưng cũng có một khoản thiếu hụt thương mại khổng lồ. Do đó họ không còn là thế lực bá quyền theo đúng nghĩa cổ điển nữa. Họ phải vay tiền của châu Á để bù đắp khoản thiếu hụt của mình. Ngày nay, Hoa Kỳ là một quốc gia mắc nợ bị lệ thuộc. Đồng Dollar Mỹ sống nhờ vào các nước Đông Á. Nếu Trung Quốc, Nhật Bản hoặc Hàn Quốc không nuôi đồng Dollar nữa, thì Hoa Kỳ cũng kiệt lực. Dù mạnh về quân sự, Hoa Kỳ đồng thời cũng rất yếu.
Vậy ra Hoa Kỳ chỉ là một con hổ giấy?
Từ lâu Hoa Kỳ không còn mạnh như vào năm 1946 nữa. Họ sẽ còn phải học từ những bài học của chiến tranh Triều Tiên và chiến tranh Việt Nam – và ở Iraq nữa. Hoa Kỳ gây ra nhiều rắc rối, nhưng cũng không nên đánh giá họ quá cao. Sức mạnh của Hoa Kỳ chỉ có hạn, điều này sẽ còn được chứng minh ở châu Á.
Tác giả: Gabriel Kolko (73 tuổi), sử gia và nhà chính trị học Hoa Kỳ, tác giả của các công trình nổi tiếng như Vietnam – Anatomy of a War, New York, New Press, 1994 và Century of War, New York, New Press, 1994.
© 2005 talawas