trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
17.3.2003
Chu Thị Thơm
“Nằm Nghiêng” – Báo động về tính thẩm mỹ của một tập thơ
 
Trong chuyên đề Thơ và Thơ Trẻ tại talawas, Phan Huyền Thư và tác phẩm Nằm Nghiêng của chị đã nhiều lần được nhắc tới và là đề tài cho những tranh luận văn học khác. Mời độc giả tham khảo bài phê bình đăng trên báo Giáo dục và Thời Đại sau đây về tác giả và tác phẩm này.
talawas

Tập thơ 80 trang, với 77 bài chia làm 4 phần: giấc mơ của lưỡi; Nhớ bão; Lãng mạn giải lao. Mỗi phần được chia theo cảm thức riêng, xem qua có vẻ tương đối độc lập về đề tài, song đọc kỹ lại thấy sự liên kết, hoà quyện chặt chẽ với nhau trong phong cách biểu hiện, đặc biệt là điểm dị biệt trong tư duy qua cách sử dụng ngôn từ.

Như một điềm báo, ngay từ bài đầu tiên của tập thơ, bạn đọc đã thấy Phan Huyền Thư thừa nhận : “Tôi sâm sấp mặt vũng/ngôn ngữ đang chết trên cách đồng/ gieo vần(…) Tôi nằm sấp ướt/ từ ngữ nhập nhằng ma trơi/ Khi lưỡi nằm ngoan trong miệng/răng ngủ vùi sau môi/ nụ cười chết…(Giấc mơ của lưỡi)

Có một nhà thơ trẻ nói rằng khi nằm ở tư thế ấy, trong trạng thái vô thức ấy (đích thị là vô thức rồi) miệng làm sao cười được. Hay nhất là cứ để cho tư duy phiêu diêu cùng từ ngữ. Vì vậy thơ mới bí ẩn- mà không bí ẩn, ai gọi là thơ?

Chấp nhận sự bí ẩn kỳ dị của nàng thơ hiện đại Phan Huyền Thư, ta hãy đi vào thế giới từ ngữ: “Chen chúc trong đầu sần sùi da thịt và tắc nghẽn mạch máu” mà tác giả thừa nhận “có lúc/chữ nghĩa/ tôi nhai nát trong miệng/ cùng với nước miếng/rịt vào vết thương người làm tôi đau…(Ký hiệu)

