trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
26.7.2004
Nguyễn Thị Bích Hà
Ngành Việt Nam học chúng tôi còn có quá nhiều việc phải làm
 
ngày 14-16.7.2004 vừa qua, Hội thảo quốc tế về Việt Nam học lần thứ II đã được tổ chức tại Dinh Thống Nhất, TPHCM. Chúng tôi xin giới thiệu ý kiến của PGSTS Nguyễn Thị Bích Hà về ngành nghiên cứu đang được công luận chú ý này.

Vào một đêm đẹp trời, khó ngủ không ít người mơ sáng mai tỉnh dậy sông Hồng đã trở thành sông Seine, hai bên bờ là là những tòa lâu đài vừa cổ kính vừa hoành tráng, lại có người mơ những trang chữ của mình biến thành tiếng Thụy Ðiển, khỏi qua những ngôn ngữ trung gian để vào thẳng một Nobel… Nhưng cũng không ít người trăn trở và mơ ước hiểu được giấc mơ của tổ tiên người Việt… Dưới đây là cuộc trò chuyện của nhà văn Trần Thị Trường (TTT) với với Phó giáo sư tiến sĩ, chủ nhiệm bộ môn Việt Nam học trường Đại học Sư phạm Hà Nội Nguyễn Thị Bích Hà (NTBH).

TTT: Chào chị Bích Hà. Nghe nói đã có mã ngành Việt Nam học được mở ở Ðại học Sư phạm Hà Nội?



NTBH: Vâng. Cũng mới bắt đầu được 2 năm nay.

TTT: Tôi nghe nói vì không hiểu cho chắc thế nào là bản sắc một dân tộc, lại không nghiên cứu sâu sắc những cội nguồn gốc gác nên khi hội nhập với thế giới và quá trình đô thị hoá diễn ra ở khắp nơi thì một vài “nhà quy hoạch kiến trúc” đã “quy” luôn tỉnh, một địa phương hay cả một thủ đô ngàn năm tuổi thành một đô thị mới, vừa có thể đánh mất bản sắc vừa luẩn quẩn trong miền kinh tế… quê mùa… Cụ thể là, làng nghề biến mất mà khu công nghiệp không có cơ sở phát huy tác dụng (khiến một nhà sử học đã kêu lên: Ôi, choáng váng làm sao, chỉ mươi năm thôi, nhoáng một cái làng hoa Ngọc Hà biến mất). Chưa kể đến các nhà quy hoạch xã hội đã và sẽ…



NTBH: Tôi không tin một nhà quy hoạch có vị trí quyết định một vấn đề tầm cỡ như vậy lại không giàu lưng vốn khoa học về vấn đề ấy… Song, quả thật nếu không nghiên cứu đến nơi đến chốn thì những việc tương tự như thế có thể sẽ xẩy ra. Chung một mối quan tâm như thế nên ngành Việt Nam học (VNH) của chúng tôi đã ra đời.

TTT: Cụ thể thì ngành VNH cung cấp những gì?



NTBH: VNH sẽ đem đến một chiếc chìa khóa, đồng thời với một chỗ dựa. Trong xu thế toàn cầu hoá, quan hệ hợp tác và giao lưu giữa Việt Nam với các nước trên thế giới ngày càng được mở rộng và phát triển. Những vấn đề văn hoá, lịch sử, kinh tế, xã hội… của Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại đang được nhiều người Việt Nam và người nước ngoài quan tâm. Ngành VNH đã được mở ở Nga, Ðức, Nhật, Hàn Quốc… đã và đang đào tạo những nhà nghiên cứu về Việt Nam. Nhu cầu tìm hiểu đất nước và con người Việt Nam ngày càng trở nên cần thiết đối với người nước ngoài và cả người Việt Nam. Ngành VNH là cơ sở đào tạo và nghiên cứu đáp ứng một phần những nhu cầu đó.

TTT: Nhưng vẫn là những môn Lịch sử (LS) văn hoá, LS văn học, LS kinh tế, LS ngoại giao, LS quân sự… đã từng có trước đây?



NTBH: Vâng, nhưng trước đây ngay cả trong các viện, các trường đại học, các ngành và trong tư duy quen thuộc người ta vẫn chỉ chú trọng nghiên cứu từng mảng riêng biệt, tách rời. VNH không phải là một khái niệm mới, nó là một khoa học liên ngành nghiên cứu sự tổng hoà những đối tượng của các bộ môn đã nêu. Nói một cách khác VNH đào tạo những nhà nghiên cứu và giới thiệu về Việt Nam có tri thức đa ngành, trên bình diện tổng hợp và chuyên sâu để tìm ra cái riêng, cái độc đáo của Việt Nam.