Ám ảnh trong thơ Phan Huyền Thư là thế giới của chia li, đoạn tuyệt, hụt hẫng, thế giới của một tình yêu, cõi yêu không trọn vẹn. Thông thường khi đặt bút để cho ra con chữ-những nhà thơ bắt đầu vào nghề cũng có ít nhiều cảm giác cô đơn, hẫng hụt với khát vọng đi tìm một điều gì đó lớn lao, đích thực cho mình. Ở Thư, có ám ảnh một nỗi buồn và niềm khắc khoải. Nỗi buồn ấy đã được tác giả trẻ này chuyển tải: ” Nỗi buồn của tôi thành tình yêu của anh/ tình yêu vô sinh/nỗi buồn thụ tinh ý nghĩa…(Viết) Sau quá trình “vô sinh”của tình yêu, kết quả “thụ tinh” ý nghĩ đã bắt đầu hiện lên cõi thơ của Phan Huyền Thư. Trong tư thế “nằm nghiêng” (tên tập thơ) mà tác giả phải xoay sở, nhắc lại đến 8 lần trong bài thơ cùng tên, người đọc thấy Phan Huyền Thư cũng rất khổ…Ây là nỗi khổ của người tự hành hạ mình“Nằm nghiêng/xứ sở bốn mùa nhiệt đới/tự dưng nhói đau /sau lần áo lót có đệm mút dầy/nằm nghiêng/về đây…” (Nằm nghiêng). Có bạn đọc bực mình, nguyên nhân đau đớn thì ra lại là áo lót có đệm mút dầy. Tại sao không bỏ quách đi? Cứ ngỡ là nỗi đau nhân thế. Ai ngờ…Tôi không tin là Thư lại lẩm cẩm mang những chuyện riêng tư của phụ nữ ra để cho công chúng của thơ ca cười cợt. Là phụ nữ “vạch áo cho người xem lưng”-hoạ chăng có mà điên. Nhưng đọc cả tập thơ thấy Thư rất thành thực, thật lòng. Cả nỗi thất vọng cũng thật lòng trước cảnh: “đàn ông vung tay/mặc cảm/lồng ngực lép/đàn bà lắc lư mông/xương chậu hẹp/ che đậy ganh đua…” mặc dầu tên bài thơ này có tên: “Thất vọng tạm thời”. Nhưng nỗi buồn lại ngự trị trong trái tim cô đơn vĩnh cửu. Ở người khác, mọi chuyện sẽ là bình thường, thoảng qua trước cảnh đời bận rộn. Song, Phan Huyền Thư lại coi đó là một lí do chính đáng để con tim tổn thương, rớm máu. Kí ức cô lộn xộn, khi hình dung ra những người đàn ông những năm bốn mươi bởi họ đến rồi để “lũ con gái mười lăm đêm nằm khóc”, bởi họ “không còn yêu mình nữa/lập loè/khinh công…”(Ðàn ông những năm bốn mươi) Kể cũng lạ, hình dung ra một lớp đàn ông đáng tuổi cha ông mình, ngày xưa họ yêu ra sao, rồi bỏ đi như thế nào rồi lại khóc cho lứa tuổi mười lăm chỉ một lí do duy nhất là “họ không còn yêu mình nữa” thì chỉ có Phan Huyền Thư mới có trạng thái này. Trí tưởng tượng con người thăng hoa khi con người mơ và khát vọng về cái đẹp. Cũng có thể từ cõi mơ để con người được sống chính mình, bởi mình. Nếu chỉ tưởng tượng để khao khát ra sao rồi thất tình thế nào trong một sự đối chọi tuổi tác như vậy, xem ra tác giả không thuyết phục được người đọc bởi câu chữ vô bổ trong khát vọng nhảm nhí của mình. Men theo bờ kênh tưởng tượng nhập nhằng trong trạng thái mộng du, Phan Huyền Thư đã có những cử chỉ và trạng thái rất lạ: “tôi nhường tôi cái cúi đầu về không/ bước quay lưng hối hả/ nhợt nhạt rong chơi/ quyệt ngang dòng nhựa/ dính ngày vào đêm/ ô hay/ nhịp cầu mong lũ…”(Tự nguyện) . Có người bảo thơ trẻ hiện đại là ở chỗ vượt xa các bậc “trưởng lão” một thời. Thơ là để cảm chứ không phải để hiểu. Hiểu toé loe ra thì thành văn xuôi à? Ai bảo thơ không nhân ái, yêu thương? Ai bảo thơ hiện đại chỉ có tắc tị, bất thường? Thì cứ đọc đi, sẽ thấy thơ Phan Huyền Thư cũng “nhân ái”, “hi sinh ” đấy chứ! Tất nhiên là theo kiểu của Thư: “Tôi nhường em phận yêu đương/câu thơ gỡ nút áo/ Tôi nhường chị sáng sớm bên chồng/ cạ mình dịu nách những đêm đông/ cái liếm môi qui hoạch tôi nhường đàn ông…( Tự nguyện).

Hẹp là tình yêu, rộng hơn là rung cảm với đồng loại. Trong bài “Di mộng” Thư đã “hú hồn” đồng bào mình trong thần sắc của kẻ lên đồng. Chỉ có khác (và tiếc thay) cô nhập vai chưa đạt, vì cô kêu gào, hú hồn nhiều quá mà câu chữ ráo hoảnh, cấm thấy một sự xúc động tí tẹo tì teo nào: “Ðồng bào của tôi/ đồng bào dị mộng/ lọt sàng lòng có xuống nia….Ðồng sàng/ mộng sẵn sàng /sợ nia không sẵn/ Ðồng bào của tôi/ tha hương chữ S/ Dị bào đầu tư tình kiến thiết quê/ ba hồn bảy vía/ đồng bào dị mộng / ở đâu thì về/ thì về…(Di mộng). Mặc dầu câu chữ ngổn ngang trùng điệp, song sự nghẹn ngào giả tảng của Thư đã khiến người đọc thấy cô diễn vai gọi hồn trong thơ dở tới mức-gọi hồn đồng bào mình nhiều quá nên hồn mình phiêu dạt. Vì lẽ đó, thay vì cảm xúc với thơ, người đọc lại thấy thương cô hơn. Rõ thân làm tội đời, chứ ai làm cô khổ?

Viết về tình yêu, thơ Phan Huyền Thư không kệch cỡm và gợi dục táo bạo như Vi Thuỳ Linh. Thư đã có cách nhìn về lĩnh vực này trong cảm nhận và chiêm nghiệm của người trong cuộc. Chín chắn hơn, sâu hơn. Hệ thống hơn và phần nào cũng ý tứ hơn. Mặc dầu ở đâu, Thư cũng thành thực đến cạn lòng. Ðó là điểm mạnh của Thư. Thư nhìn hoàng hôn trong cặp mắt định tính của người đa tình, từng trải: “Buổi chiều đi qua mùa hạ/ cái liếc đinh lượng gái quá lứa/ nụ cười da cam loá nắng lời đa tình bông lơn/ Có vẻ không thành thật hơn/Vườn quả trả tiền trước khi chín…(Ngoại ô). Sự sòng phẳng trong cách nhìn này đã khiến cô cảm nhận thế giới tình yêu với những mâu thuẫn, nghiệt ngã. Khi thì Thư bộc lộ sự nuối tiếc:”Em đã gái có chồng/ thơ anh lang thanh internet”, khi thì nỗi buồn thấu ruột nát gan: “Những con ve tâm thần gào xước mặt trưa/ hà đồng tính lang thang/ giấc ngủ bóng đè/ u mê gió” hoặc: “giấc em thánh địa cỏ/ bóng anh đè tim lệch tiết điệu màu…” (Không thường). Mặc dầu câu chữ lộn xộn, thoạt nghe có bóng dáng của sự suy tưởng trong trường chữ nghĩa, song cố gắng hiểu sau những từ “gào xước”,”đồng tính”,” giấc ngủ bóng đè” , “u mê” … người đọc nhận ra cô vẫn tỉnh, vẫn cô đơn độc mã làm cuộc hành trình với cõi yêu của mình. Câu chữ trong thơ Phan Huyền Thư không triết lý vu vơ mà đầy tính hình tượng, đôi khi cảm xúc đã đẩy hình tượng lên quá mức. Ðây là ý đồ thẩm mỹ và cũng là bứt phá dữ dội của Thư. Tiếc rằng Thư đã làm hại nàng thơ của mình, bởi lẽ ra cách phô diễn như thế này ta đã gặp trong phim sex và nhiều người rùng mình vì nó: “Như ngựa non tập phi nước đại/ em hí lên hân hoan trong vũ điệu thảo nguyên/…Một con ngựa điên vì không biết khóc/ đang nín thở nghe tiếng anh tới mênh mang trong nhịp vó đằng lưng” (Ngựa đêm). Mặc dầu trong bài có cỏ, có thông, có sương, có gió… nhưng đọc những câu thơ trên ta e rằng Thư quả là hơn người về sự mạnh dạn, táo bạo.