TTT: Trong thực tế tôi từng có kinh nghiệm về chuyện: có người cứ hay viện dẫn đến bản sắc nhưng bản sắc nằm ở đâu, như thế nào thì người ta không biết. Thậm chí chỉ cần gọi được ra sự khác nhau của một số dân tộc người ta cũng không gọi được… Là một một nhà nghiên cứu, trưởng bộ môn VNH chị nói gì về điều này?



NTBH: Bản sắc nhắc đến ở đây là bản sắc văn hoá. Cái hình thành tư tưởng tâm lý người Việt. Là nét riêng biệt biểu hiện ra trong lối sống, nếp tư duy của một cộng đồng người hay một quốc gia. Bản sắc phải được kế thừa, trở thành truyền thống. Tôi xin nêu một ví dụ về bản sắc: Cũng là một trong những nước đồng văn, (Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Hàn Quốc, Việt Nam), cùng coi trọng “tam cương ngũ thường”, nhưng mỗi nước do đặc điểm môi trường sống và lịch sử sinh tồn của mình mà hình thành bản sắc riêng, ngay cả trong cách tiếp nhận các yếu tố trên. Tôi cảm thấy người Việt ta nặng hai chữ “nhân, nghĩa”, còn người Nhật trọng hai chữ “tín, nghĩa”. Nếu biết rõ rằng đặc trưng của người Nhật là trọng tín hơn cả thì các nhà đầu tư sẽ mạnh dạn đầu tư cao và sâu vào Nhật Bản. Và biết rằng Ðức Tín cho người ta cái khả năng thích nghi với công nghiệp hiện đại thì bản thân người Nhật sẽ vạch kế hoạch cho nền công nghiệp của mình…( Không chỉ là lý thuyết mà thực tế những ngày sống và làm việc ở Nhật tôi đã quan sát: Người Nhật đã hứa điều gì thì dù “thịt nát xương tan” cũng làm cho tròn lời hứa đó.) Bản sắc còn nằm trong các vận động khác của đời sống, rất nhiều, ngay cả trong ăn mặc, nhà cửa, buôn bán, sản xuất, cảnh quan môi trường, khí hậu, thiên nhiên… Người Việt trọng sự thông cảm, đề cao tính cộng đồng, làm gì trước hết cũng tính đến “thuận trên bền dưới, thông cảm lẫn nhau”. Ðó vừa là mặt mạnh vừa có mặt hạn chế. Trong quá trình xã hội phát triển có xu hướng cá nhân hoá, khẳng định bản thân, những yếu tố hiển nhiên trong một xã hội với nền văn minh công nghiệp… làm thế nào để vẫn giữ được mặt mạnh của tính cộng đồng là điều mà VNH sẽ góp phần giải mã.

TTT: Nhìn vào danh sách những tên tuổi của bộ môn cho thấy có gì đó vẫn như thể …?



NTBH: Vâng, vì mới bắt đầu từ 2 năm nay, tận dụng những giáo trình có sẵn của các bộ môn riêng lẻ để tập hợp xây dựng một giáo trình mới, điều quan trọng nhất trong đó là mục tiêu thống nhất. Ví dụ, khi giảng dạy Văn học dân gian (VHDG) cho VNH chúng tôi chú trọng vấn đề hình tượng con người, đất nước trong các thể loại VHDG. Hoặc môn lịch sử trước đây chú ý đến sự kiện và diễn biến sự kiện thì VNH chú trọng đến ý thức lịch sử, đất nước và con người Việt Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc. Các môn khác cũng vậy, ngoài ra còn có môn Lịch sử gia đình và phụ nữ, Ðịa lý Việt Nam, Việt ngữ học… Danh sách vẫn gồm các Giáo sư tiến sĩ tên tuổi quen thuộc nhưng nay với ngành VNH mỗi người sẽ khai thác một bình diện mới trong cách tiếp cận và phương pháp giúp sinh viên tiếp cận…

TTT: Không biết là…, thật khó nói quá, nhưng quả thật…



NTBH: Tôi hiểu cái khó, điều chị không tiện nói. Vâng có thể chị chưa tin lắm vì vấn đề lớn quá chứ gì? VNH đã và đang đào tạo cử nhân hệ chính quy 4 năm, hệ tại chức và chuyên tu cho sinh viên Việt Nam. Ðào tạo theo chuyên đề cho sinh viên nước ngoài. Cũng có thể đào tạo và cấp chứng chỉ các chương trình ngắn hạn từ 3 tháng đến 3 năm cho các đối tượng có quan tâm. Vừa làm với những gì vốn đã có những chuyên môn sâu vừa nghiên cứu thêm để chuẩn bị cho được một giáo trình có đủ tính hàn lâm (academic).