Hoá thân vào những nàng Thị Mầu thời nay, Phan Huyền Thư dóng dả, da diết: “Này chị em ơi(…) Con này cởi áo quần nhanh lắm/ không phải bạ ai cũng vén miệng tụt lời(…) này chị em ơi/ yêu đương thì phải giữ gìn/Vào sau cửa buồng vần vũ mười lăm phút/ra đường đoan trang cười nói thướt tha/ Yêu không được đánh mất mình/chỉ ăn cắp người ta” (Thị Mầu 97).Tất cả những ai đã xem tích” Thị Mầu lên chùa” nói riêng và vở chèo cổ Quan âm Thị Kính nói chung, đều phải kinh hãi về sự đi quá xa, trong cách phô diễn táo tợn này. Ném cái nhìn nghiệt ngã, rỉa róc vào đời-thêm một lần nữa, Thị Mầu của năm 97 hiện lên xộc xệch, lố lăng, ghê tởm. Câu thơ mang tính khái quát hoá về một lớp người-song người đọc lại thấy rùng mình bởi sự “thạo nghề” với chất làng chơi, vượt qua sự khao khát tình yêu và lẽ sống của Thị Màu thuở trước, vì yêu mà lỡ dở, vì yêu mà bất hạnh. Bàn quá xa về hai tiếng “lẳng lơ” của kiếp Thị Màu như Huyền Thư-theo kiểu Huyền Thư, những câu thơ đã trở nên phản cảm.

Nhiều bài trong tập “Nằm nghiêng” khến người đọc có cảm giác rờn rợn. Xuất phát từ góc nhìn sự vật, con người, việc lặp lại những hình tượng thơ được chi tiết hoá-gần như đặc tả: “đàn bà lắc lư mông/xương chậu hẹp… “…áo lót có đệm mút dầy…” , “…tình yêu vô sinh/nỗi buồn thụ tinh…”, “Cái liếc định lượng gái quá lứa…” , “…Con này cởi áo quần nhanh lắm…/…vén miệng tụt lời…vào sau cửa buồng vần vũ mười lăm phút/ câu thơ gỡ nút áo/ …cái liếm môi qui hoạch… ” thực sự đã phản thẩm mỹ. Ấy là chưa kể ngôn ngữ thơ trong tập cũng là sự thách đố người xem. Ðây là tìm kiếm cho mình một lối đi riêng thì cũng là cách nói nhiều phần bao biện. Thơ hay tạo nên sự độc đáo – chứ không phải là sự lập dị, phức tạp hoá, uốn éo câu chữ. Ði ngược lại tính thẩm mỹ, tính chân thực-không phải là thuộc tính của thơ ca.

Một số ý kiến cho rằng Thơ không cần hiểu, đừng tìm hiểu nghĩa thơ. Thế thì các động vật có thể tru lên những tiếng kêu đồng loại-vẫn là âm thanh, nhưng vô nghĩa. Tất cả những âm thanh ây có thể gọi là thơ? Con đường đến với con tim độc giả là thông qua ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ, nhạc điệu thơ để cuối cùng là có được ý nghĩa thơ ca. Sức mạnh của thơ cũng là ở đặc tính này. Ðó là điều không thể ai phủ nhận.

Huyền Thư đã dày công tìm kiếm cho mình một lối đi riêng. Song công chúng văn học lại thất vọng vì những gì được coi là thơ trong tập thơ. Một số bài viết về con với tấm lòng người mẹ của Thư khá hay. Song, rất tiếc, tỷ lệ ấy không nhiều. Khi cô chuyển sang thái cực khác: Như lĩnh vực tình yêu, tình dục, cuộc sống xã hội, nhịp thơ câu chữ trở nên bất thường…có màu sắc của chủ nghĩa tự nhiên, phóng túng, trần trụi đến hết mình. Với công chúng yêu thơ thực sự, nhất là yêu sự trong trẻo, thuần khiết và sự chân thực, lành mạnh thì tiếc thay Phan Huyền Thư đã làm nhiều người thất vọng.

 
© talawas 2026