TTT: Trở lại với ý nghĩ băn khoăn ban đầu, rằng tại sao người ta vẫn nói đến giữ gìn bản sắc vậy mà tốc độ đánh mất bản sắc hình như có vẻ diễn ra ồ ạt hơn? Chẳng hạn, tôi nêu vào lĩnh vực kiến trúc vì ở đó dễ “nhìn và sờ” thấy, chứ lĩnh vực khác như âm nhạc, văn học, thời trang, điện ảnh, tâm lý học, y học… thì cũng nhiều ví dụ chẳng kém?



NTBH: Bản sắc là cái ổn định, nhưng ổn định chỉ là tương đối, trong quá trình tiếp biến, giao lưu văn hoá vẫn tiếp thu, dung nạp những tinh hoa văn hoá của nhân loại để làm giàu hơn bản sắc cộng đồng của mình. Cho nên tiếp thu những gì và tiếp thu như thế nào để giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc mới là quan trọng. So với thế giới chúng ta bắt đầu hơi muộn cho ngành học này. Nhưng chúng ta bắt đầu bằng những nỗ lực không mệt mỏi và hiện đang có một thế hệ trẻ được đào tạo tốt, có nhiều phương tiện tốt sẽ tiếp sức với chúng ta…

TTT: Có người nói bản sắc người Việt còn nằm ở trong các nghề, làng nghề, trong chiều sâu của thời gian và không gian…vì thế chúng ta có các ông tổ: nghề thuốc, nghề dạy học, nghề rèn, đúc, chạm trổ… với những thành tựu khá đặc biệt, rất đặc trưng Việt cũng như bản sắc nằm ở tính cộng đồng, thậm chí nằm ngay trong “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn, người từng biết làm quy hoạch từ một ngàn năm trước, đã “quy hoạch” cho đương thời và hậu thế một Thăng Long, thủ đô của nuớc nhà, v.v. Nhưng mà hiểu và đem sự hiểu biết ấy ứng dụng vào thời thế, vào đời sống cụ thể một cách hiệu quả thì lại… như chẳng mấy có gì. Phải chăng chúng ta thiếu một sức khái quát lớn, một ứng tác lớn? Roẹt một cái thay đổi đến mức chỉ còn lại một ít dấu vết…



NTBH: Ðấy cũng bởi sự hiểu chưa đạt tới tầm VNH (cười). Nói thế cũng có nghĩa là ngành VNH của trường chúng tôi còn rất nhiều việc phải làm.

TTT: Vâng! Bao giờ thì VNH sẽ có một tầm nhất định để cùng tin tưởng và VNH là sự học của mọi người chẳng trừ ai và không chỉ để lấy bằng chứng chỉ? Còn một điều nữa là, từ nhiều năm nay, trên lĩnh vực văn hóa, các chuyên gia từ nhiều nơi trên thế giới báo động về sự mất đi, tuyệt diệt của ngôn ngữ bản địa, ngôn ngữ của các dân tộc thiểu số. Trong một thế giới “hội nhập” như ngày nay, liệu ngôn ngữ có được coi như một ngôi đền chính của bảo tồn bản sắc của chúng ta hay không? Bộ môn VNH dự tính làm gì ở lĩnh vực này?



NTBH: Bước đầu, cùng với các giáo trình khác chúng tôi đã soạn xong Chương trình A-120 tiết “Tiếng Việt cho người nước ngoài”, tất nhiên sau sẽ là những chương trình khác về ngôn ngữ, chẳng hạn tiếng Việt cho người Việt ở mức sâu hơn và các loại ngôn ngữ của người thiểu số như chị nói… Ngôn ngữ có thể là yếu tố hàng đầu của bản sắc.

TTT: Cảm ơn chị. Chúng ta cùng hy vọng!



Xem thêm: Lại Nguyên Ân, Ai không là nhà “Việt Nam học”?, talawas, 22.7.2004

 
© talawas 2026